ĐI TÌM MỘT “NGÀY KHÔNG TÊN” TRONG THƠ VƯƠNG HUYỀN NHUNG. PHẠM THUYẾT
Thứ 6, ngày 20 tháng 12 năm 2019 - 9:40

Biết đến Vương Huyền Nhung là biết đến một tác giả trẻ trên văn đàn thơ xứ Tuyên.

Cô sinh ra và lớn lên ở Thái Nguyên. Song nơi cô sinh sống và lập nghiệp lại chính là nơi quê hương cách mạng Sơn Dương, Tuyên Quang anh hùng.

Tiếp xúc với tác giả trong cuộc sống thường ngày thật không thể nghĩ đằng sau cái điệu bộ chân mộc giản đơn, hay nói, hay cười lại ẩn sâu một tâm hồn đa cảm.

Có lúc tôi trộm so sánh giữa thơ và cuộc sống đâu mới là con người thực của tác giả trẻ này. Cách nói chuyện gần gũi, nhẹ nhàng pha chút dí dỏm. Nhưng với thơ cô dường như trở thành một con người hoàn toàn khác. Chững chạc, sâu lắng mà thấm đẫm tình đời, tình người. Thật khó hình dung một cô gái trẻ lại có cái nhìn đa chiều mà không phiến diện:

“Giữa những dãy nhà cao tầng

và thấp tầng

Véo von tiếng chim

Chúng cất lên từ đâu nhỉ

Tầng thượng khu chung cư

Hay một góc khuất nào đó

Dẫn dụ mê hoặc”

Trong bộn bề của thành phố, giữa những ồn ào và khói bụi. Cô vẫn bị hấp dẫn, mê hoặc bởi tiếng chim hót. “Chúng cất lên từ đâu nhỉ?” Sự tò mò ấy được tác giả khám phá ra tại một căn hộ có chiếc cửa sổ. Và một sự bất ngờ hơn là tiếng chim trong trẻo cô tìm kiếm ấy lại được phát ra từ chiếc điện thoại chứ không phải như suy đoán ban đầu của cô.

“Từ chiếc smartphone tiếng chim vẫn cất lên trong trẻo” (Tiếng chim hót trong thành phố)

Một lối dẫn ý rất mới mẻ táo bạo, tạo cho độc giả tò mò đến vỡ òa.

Hay một Vương Huyền Nhung với triết lý nhân sinh.

“Ta buôn giữa chốn chợ đời

Đong năm đếm tháng kiếm lời lộc chi

Quẩy từ thơ dại quẩy đi

Đầy mưa hụt nắng lại khi gió mòn...

...

Nửa đời chợt ngộ cơn mê

Áo cơm đãi kẻ biết quê tìm đường”

                                      (Nửa đời)

Một sự từng trải của con người bôn ba trong cuộc sống, nhận ra được giá trị hiếu nghĩa với nơi mình đã sinh ra.

Đến với Tam Đảo. Trước núi non hữu tình cho một bài thơ mỹ ý thì Vương Huyền Nhung chỉ thấy gió và sương mù. Tâm hồn đa cảm vấp ngay phải nỗi cô đơn giữa bạt ngàn rừng trúc. “Rừng trúc thâm u, lẫn một em vào đó” lại một cách đảo từ rất lạ, rất mới. Tại sao lại không phải “một mình em giữa rừng trúc” như thông thường. Có thể thấy cách đảo từ của tác giả là có ngụ ý nâng sự cô đơn lên một tầm cao hơn, thành cấp số nhân.

“Tam Đảo cuối thu

Trời thiếu nắng

Chỉ gió và sương mù

Rừng trúc thâm u, lẫn một em vào đó

 

Em đi tìm thơ

Giữa bạt ngàn mây phủ

Chỉ thấy anh

Thấy con

Thấy ngôi nhà bé nhỏ

 

Tam Đảo chưa bao giờ lặng gió

Như nỗi nhớ em mang

Hong cạn

Lại dâng đầy”

             (Tam Đảo anh và con)

Ở ngay cái tít của bài thơ tác giả đã thể hiện nội tâm giữa cảnh vật hiện tại và nỗi nhớ sâu thẳm với ngôi nhà nhỏ ấm cúng, nơi có anh và con.

Ngày như thế nào của tác giả là ngày không bình yên? Phải chăng sâu trong tâm hồn tác giả ẩn chứa một nỗi niềm gì đó mà bật qua câu thơ sóng gió đến nao lòng.

“Ngày thật không bình yên

          con nhớ quê da diết

Nhớ mùi bùn hăng

               mồ hôi mẹ quệt

Nhớ bàn chân cha

            cõng chiều mỏi mệt

Nhớ cả tiếng gà

giật mình gọi sáng lúc canh ba”

Nỗi nhớ quê qua hình ảnh mẹ với lấm lem bùn đất. Hình ảnh cha cõng dáng chiều mỏi mệt đa nghĩa mông lung. Dáng chiều mỏi mệt sau một ngày lao động hay dáng chiều tuổi cha sức cạn đã về đoạn cuối của hành trình một đời người?

Vẫn là lối dùng từ rất tình mà không kém phần nghệ thuật, khiến cho người đọc luôn cảm thấy mới mẻ không bị nhàm: “Qua Nà Ka buộc vía mùa mận trắng/Vuông thổ cẩm gói bùa yêu” hình ảnh “vía, vuông thổ cẩm, bùa yêu” là nói tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tác giả như hòa mình với thiên nhiên với cỏ cây. Một sự thấm nhuần về phong tục tập quán hoàn toàn lay động được nhịp đập của trái tim độc giả.

“Người ơi

Em gùi cao nguyên về phố

Chẳng còn lo nỗi nhớ mòn đêm”

Chỉ có Vương Huyền Nhung mới có lối suy nghĩ táo bạo như vậy. Xưa nhạc sỹ Thuận Yến đã từng tham lam “Tôi muốn ôm cả đất, tôi muốn ôm cả trời” trong bài Khát vọng. Thì nay Vương Huyền Nhung còn muốn gùi cả cao nguyên rộng lớn về phố. Ai đang sinh sống ở cao nguyên khi đọc những dòng này hẳn sẽ trăn trở vì “nỗi nhớ mòn đêm” này của tác giả mất thôi.

Những câu thơ mới hay làm sao:

“Còn thương con sóng bạc đầu

Còn về với biển còn đau ngực thuyền...

... Bóng ai hong muối tứ bề

Mới hay trắng những

vùng quê nhọc nhằn”

               (Với biển Thịnh Long)

“Đời ru em khúc đắng cay

Em ru anh vẫn vòng tay dịu dàng”

(Ru anh)

Hay những câu thơ như cắt ruột cắt gan:

“Con lếch thếch lội qua

                   cánh đồng người

Đi qua bao nhiêu mùa khó nhọc

Chẳng dám mong về

những ngày nghiêng cốc

Sóng sánh cơn đau

 

Mẹ cào cấu vào bóng chiều

cố mót lại gì ở đó

Nào đã thấy mùa xuân

trên những nhọc nhằn

Xóm hồ ngóng những bước chân

Của những đứa con trai con gái

Vò rượu lặng câm

bên thập thững đời người”

                               (Xóm Hồ)

Với ngày không tên chúng ta như được hóa thân vào từng câu chuyện hỉ, nộ, ái, ố muôn hình vạn trạng mà Vương Huyền Nhung đã xây dựng. Mặc dù đời thực của tác giả vẫn còn là một ẩn số.

 

P.T

Lượt xem:152 Bản in

Tin mới nhất









Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
144

Lượt truy cập: