Miền quê yên ả...
27/12/2021: * Bút ký của Hồng Giang

 

Minh họa của Quảng Tâm

 

Đi hết dải Cánh Vần, phải qua đèo Khuếch mới lên đến đất Quý Quân. Nơi ngày trước thưa dân và rừng rậm bạt ngàn. Cây chò, cây lát mọc nhiều chỉ thua cây keo ngày nay một chút.

Lên đến đỉnh đèo là nhìn rõ cả một đoạn dài sông Gâm, nước xanh ngăn ngắt. Thấy bờ sông phía bên kia vách đá dựng đứng xam xám một vệt dài gọi là dãy Vách Thành. Nghe nói đầu nguồn có mỏ đồng hay vỉa quặng quý, nước mới có màu lam ngọc trong suốt tận đáy sông.

Chỉ tội mỗi lần qua đèo là người ta rất ngại. Gấu, hổ thi thoảng mới gặp thì chưa nói làm gì. Chỉ gai góc và con đường cheo leo, rậm rạp thôi, người ta đã nản lòng rồi.  Có lúc bất ngờ gặp một con trăn vọt trên đám lá rậm rào rào cũng đủ chết khiếp. Hay con gấu vả lia lịa vào hốc cây để lấy mật ong khiến đàn ong náo loạn. Người cứng bóng vía đến mấy cũng mồ hôi ướt sống lưng...

 Đường là đường rừng, cứ men theo vách đá mà đi, lối chỉ vừa đủ lọt một người, mang theo thứ gì cũng khó.

Lên đến đỉnh bất ngờ gặp phiến đá vuông như xẻ từ núi đá bên kia sông mang sang, rộng hơn chiếc chiếu để nghỉ chân. Nói là từ bên kia sông là vì phía bên này chẳng có tảng đá nào to như thế. Mưa nắng bao đời cùng với dấu chân người, chân thú làm mặt đá nhẵn bóng như mài. Cạnh đấy là một hỏm đá tự nhiên hình cái chậu đại, lưng lửng nước. Chẳng biết bằng cách nào leo lên đây mấy chú cá cờ vằn xanh, vằn đỏ bơi nhanh thoăn thoắt.

Một lần nghỉ chân ở đây tôi hỏi ông cậu tôi rằng: “Làm cách nào mà lưng chừng trời lại có cá mà chẳng thấy dòng nước nào chảy qua? Không nhẽ nó biết bay hả cậu?”. Cậu tôi bảo: “Mày hỏi thế thì bố ai trả lời mày được! Trời sinh ra thì thiếu gì chuyện lạ lùng. Ngay như dưới đất còn có con vật sống được. Muôn hình vạn trạng biết đâu được “cách” của trời. Biết nhiều chóng già chẳng hay đâu cháu à!”. Lý lẽ của cậu tôi vừa thiết thực lại vừa mung lung chẳng theo bài bản nào cả. Người như cậu sau đó bằng cách nào, làm đến chức Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư, thế mới lạ!

Đấy là những lần tôi đòi theo cậu tôi đi lấy củ nâu. Thứ củ mà thời bây giờ nhiều người đã quên không còn nhớ nữa.

Nâu là thứ củ người ta giã ra, hòa với nước, lọc để nhuộm vải, vừa bền mầu, hợp với lối ăn chắc, mặc bền một thủa. Cái thời chưa phải đã quá lâu, mà lại như xa lơ xa lắc như một quá khứ chìm vào lịch sử mờ sương phía Bắc đất nước này. Cái khó, cái khổ nhiều người chóng quên, có nhẽ vì người ta không mong muốn nó. Nó thường nằm trong vùng ký ức không lâu, dễ bị niềm vui, sự mãn nguyện che mờ.

Ông ngoại tôi có nghề làm thuyền nan. Loại thuyền đan toàn bằng tre. Chỉ đến khi cạp thuyền mới dùng dây song, dây mây. Thuyền đan xong đem hun khói mấy ngày đêm liền cho lên nước màu cánh gián để chống mối mọt. Việc cuối cùng là trét bã nâu dây trộn sơn ta để chống thấm nước.

Mỗi con thuyền như vậy có giá ngang với một con trâu mụng. Khách hàng của ông thường là người ở dọc suốt hai bên bờ sông này. Vì dọc hai bên sông chưa chỗ nào có cầu, có phà như bây giờ. Qua lại hai bên sông chủ yếu là bằng những chiếc thuyền nan như vậy. Nói chủ yếu là vì thỉnh thoảng có chỗ người ta vẫn kết nứa thành mảng ngóc qua sông. Loại mảng vừa chở được ít người, bơi qua sông nước xiết rất khó, lại không chắc chắn, an toàn. Chỉ những anh cậy có sức khỏe mà chưa có điều kiện sắm thuyền mới hay dùng đến.

Nghề làm thuyền của ông tôi dễ mà lại khó. Nhìn sơ sơ ai cũng nghĩ mình cũng có thể làm được, nhưng bắt tay vào việc có người theo phải bỏ. Nó không cần dụng cụ, đồ nghề phức tạp gì nhiều, cũng chẳng có khuôn khổ kích cỡ nào nhất định. Chỉ cần cái cưa tay, con dao nan, mấy cái vam tự chế lấy cũng bằng tre là đủ. Đà thuyền cũng do mình tự đào đất lòng máng theo hình thuyền tự chế. Nhưng người thợ phải hình dung, thiết kế nó sẵn trong đầu. Chiều dài, rộng nông sâu kích cỡ thế nào, bắt mũi từ đâu cho thành cái thuyền. Nó phải nhìn ưa mắt, thanh thoát lại đằm mớn, dễ bơi chèo, không thì lật nghiêng, chìm nghỉm như chơi.

Nguy hiểm, nghiêm túc, chứ không phải chuyện đùa.

Đương nhiên thời bấy giờ, công chức còn ít, nhà nước còn bận trăm công ngàn việc, chưa có ai đăng kiểm để cấp chứng chỉ an toàn. Toàn dân còn đang lo đánh giặc, bao nhiêu việc cấp thiết phải lo, chưa có thì giờ để tâm đến ba cái lẻ tẻ này. Cả nước còn đang lo việc quốc gia đại sự: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Việc nhỏ mọn như của ông tôi chẳng ai để ý. Mà xét cho cùng nó cũng không ảnh hưởng đến ai, xem ra còn có lợi trong hoàn cảnh khó khăn thời chiến có phương tiện đi lại.

May mà sự cố ấy với những con thuyền của ông không xảy ra lần nào. Một phần do tính ông ngoại tôi cẩn thận, chắc chắn.

Vật liệu làm thuyền được cái sẵn. Tre mây vùng tôi còn nhiều. Chỉ có mỗi củ nâu là phải đi xa, lên tận Quý Quân này mới có.

Cứ vào độ cuối tháng Mười âm lịch là cậu tôi đã cắt xong lúa nương. Bắt đầu sửa soạn đi lấy nâu về. Lần nào tôi cũng năn nỉ cậu cho theo. Thanh niên trai tráng thời bấy giờ ở làng rất ít. Không vào bộ đội cũng đi thanh niên xung phong, công nhân quốc phòng, chả mấy ai chịu ở nhà. Ai muốn thoát ly ruộng đồng mong chờ một tương lai phía trước mà không hình dung ra nó cụ thể như thế nào? Tương lai là cái gì đó vừa mơ hồ có chút viển vông nhưng lại vừa có ánh hào quang mê hoặc lắm. Không biết đâu mà lần. Tôi chưa đến tuổi, mới là “thanh niên hoi” nên còn ở nhà, chưa tòng quân.

Đường xa ai chả muốn có bạn đi cùng, nhưng tình trạng chung như vậy, rủ thêm người cũng khó. Cậu tôi đành cho tôi theo. Trong bụng cậu muốn lắm nhưng miệng thì cứ ừ hữ không hẳn đồng ý hay không. Có lẽ cậu tôi ngại nhỡ xảy ra chuyện gì thì ai gánh trách nhiệm, nên mới giả tảng nói thế.

Củ nâu có hai loại. Loại nâu củ sẫm màu ra từng chùm, xếp thành đống, trông xa y hệt một tổ mối đùn. Bổ ra nhựa có màu huyết dụ dùng nhuộm vải. Phải công nhận người đầu tiên nghĩ ra lấy nhựa nâu này nhuộm vải là bậc kỳ tài. Vải đã nhuộm thứ nhựa này bền màu cho đến khi vải rách chỉ hơi bạc chứ không bay màu, lại chả cần bất cứ phụ gia hay hóa chất độc hại nào.

Loại thứ hai là nâu dây, mọc chìm dưới đất. Thứ này từa tựa như củ sắn dây. Thoạt đào lên màu trắng nhợt như củ khái. Gặp gió nhựa chuyển màu đen kịt. Loại này giã nhuyễn lấy bã trộn sơn ta trét lên thuyền, bền phải gọi bằng cụ! Lâu ngày nan thuyền có mục mà lớp sơn vẫn mịn, vẫn quyện như lúc ban đầu.

Dù là loại nào, dây nâu cũng gai chằng chịt không ngon ăn. Chúng thường mọc nơi đất ẩm, có nhiều cây móc, cây mắc hùm. Xen giữa những bụi cây gai nhọn như mũi kim, quấn chằng chịt. Chả lần nào chúng tôi không bị gai cào rách cả chân tay. Áo quần thì bê bết nhựa cây đủ các loại. Gian nan thì vô chừng kể, nhưng mà vui.

Có hôm còn nhặt được cả nón nấm rừng về nấu canh, ngọt hơn mì chính cánh thời bấy giờ. Cuối năm là lúc ếch làm mà. Người chưa trải qua sự trèo non, xuống bể có khi chẳng ai tin trên rừng lại có ếch. Những chú ếch lưng đen xậm, to hơn ếch ruộng, nằm thu lu trong hốc đá, dưới đám lá mục. Các chú ngủ say mê mệt, chưa biết đang xảy ra tai họa với mình. Chỉ đến khi chúng tôi tóm được, buộc dây vào lưng, chúng mới hoảng hồn giãy giụa. Con nào con nấy bụng vàng ươm, to bằng bàn tay úp. Ếch này mà đảo với chuối xanh thì thôi rồi, “quên cả đường về quê mẹ” luôn!

Nhưng mục đích chính của chuyến đi nói thì nói vậy, không phải là mấy thứ như thế. Chủ yếu kiếm nâu. Mà nâu cũng “ưu tiên” loại nâu dây hơn. Cậu cháu tôi tìm loại này là chính, về cho ông tôi trét thuyền. Nhưng gặp nâu củ vẫn lấy, nói theo kiểu bây giờ vẫn “ô kê con gà mê”. Lâu lâu có chuyến đò dọc về tỉnh vẫn có khách ăn hàng loại này mang về xuôi. Chỉ không có mà bán chứ không sợ thừa, sợ ế!

Mỗi chuyến đi như thế là cả một chuỗi hành trình gian nan. Nhà ông ngoại tôi có ngựa, nhưng ngựa không đi được con đường này. Tất cả chỉ trông vào đôi chân, vạch lá băng rừng mà đi.

 Nhà tôi còn nghèo. Đói thì đầu gối phải bò, ngại cũng chẳng được, vì nhà tôi đông anh em, cũng đang thiếu ăn như nhiều nhà trong vùng. Theo cậu vất vả dăm ba ngày nhưng có món tiền cho mẹ tôi đong gạo, mua sách vở cho các em. Mà cũng phải năn nỉ mãi cậu tôi mới cho đi. Đường rừng bấy giờ ra khỏi nhà là rất nhiều nan giải, nhất là lúc băng đèo. Chỉ sơ ý một tý tuột tay khi qua đèo Khuếch là lăn xuống vực. Chân dò dẫm men theo vách đá thẳng tuột, tay bám vào đám rễ cây hay cành cây trước mặt. Bất cứ lúc nào cũng có thể bắt gặp con rắn lục xanh lè đang đu đưa trước mặt hay đám kiến càng đen, to như hạt thóc nếp bám vào chân, tay cắn đau, nhức đến đỉnh ót.

Nếu bây giờ tôi kể hết, hẳn nhiều người không tin và không thể hình dung ra được nó gian nan như thế nào.

Đường qua đèo vừa chênh vênh vừa hiểm trở. Có chỗ, có lúc phải đánh đu cành cây mới qua được khe sâu, mà cầu chỉ là cây gỗ nhỏ lâu ngày hình như đã mục, có thể gãy bất cứ lúc nào.

Được mỗi cái may, cậu tôi có người quen nên tới đất này cũng đỡ cực một phần. Nếu không còn phải uống nước suối, ngủ rừng chưa biết chừng gian nan đến thế nào. Mà thời ấy, muỗi vắt nhiều vô kể, đâu có quang đãng, sáng sủa như bây giờ?

Nhà ông Khó là chỗ quen thân như thế.

Ông làm nghề đò ngang ở khúc sông này. Nhà chỉ có hai bố con, vợ ông mất sớm. Bà qua đời vì bị sốt rét ác tính. Thứ bệnh lúc bấy giờ còn là bệnh nan y. Bao nhiêu lá ký ninh, rồi cúng bái mãi cũng không qua khỏi.

Ông ở vậy, gà sống nuôi con.

Chính ông ngoại tôi đã bán trả góp cho ông chiếc thuyền nan nên hai nhà biết nhau, đi lại từ đấy thành chỗ thân tình. Chúng tôi có thêm chỗ đi lại, làm ăn.

Cậu cháu tôi rời nhà từ sáng tinh sương, đến quá trưa mới lên tới nhà ông, cơm trưa ở đấy. Đến chiều mới vào rừng lấy nâu.

Con ông Khó tên là Khỏe trạc tuổi tôi. Tên là Khỏe mà trông anh lẻo khẻo, trán thì thấp, tướng lộ hầu, lông mày lưa thưa chả có gì nét đặc biệt. “Tướng này sau có khi khó lấy vợ”, tôi nghĩ thế mà không dám nói ra miệng. Bù lại, Khỏe nhanh nhẹn và nhiệt tình. Mỗi lần cậu cháu tôi lên là anh cứ đòi theo bằng được để phụ giúp lấy nâu. Cậu tôi ngại. “Ai lại người ta đã cho nhờ chỗ ăn, chỗ ở lại đi “bóc” sức người ta?”. Cậu tôi bảo thế và tìm cách từ chối khéo, nhưng không được. Cuối cùng vẫn phải để anh theo.

Nhà Khỏe neo người. Tuy đất rộng như da giời nhưng vẫn thiếu ăn vì không có người làm. Một năm có mỗi vụ làm nương, một mình làm lấy đâu ra thừa? Vườn rậm um, chả trồng cây gì nên hồn để có thu nhập. Ông bố bị suyễn, ngoài việc chèo đò chẳng làm thêm được việc gì. Một mình Khỏe làm miếng nương hoen hoẻn sau nhà nên thu cũng chẳng bao nhiêu. Làm nương một mình, những bờ cùng bụi, chim chuột phá có thu cũng không đáng kể. Con đò của ông bố ít khách vì vùng này thưa người, người ta đi lại ít, chỉ thêm thắt tiền muối mắm, tiêu vặt.

Ở rừng, cây gỗ bạt ngàn mà hai bố con vẫn ở nhà cột ngoãm, lợp gianh không được khang trang đàng hoàng như người ta.

Có gỗ thì có gỗ, không có sức người đốn gỗ, cưa xẻ mang về thì gỗ vẫn ở trong rừng. Còn công thợ mộc làm nhà lấy gì để trả?

Thợ mộc chả ai chịu làm để chủ nhà trả góp như ông ngoại tôi bán thuyền cho nhà anh. Nên hai bố con vẫn cứ nhà tạm như vậy mà ở.

Cứ ngỡ hoàn cảnh như vậy chắc anh buồn lắm. Nhưng tôi nhầm. Con người anh chả biết buồn là gì. Lam làm luôn tay, lúc nào rảnh anh lấy sáo ra ngồi mom đá đầu nhà thổi véo von. Dù rằng biết mình thổi, mình lại nghe như người ta nói: “Đường vắng câu hát hay”, anh biết thế nhưng mặc kệ. Ai nghe thì nghe, không ai nghe cũng chẳng sao, mình thấy vui là được rồi!

Chúng tôi vào rừng, chỗ nào có củ nâu Khỏe biết, nên tìm không mất công mấy. Sẩm tối, chúng tôi đã có cả một đống củ nâu. Khỏe chặt cây làm cái xe cáng (loại xe này không có bánh, chỉ để trượt trên mặt đất). Được bao nhiêu chúng tôi chất cả lên xe, buộc dây thay nhau dùng vai kéo về.

Một hai ngày, nâu chất thành đống đủ chuyến để về xếp trước cửa nhà anh Khỏe. Nếu ngoài sông không có lũ, cậu cháu tôi sẽ chặt nứa, kết mảng xuôi về. Gay nhất là những hôm bão về đột ngột dòng nước chảy xiết thì phải gánh bộ. Thôi thì hết biết, kể sao cho xiết  như câu ca: “Thứ nhất thì mồ côi cha/thứ nhì gánh bộ thứ ba sơn tràng”!

Với ai không biết, với tôi những năm tháng ấy hằn sâu trong ký ức, chẳng thể nào quên!

* *

Nhoằng cái, đã bao năm tháng trôi qua. Bây giờ đã là năm thứ hai mươi mốt của thế kỷ mới rồi.

Dòng sông Gâm vẫn còn đấy, đôi bờ còn đây, nhưng là khung cảnh khác.

Con đèo Khuếch ngày nào tôi chưa kịp tìm hiểu lý do vì sao nó có tên như vậy nó đã không còn nữa. Nó hầu như biến mất chả để lại dấu tích gì.

Qua đó là con đường nhựa trải áp phan phẳng lỳ cho hai làn xe chạy. Từ đây có thể liền một mạch lên tới Đầm Hồng, sang Bắc Kạn. Nếu muốn người ta có thể lên thẳng tận hang Pắc Bó Cao Bằng.

Trùng trùng cột điện cao thế nối ba nhà máy thủy điện Nà Hang, Chiêm Hóa, Hạng Bọt dọc theo sông. Điểm thủy điện cuối chính là nơi ngày trước tôi đi với người cậu hái nâu, xã Quý Quân này.

Hai bên đường không còn rừng thẳm, quanh năm mây phủ, rậm rạp năm nào, san sát nhà cao tầng như ngoài thành phố.

Có những căn như biệt thự phải người có bạc tỷ mới xây được. Thấp thoáng sau ga ra, nhiều nhà có xe riêng, bốn chỗ, bảy chỗ đủ loại.

Như đi lạc vào địa phương khác chứ không phải quê hương nghèo nàn, đói khổ năm nào. Chỉ có điều rừng xưa hoang vắng không còn. Củ nâu cũng gần như mất giống, không tìm thấy nữa. Trên sông vắng biệt những chiếc thuyền gắn máy ngược xuôi vì bây giờ có đường nhựa, người ta vận chuyển, đi lại tiện hơn. Thuyền nan cũng không ai dùng tới nữa. Ông ngoại tôi đã về trời. Nếu ông còn sống chắc cũng không có việc để làm. Đi từ quê ra tỉnh, từ Bắc vào Nam, hỏi có còn ai mặc áo nâu? Ngoại trừ các vị sư sãi. Mà có nâu sồng chăng nữa cũng bằng lụa, bằng vóc chứ không phải vải chúc bâu nâu nhuộm như xưa! Củ nâu nếu còn cũng chẳng để làm gì, khi người ta không dùng để nhuộm vải, hay trét thuyền! Không biết sau này công nghệ mới người ta có dùng nó làm nguyên liệu cho mặt hàng mới nào không. Còn bây giờ nếu còn cũng chẳng dùng vào việc gì, mà ăn thì không được. Ngay cả những năm đói như năm Ất Dậu, người ta ăn bất cứ thứ gì ăn được cốt sống người cũng chưa nghe nói có ai ăn thứ củ này!

Buồn một nỗi rừng xưa không còn được như trước. Áp lực dân số đã làm nó thu hẹp lại nhiều, có nguy cơ biến mất nếu như không có quy hoạch lâu dài. Nhiều con suối đã không còn nước. Các mỏ nước tự nhiên chảy bên đường chỉ còn trong trí nhớ tuổi thơ tôi.

Ông bạn Khỏe của tôi cũng thôi thổi sáo. Không phải anh chán nó mà vì quá bận. Khu vườn cỏ gianh sau nhà bây giờ trồng bưởi trồng cam, không để hoang nữa. Trang trại của anh giờ rộng hàng mẫu ta, cây nhiều không đếm xuể. Suốt ngày anh quanh quẩn ngoài vườn chăm cây, chăm quả, rất ít thời gian rảnh rỗi. Công việc khi được thu nhập cao, ai chẳng ham? Chả cứ anh, ai trong xã này cũng vậy. Từ ngày trồng bưởi, trồng cam người ta nói đùa như bị “ma làm”, suốt ngày chết mê chết mệt ngoài vườn. Chỉ khi có khách mới vào nhà tiếp khách.

Những người xa quê lâu ngày chắc chắn sẽ không nhận ra khung cảnh quê mình thời hiện tại. Những túp nhà lụp xụp năm nào nằm trơ vơ trên bãi cỏ gianh như có phép màu đã biến thành khu dân cư sáng sủa, sang trọng. Từ con đường đi đổ bê tông, những cổng đúc cầu kỳ đến nhà cao hai ba tầng từng dãy như dãy phố ngoài tỉnh lỵ. Điện lưới quốc gia đã phủ khắp vùng, tối đến điện sáng lung linh. Đường thôn mà đêm đã có đèn chiếu sáng suốt đêm không còn là chuyện lạ. Mỗi nhà chỉ cần góp non triệu là đủ tiền điện thắp đèn đường sáng choang cả năm.

Lâu ngày không gặp, đến khi gặp lại tôi suýt nữa không nhạn ra anh. Anh cứ như con người khác. Nếu không có hàm răng lộ thiên, rất đặc trưng thì đến chịu. Cái hầu lộ không rõ biến đi đâu không rõ? Trước mặt tôi là ông chủ nhà đậm người, mặc  com-lê, đi giày da chả kém gì các “vip” ngoài thành phố.

Căn nhà của anh phải gọi là biệt thự mới đúng. Nội thất toàn đồ đắt tiền, ti vi tủ lạnh không thiếu, còn cả điều hòa hai chiều đời mới như người ta bố trí ngoài khách sạn nhiều sao.

Từng có lúc, tôi nghĩ con người hoàn cảnh của anh có khi khó khăn chuyện nhân duyên. Thời nào đa phần người ta chả “trọng phú khinh bần” và rất ưa hình thức? Đã nghèo lại không đẹp trai lấy vợ đâu có dễ?

Nếu cuộc sống không thay đổi, với Khỏe đó như là lẽ đương nhiên.

Khi vào nhà tôi mới biết mình lầm, mới thực sự ngỡ ngàng. Chị đẹp “kinh khủng” luôn, như thằng bạn đi cùng tôi ghé tai thì thầm với tôi như vậy!

Hỏi ra mới biết, chị là cô giáo cắm bản vùng thượng huyện. Ngày chưa có đường mỗi lần về nhà ở dưới thị xã đều đi bằng mảng, khi lên phải cuốc bộ gần hết cả ngày. Một lần gặp lũ cuốn, mảng bị lật mà chị lại không biết bơi. Chính Khỏe là người cứu chị đưa lên bờ, anh chị quen nhau từ đấy rồi nên duyên vợ chồng. Cô giáo mà lấy anh cổ cày vai bừa là chuyện nghe không thuận cho lắm, nhưng lại là sự thật. Mà chả cứ chị, nhiều cô vì đường đi lối lại hồi ấy khó khăn, quá lứa, lỡ thì lấy trai bản không phải hiếm. Hàng năm mới gặp được khách lạ ngang qua thì các cô giáo có bao nhiêu cơ hội gặp gỡ để thành nhân duyên?

Khỏe thật thà:

- Giá mà đường xá tiện lợi như bây giờ dễ gì mình lấy được cô ấy? Người ta lấy chồng ngoài tỉnh chứ đâu chịu lấy người thôn bản như mình?

Chị vợ đỏ mặt:

- Sao cứ nói đổ đi thế. Vợ chồng nó là cái duyên cái số. May thì được chứ chọn sao được. Khối người kén chọn mãi mà sau chẳng nên đấy!

Tôi nghe chả biết phụ họa thêm gì, chỉ thấy mừng cho bạn.

Người ta bảo: “Đất có tuần, nhân có vận”. Từ ngày trồng bưởi đất này bao nhiêu sự đổi thay. Nói gì thì nói, có thực mới vực được đạo. Mỗi năm nhà nào cũng thu bạc trăm thì sự đổi thay có gì là khó hiểu?

Chúng tôi nhớ lại ngày cùng đi lấy củ nâu, bắt ếch năm nào. Chuyện đi chuyện về đến chuyện cô vít, cô veo. Dịch bệnh đang hoành hành ở nhiều vùng trong nước, nhưng ở đây vẫn yên bình.

Khỏe bảo:

- Cũng chẳng biết thế nào, không chủ

quan được...

Anh làm trưởng thôn nên vừa đi tập huấn mấy ngày dưới huyện về phổ biến cho dân làng cách phòng chống dịch.

Cái anh lo bây giờ là vụ thu hoạch bưởi sắp tới. Nếu tình trạng phong tỏa kéo dài không biết vụ bưởi năm nay sẽ giải quyết thế nào? Thương lái không lên, bà con biết bán cho ai? Bưởi là thứ quả để được tương đối lâu, nhưng vẫn rất cần bán không để qua năm được. Nhà nào cũng hàng vạn quả, bán lẻ biết đến khi nào mới hết?

Con người ta sống mỗi ngày là mỗi làm, mỗi lo. Chẳng khi nào hết lo nghĩ cả.

Trầm ngâm một hồi, anh nói như nhà hiền triết:

- Dịch bệnh dù tàn khốc đến đâu rồi cũng chấm dứt như là cơn bão đi qua. Nó đột ngột đến rồi sẽ đột ngột rời đi không biết lúc nào. Ban đầu nhiều người cũng hoang mang, lo sợ. Tin tức thì mỗi ngày nghe mỗi kinh hãi. Tôi phải giải thích để mọi người yên tâm. Mình nói có lý người ta mới nghe. Tôi bảo dịch bệnh đâu phải bây giờ mới có? Rồi nó cũng sẽ qua. Chẳng từng có dịch sởi, dịch sốt rét, dịch thương hàn rồi HIV... Cuối cùng người ta cũng tìm ra thuốc để ngăn chặn và dập tắt nó. Miễn sao mọi người có ý thức giữ gìn là được.

Bạn tôi, cái anh chàng Khỏe từng cùng nhau đi lấy củ nâu, ngờ nghệch năm nào giờ tỏ ra thạo đời ra phết. Nhìn lên tường nhà chỗ góc nhà tôi phát hiện ra đèn Wi-Fi nháy nháy.

Thì ra thế giới phẳng đã xóa đi nhiều khoảng cách. Nơi này có khác ngoài thành phố là bao? Những thông tin hiểu biết mà tôi có được chưa chắc đã bằng anh chàng Khỏe này. Xe chúng tôi quay đầu để về thành phố. Lướt qua Nhà máy thủy điện một hồi rồi qua đèo Khuếch.

Con đèo chỉ còn trong ký ức về một miền quê thương mến, yên bình...

H.G