BÊN DÒNG SÔNG GÂM. BÚT KÝ DỰ THI CỦA HỒNG GIANG
Thứ 5, ngày 21 tháng 5 năm 2020 - 9:17

Kỹ sư Lương Việt Hùng ngày trước làm ở đoàn khảo sát sông Gâm. Đội của anh có chuyến đi biệt phái, dài ngày, chuẩn bị cho công trình thủy điện Na Hang, sau này là thủy điện Tuyên Quang thế kỷ trước. Một công trình đứng thứ tư cả nước, chỉ sau thủy điện Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình.

Công trình khởi công năm 2002, tới năm 2007 thì hoàn thành. Nhưng công việc khảo sát, đo đạc thì được tiến hành từ nhiều năm. Một dấu gạch nối đầy ý nghĩa giữa hai thiên niên kỷ. Nó vừa phòng chống lũ lụt cho thành phố Tuyên Quang, vừa giảm lũ cho đồng bằng sông Hồng vào mùa lũ, lại tạo nguồn cấp nước mùa kiệt cho châu thổ sông Hồng. Đó cũng là thời kỳ đầu công cuộc đổi mới, mang lại diện mạo, thay đổi vượt bậc của tỉnh nhà về mọi mặt.

Đoàn khảo sát lúc đầu được cấp hai con ngựa. Đồ lề nặng nhọc được xếp lên lưng ngựa. Những thứ vặt vãnh, đồ dùng cá nhân thì bỏ vào ba lô, của ai người nấy mang trên vai. Lương thực thực phẩm chất cả lên chiếc thuyền nan nhỏ có gắn máy chân vịt như kiểu thuyền câu tôm của dân vạn chài. Cả tuần mới có một chuyến thuyền như thế chạy từ dưới tỉnh ngược lên, chở nhu yếu phẩm hay thiết bị bổ sung gì đấy cho đoàn. Tàu Tự Lực chở khách chỉ lên được bến cuối trên thượng nguồn mùa nước to. Chả chờ mong gì nhiều ở nó, vì chạy chuyến rất thất thường. Ngay chiếc thuyền riêng của đoàn cũng chỉ là mượn tạm của Trạm thủy

văn tỉnh.

Các thứ khác thì vào dân nhờ cậy. Tiếng là bỏ tiền ra mua, nhưng nhiều khi bà con không lấy tiền. Có lấy cũng rẻ, như cho, dù bà con ở đây hồi đó còn nghèo. Mãi thời gian sau, đoàn mới được cấp một thuyền gỗ nhỏ. Tất cả máy móc, thiết bị xếp cả vào khoang thuyền. Mọi người vẫn ăn ngủ luôn trên đó hàng năm trời. Thuyền chật, ưu tiên để các thứ cần thiết, gạo nước, rau cỏ. Đồ dùng sinh hoạt khác thì được ứng tiền trước, tới đâu vào nhà dân mua tới đó. Dựng lều bạt ăn ngủ ngay ven sông. Đúng như câu ca: “Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường” như người ta hay ví von.

Trước hôm đoàn lên đường, Hùng ghé nhà ông bác họ lên Tuyên lập nghiệp đã lâu, chào từ biệt. Anh nghĩ chuyến đi này có thể còn lâu mới về. Bác anh ngày trước làm nghề vạn chài trên dòng sông này. Ông bảo ông từng đi lên, đi xuống từ thượng nguồn về hạ nguồn không biết bao nhiêu lần. Ông thuộc ghềnh thác của con sông như thuộc đường chỉ bàn tay. Bác anh nói: “Con sông này đẹp và lạ lắm. Tất cả, tính sơ sơ có một trăm bảy mươi ba thác ghềnh. Cứ nhắm mắt lại, cũng nhớ ra cảnh vật từng chỗ như thế nào...”. Bác anh làm nghề đánh cá nhưng ông sống tâm hồn lắm. Ông có một bài thơ dài, có thể gọi là “trường ca” về con sông này. Về già, ông mở một quán phở bên bờ sông ở phía hạ nguồn ven đô thị, không muốn về quê. Ông nói không muốn xa con sông gắn bó với ông lâu gần cả

đời người...

Ông đưa cho anh tập bản thảo, bảo: “Cháu mang theo đọc và đối chiếu với những điều ta viết, thấy có chỗ nào chưa đủ, hoặc sai thì bổ sung thêm vào. Dễ gì có được chuyến đi nghiên cứu tỉ mỉ,

lâu dài như chuyến đi này

của cháu?”.

Thú thực, thơ phú anh khả năng còn hạn chế. Nhưng từ chối ý tốt của một ông già là điều không nên, nhất là đó lại là điều ông nâng niu, gìn giữ trong lòng.

Anh để tập giấy viết tay của ông bác trong xà cột. Thỉnh thoảng lại mang ra đọc và thấy hay hay. Không ngờ một ông già dáng người nhỏ nhắn, chả có gì đặc biệt lại có cái nhìn cảm động, tinh tế về con người và dòng sông như thế. Tỉ dụ: “Không sông rừng sẽ ra sao?/Không nước cây biết cách nào lớn lên”. Đọc mà cứ thấy nôn nao cả người! Tự dưng anh thành người hay tư lự từ lúc nào không hay. Có lẽ ý định sáng tác văn học sau này của anh bắt đầu từ đó. Sau này anh thành hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Từ một kỹ sư mỏ địa chất trở thành nhà văn khởi nguồn một phần từ những ấn tượng này mà có.

Một buổi tối, đang lúc anh đang nghĩ vơ vẩn khi ngắm sao trời ngoài mũi thuyền, thì đội trưởng gọi vào.

- Mấy ngày trước mưa to, có lũ lớn. Thuyền tiếp tế nhu yếu phẩm cho đội không lên được. Gạo chỉ còn bữa trưa mai, tối mai chưa biết ăn đâu?

- Cậu vào làng xem nhà nào có gạo, nói khó với họ bớt cho một ít.            

Trời đang mưa to, anh vội lấy mũ áo khoác vào rồi lên bờ, dù chưa biết tìm gạo ở đâu. Nhìn mưa gió mịt mùng, mặt sông nước lũ đang chảy băng băng mà ngại ngùng. Còn đang tìm đường vào làng anh gặp một ông già mặc bộ quần áo bộ đội cũ, nom như người đằng xuôi. Ông hỏi anh mưa gió thế này mà đi đâu? Giọng lơ lớ, nằng nặng tiếng Nùng vùng Cao Bằng của ông làm anh thấy hơi là lạ vì vùng này phần nhiều là người Dao Thanh Y. Còn là người Tày, người Nùng thì hơi hiếm.

Vào nhà mới biết ông người Nùng gốc Cao Bằng. Thời trước năm bốn nhăm ông là lính khố xanh đóng đồn bên trấn Hàm Yên. Công việc hàng ngày của ông là đánh chiếc xe ngựa chở nước từ dưới sông lên đồn đóng trên đỉnh đồi gần thị trấn. Sau rồi có người của tổ chức bắt liên lạc, ông theo cách mạng. Có thời gian ông làm công tác bảo vệ cơ quan trung ương ở Tân Trào. Ông tham gia chiến dịch Điện Biên, phục viên rồi về đây, lấy vợ là người ở vùng này. Bà ấy đi dân công phục vụ mặt trận, nhờ thế mà hai người gặp nhau... Ông nhận chân xã đội trưởng xã này, công tác mấy chục năm, mới nghỉ hưu. Giờ nghỉ nhà làm vườn, coi nơi này là quê hương thứ hai.

Ông già ấy là Mã Tiến Đạt, người thôn Soi Hà, một thôn sau này nổi tiếng có giống bưởi đường ngon, có thương hiệu, đang được ưa chuộng trên thị trường.

Hai ông bà già không có con ở với người cháu họ của bà tên là Khỏe. Nghe anh trình bày xong, ông không nói gì, không biết ông có đồng ý hay không? Chỉ thấy ông bắc thang trèo lên gác mái, gọi anh cháu đón lấy những cum lúa nương xếp vào góc nhà. Đây là giống lúa trồng trên nương cao, có cái râu dài mầu tim tím ở cuối hạt. Giống lúa này khi giã gạo mất công hơn, lâu hơn các thứ lúa khác, nhưng ăn rất ngon. Nó thơm và để đến hôm sau vẫn dẻo như vừa mới nấu. Hồi đó cả vùng này chưa có máy xay xát. Muốn có gạo ăn người ta phải giã bằng tay. Hì hục cả buổi mới được mấy cân gạo.

Anh Khỏe mang những cum lúa ra đầu nhà, ở đó có cái cối gỗ để giã. Anh Hùng ra theo, Khỏe bảo anh cứ ở trong nhà, nói chuyện với ông cụ: “Ở đây thèm khách lắm. Chả mấy khi có người đến chơi, anh cứ vào nói chuyện cho bác em vui”. Đời anh làm công việc khảo sát công trình, đi đây đi đó cũng nhiều, nhưng chưa thấy ở đâu quý người, “thèm người” như ở nơi đây. Ông Mã hỏi sao công trình xây mãi trên Na Hang mà lại khảo sát tận dưới này?

Đây là câu chuyện dài, liên quan đến phạm trù kỹ thuật, có nói cả ngày cũng không hết. Thông số kỹ thuật người già như ông có nghe nói, cũng không dễ hiểu. Anh chỉ vắn tắt: “Công trình sau này sẽ liên quan nhiều đến môi trường sinh thái, dòng chảy tự nhiên của dòng sông. Việc nắm số liệu về cấu tạo địa chất, lưu lượng nước hàng năm rất quan trọng. Nó sẽ ảnh hưởng tốt hay xấu đến cuộc sống sau này của người dân trong vùng nên nhà nước rất chú trọng. Đội chúng cháu phải thăm dò, đo đạc từ thượng nguồn về hạ lưu, sau đó công trình mới được tiến hành”. Để ra khỏi mớ bòng bong các thuật ngữ trong câu chuyện của mình, anh hỏi ông cụ Mã để lái sang chuyện khác:

- Bác ở đây lâu chắc bác biết, sao huyện mình lại có tên là huyện Yên Sơn?

- Ngày trước vùng này thuộc phủ Hàm Yên. Sau này giải phóng mới đổi ra tên gọi bây giờ. Nghe thấy người ta bảo vùng này được bao bọc bởi vòng cung núi Lô - Gâm, nên bão lụt ở đây đỡ hơn, không dữ như các vùng khác. Bao năm loạn lạc vùng này cũng ít bị ảnh hưởng nặng nên mới lấy tên như thế. Yên Sơn là vùng núi yên ổn mà! Vùng này đất tốt, khí hậu ôn hòa. Nhưng đấy là so với vùng khác. Còn cũng có năm có lũ, dân làng lo chạy lũ khổ cực lắm. Nếu công trình hoàn thành được như cháu nói thì dân làng mừng lắm. Không còn lo chuyện nửa đêm nước lũ đột ngột đổ về, sớm hôm sau nhìn hoa màu, nhà cửa trôi cả xuống sông cuốn đi vùn vụt mà không cách nào ngăn lại được...”. Ông nói giọng bùi ngùi, y như thể những trận thiên tai vừa mới đây thôi, còn ám ảnh.

Anh Hùng từng biết khi quy hoạch vùng kinh tế trước đây, vùng này là vùng kinh tế A1 rất có tiềm năng. Nhưng câu chuyện sâu hơn như thế về vùng đất này của cụ Mã anh mới nghe lần đầu. Cụ còn kể vùng này người xưa định xây kinh thành, sau này không rõ lý do gì đó, lại chuyển về thị xã, thành phố Tuyên Quang bây giờ. Vì thế còn có tên là Sơn Đô.

Mãi đến gần trưa Khỏe mới xong số gạo cho anh mang về đội. Đến bấy giờ ông Mã mới nói đây là số lúa giống ông để cho vụ sau. Nhà lúa ăn không còn nhiều, nên mới phải lấy thêm lúa giống ra giã mới đủ. Anh nghe xong thấy áy náy quá. Ông lại bảo không sao, ông sẽ bớt ở trong làng mỗi nhà một ít để làm giống, vẫn được mà. Ngày học ở trường, được học môn chính trị về “mối liên kết công nông liên minh”. Học xong biết vậy. Đến lúc này anh mới thấy thấm thía nó là như thế nào. Những năm làm ở thủy điện Tuyên Quang với anh có nhiều câu chuyện trở thành kỷ niệm. Nhưng lần đi vào làng kiếm gạo năm ấy là câu chuyện anh nhớ mãi đến sau này... Đúng là: “Bỏ thóc giống ra mà ăn”, chỉ những người như ông cụ Mã ngày ấy mới có.

Anh Lương Việt Hùng, cựu kỹ sư tham gia công trình thủy điện năm nào giờ đã nghỉ hưu. Thoáng chốc, đã gần hai chục năm. Vợ chồng anh đã chuyển về Hà Nội sống với con. Nhớ “miền gái đẹp”, lâu lâu lại lên Tuyên Quang. Lần nào lên anh cũng rủ tôi, người ghi lại câu chuyện này, lên Soi Hà.

Ông cụ Mã Tiến Đạt khuất núi đã cả chục năm. Anh cứ ân hận nhiều lần định đi thăm cụ nhưng bận công việc, không lên thăm được lúc cụ còn sống.

Trên nền đất cũ bây giờ là ngôi nhà xây theo kiểu biệt thự của anh Khỏe, người cháu của cụ. Ngôi nhà theo thời giá hiện tại cả bạc tỷ chứ không ít. Không riêng nhà anh, người Dao Thanh Y bây giờ nhà cao tầng san sát như ở phố. Điện lưới quốc gia đã phủ khắp toàn vùng. Những cối giã gạo bằng tay không ai dùng đến nữa. Nếu muốn nhìn thấy nó phải về phòng trưng bày Bảo tàng tỉnh mới thấy. Nhiều nhà có xe tải, xe bốn chỗ. Đời sống khá lên rất nhiều là nhờ không còn lũ lụt. Kinh tế phát triển chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp, thay đổi cây trồng, vật nuôi. Cây bưởi giờ đây là cây chủ lực mang lại nguồn lợi chính của cả vùng...

Anh nói với tôi cảnh vật bây giờ thay đổi một trời một vực. Nơi này dân làng xưa kia nghèo lắm. Nhà ở của đồng bào toàn cột ngoãm, lợp tranh, vách đan bằng nứa. Nhà nào khá hơn một chút mới lợp lá cọ. Còn đường, đâu có được như bây giờ? Từ thành phố lên đây toàn đường nhựa. Con đường ven sông Gâm năm nào giờ đã là QL 2C. Từ đây đi có thể thông lên khu du lịch sinh thái vùng hồ Na Hang, lên mãi Bắc Kạn rồi sang Cao Bằng.

Biết anh từ ngày về nghỉ hưu có tham gia viết lách. Tôi nghĩ anh đang có cả một kho tư liệu quý, tầng trầm tích phong phú cho công việc viết lách của mình. Cho đề tài viết về mảnh đất và con người Tuyên Quang trên đường dựng xây quê hương ấm no, hạnh phúc!

H.G

 

Lượt xem:75 Bản in

Tin mới nhất









Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
49

Lượt truy cập: