NGÀY NHÀN TUỔI BẢY MƯƠI. PGS - TS NGUYỄN BÁ THÀNH
Thứ 5, ngày 21 tháng 11 năm 2019 - 8:43

Một buổi sáng đầu xuân 2019, nhà thơ Mai Liễu gọi tôi ra một cái quán phở trong khu Linh Đàm, để vừa ăn sáng vừa chuyện trò. Ăn uống xong, anh rút trong ba lô ra một tập bản thảo vừa cười vừa bảo: "Đọc đi, tập mới đây, tập cuối đấy!". Tôi thấy hai chữ "Ngày nhàn" to tướng ở trang ngoài cùng. Anh lại tiếp: "Ông đọc đi và cho vài lời, tôi viết trong khi "chuẩn bị thăng", sẵn sàng "có lệnh là đi". Anh nói cười hồn nhiên, còn cho tôi xem túi thuốc tây lúc nào cũng "kè kè" bên người.

Anh nói như ngày xưa, khi vẫn còn là người lính: "Có lệnh là đi!" Tuổi trẻ của anh đã đi rất nhiều. Nhưng bây giờ thì khác, tuổi già mà "đi" thì là đi mãi mãi, vì lần này đi không phải nước gọi, mà là trời gọi. Nước gọi có thể còn cơ may trở về. Trời gọi là đi không về nữa. Tuổi 70, sức khỏe yếu, đã nhiều lần đối mặt với hiểm nguy. Tôi cũng đồng niên đồng tuế với anh, nên tôi biết những giới hạn của sức khỏe và tuổi tác, khi người ta đã bảy mươi xuân. Tuy vẫn cười đùa nhưng trong thâm tâm chúng tôi đã tính đến "những việc cần làm ngay". Có một sự chuẩn bị thầm lặng cho chuyến tàu cuối cùng.

Mai Liễu có thơ đăng báo từ thời còn chiến tranh chống Mỹ, bây giờ đã ngót 50 năm. Nửa thế kỷ làm thơ, có gần chục tập thơ đã xuất bản. Nhưng tôi chưa viết về anh. Tôi phải bày tỏ tấm lòng mình với một người bạn đồng môn, đồng đội và đồng nghiệp cũ của mình...

Mai Liễu, cái bút danh nữ tính đó của anh lại rất hợp với thơ anh. Thơ anh hiền lành, thơ anh mềm mại, thậm chí yểu điệu trong cảm nhận, trong ngôn từ. Thơ anh có cái chất trong sáng, trong lành một thứ nguyên sơ, thuần túy, có dáng điệu của một sơn nữ rất hiền dịu nhưng cũng rất cứng cỏi. Thơ anh đa số không chạy theo các mốt cách tân hình thức hay hậu hiện đại, mà giãi bày.

Hai chữ "Ngày nhàn" của tập thơ làm ta nhớ đến một quan niệm của cổ nhân: "Người xưa nói rằng, thơ là việc làm nhàn rỗi của các bậc thánh nhân, các quan vông khanh và sỹ đại phu..." (Lê Quý Đôn). "Ngày nhàn" của Mai Liễu không thuộc loại đó. Mai Liễu làm nhiều thơ, có thể coi như một nhà thơ chuyên nghiệp, một hội viên hội nhà văn mà sự nghiệp chính là thơ. Thơ Mai Liễu nhiều người biết đến và nhiều bài nghiên cứu sâu, có cả những luận văn thạc sỹ làm về thơ Mai Liễu.

Ma Văn Liễu là tên đầy đủ của anh. Ma Văn Liễu đã làm thơ từ trong quân ngũ, khi còn rất bận rọn, khi cuộc đời còn gắn với các mệnh lệnh bất ngờ, bất ngờ hành quân, bất ngờ di chuyển, bất ngờ được cử đi công tác,  bất ngờ hứng chịu một trận bom... Cuộc sống của anh lúc bấy giờ không nhàn nhưng Mai Liễu đã cặm cụi viết. Những bài thơ như: "Đêm Chi-ta", "Sông Đông nhìn từ xa", "Hoa lạc thì"... trong tập Suối Làng (1994), đã được sáng tác vào năm 1972, 1973, khi anh còn trong quân ngũ. Những bài thơ ở thời thanh xuân ấy của Ma Văn Liễu đã đánh dấu mốc cho một hồn thơ Mai Liễu dài lâu về sau. Những ngày ấy Ma Văn Liễu làm thơ nhưng chưa dùng bút danh. Mai Liễu là danh xưng chính thức khi anh in các tập thơ riêng, khi anh vào Hội Nhà văn (1995).

Mai Liễu vào trường đại học được hai năm thì lên đường nhập ngũ. Sau chiến tranh, anh trở về trường đại học tiếp tục dùi mài đèn sách. Trở về trường, anh đã phát huy được cái chất lính "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành", và đã nhận bằng tốt nghiệp loại ưu, rồi được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy. Một giảng viên của một trường đại học lớn, ở một khoa danh tiếng: Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng anh không đủ kiên nhẫn để dùi mài kinh sử, chờ những cơ hội du học ít ỏi lúc bấy giờ. Quê anh ở Hà Tuyên, những năm 79, 80 còn khốc liệt lắm... Anh đã ở tuổi tam thập, "tam thập nhi lập", anh đã lập thân bằng con đường học hành, anh đã lập gia đình và vợ con đang ở quê. Tiếng gọi của quê hương và gia đình thúc giục anh một lần nữa rời bỏ giảng đường...

Năm 1982, Ma Văn Liễu được điều về Ban Dân tộc Tỉnh ủy, sau đó được phân công về Văn phòng Tỉnh ủy Hà Tuyên. Năm 1988, tại đại hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Tuyên, anh được bầu làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội. Năm 1991 kiêm nhiệm Tổng Biên tập Báo Tân Trào (Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang) đến tháng 12 - 1998 anh chuyển công tác về Hà Nội, làm việc ở Hội Văn học Nghệ thuât các dân tộc thiểu số Việt Nam, năm 2003 chuyển về Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu.

Cuộc đời hoạt động xã hội của anh như thế cũng khá sôi nổi và bận rộn. Nhưng anh đã giành cho thơ khá nhiều thời gian. Thơ anh hướng về những giá trị nhân văn, nhân bản của con người miền núi... "Ngày nhàn" là sự tiếp tục mạch thơ nhân bản đó.

"Ngày nhàn" có bầu tâm sự của một người ở tuổi thất thập, đã trải qua một thời bận rộn, đôn đáo vì cả việc chung lẫn việc riêng, nay đã "thu quân" (từ của nhà thơ Chế Lan Viên); về với con cháu và mảnh vườn xưa, ngẫm nghĩ về cuộc đời và thân phận. Có thể nói "ngày nhàn" mà tâm không nhàn là nét chung nhất của Mai Liễu ở tập thơ "út ít" này.

"Rót chén rượu quê nhìn mắt vợ con mà buồn/Cốc rượu vang chua như nước dưa/Đêm dài lẩn thẩn câu thơ khô như đá sỏi/Ngày nhàn/Bữa thuốc nhiều hơn bữa ăn/Người nhàn/Quanh quẩn với ti vi, "mạng nhện"/Nhớ quê lòng những giục về..." (Ngày nhàn)

Có thể coi là bài thơ đinh của cả tập thơ. Bài thơ có tâm sự của một người "bị nhàn", bị "tự do", được giải phóng khỏi mọi công việc sự vụ, trở về với căn phòng riêng của mình, tự mình chăm sóc cho mình. Không đến nỗi khó khăn, vất vả. Nhà vẫn có rượu, có ti vi, có điện thoại để vào mạng giao lưu. Nhưng điều quan trọng là thể chất và tinh thần của con người này đang ở trạng thái rã rời, không chỉ vì xuống sức mà cả vì tẻ nhạt và đơn điệu. Một người yêu thơ, thích rượu nhưng đã đến lúc cảm thấy "rượu chua như nước dưa", "thơ khô như đá sỏi". Nhà thơ đã hé cho ta thấy nỗi niềm riêng ở cuối bài thơ. Đó là vì lòng nhớ quê, mỗi năm mấy bận đi về trong tình trạng sức khỏe bấp bênh. Về quê để trải lòng với bạn bè thì "bạn bè cũng dần thưa vắng", chỉ còn ký ức tuổi thơ, tuổi xuân là vẫn xanh tươi, nhưng ký ức chỉ làm cho lòng thêm xốn xang. Mà ở chốn quê xa xôi ấy, với người già, những xao động tâm hồn có thể gây nên chuyện lớn:

"Ký ức lay ta như gió lay cây/Chợt lo con tim bất ngờ giở chứng/Xa bệnh viện là ít đi cơ hội..." Đi - về, quê cũ và chốn tha hương, tổ tiên và con cháu, đó là trạng thái phân thân của người già "lẩn thẩn". Hình ảnh "con chó già nằm khoanh ở đầu hè khi ta về đã không buồn sủa/Cũng chẳng buồn vẫy đuôi chạy theo khi ta mang ba lô ra ngõ..." đã nói lên rất nhiều điều. Đó một phần cũng là do nhà thơ đã quanh quẩn, thường tình, nhàm chán đến mức con vật yêu cũng không còn chú ý. Đoạn thơ này làm ta nhớ đến hình ảnh con chó trong một bài thơ đường của Trung Quốc. Bài thơ nói về một sinh đồ thi trượt lúc về nhà, mọi người im lặng nặng nề, không ai buồn hỏi thăm, chỉ có con chó là vẫy đuôi mừng rỡ khi chủ đã về. Ở bài thơ của Mai Liễu thì ngược lại.

Tâm không nhàn vì trong "Ngày nhàn" nhà thơ nghĩ nhiều đến người đã khuất, trước hết là đấng sinh thành. "Hoa bưởi tháng Ba" là bài thơ rất cảm động, anh viết về cây bưởi mẹ trồng nay đã thành cổ thụ, đúng mùa hoa bưởi nở thì mẹ đã ra đi. Bây giờ lại đến tháng Ba, tháng của hoa bưởi và là tháng mà mẹ lên đường đi vào cõi vĩnh hằng. Hình ảnh người mẹ thân yêu tuổi ngoại tám mươi vẫn chăm cây mót củi, đến khi lẫn không còn nhân ra con cái:

"Tuổi ngoại tám mươi nhiều khi mẹ lẫn/Con gái về chơi mẹ gọi "chị" xưng "em"/Nghe mẹ nói mà muốn trào nước mắt/Ngày mẹ đi xa biết đã cận kề...".

Thơ Mai Liễu viết về cha mẹ thật xúc động. Trong một bài thơ có tên: "Đêm nay con rửa mặt cho cha" (tập thơ: Núi vẫn còn mưa - Nxb Văn hóa dân tộc, 2013), anh viết:

"Cha ơi!/Cha rửa mặt cho con ngày bé/Lớn lên con biết giữ sạch đời mình/Lần đầu tiên trong đời con rửa mặt cho cha/Để rồi xa cha mãi mãi...

Con lau đi những nhọc nhằn tủi nhục đời người phải gánh chịu/Con giúp cha gạt đi mọi ưu phiền cõi trần phàm tục/Cha thanh thản đi về miền ánh sáng/Nơi ông bà, tổ tiên đang đợi đó/Cha ơi!"...

Hình ảnh người con tự mình dùng chiếc khăn tay nhúng vào chậu nước lá thơm để lau mặt cho người cha thân yêu của mình trước khi mặc áo quần cho người, thật là một hình ảnh cảm động - một việc làm đầu tiên và cũng là cuối cùng trong một đời. Mai Liễu đã khắc họa được hành động thiêng liêng, thấm đẫm tình phụ tử ấy. Bài thơ thật xúc động và ám ảnh. Mà tạo được xúc động và ám ảnh thì nhà thơ đã thành công rồi.

(Còn nữa)

Hà Nội, 4/3/2019

N.B.T

Lượt xem:180 Bản in

Tin mới nhất









Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
25

Lượt truy cập: