QUA MIỀN KÝ ỨC. BÚT KÝ CỦA HOÀNG KIM YẾN
Thứ 5, ngày 19 tháng 9 năm 2019 - 8:27

 

Minh họa: Quảng Tâm

 

Con đường chạy uốn vòng quanh những ngọn đồi. Núi rừng trùng điệp chìm trong mây. Xa xa dưới thung sâu, những mầm cây, dòng sông và cuộc sống con người từng giây phút đang thổn thức nảy mầm khát vọng.

Hai mươi mốt người, chen vai sát cánh ngồi trong chiếc xe ô tô lắc lư theo từng cung bậc cảm xúc của riêng mình.

Chuyến đi thực tế lên Điện Biên lần này, có gì đó háo hức, có gì đó mông lung gợi nhớ, có gì đó như kiểu trả nợ cuộc đời vì đã được sinh ra đã được sống an lành cho đến ngày hôm nay.

Xe lăn bánh rời khỏi thành phố Tuyên Quang lúc tám giờ năm phút, trời bắt đầu lác đác rải những hạt mưa xuống trần gian.

Tôi lo sợ tim đập loạn nhịp sống mũi cay cay, tự an ủi động viên mình nhất định phải chiến thắng bản thân cho dù có như thế nào.

 Cũng chả có gì to tát, chỉ là say xe ô tô, là tìm lại dấu chân của một con người đã đi qua cuộc đời mình, tạc lên tượng đài củng cố sự hy vọng.

Trước khi mất, bố tôi nói đứt quãng qua hai kẽ môi khô nứt rộp đỏ, đủ để cho tôi nghe.

- Lúc nào có điều kiện, nhớ lên đó tìm đến nhà bà Ẻng thắp hộ bố nén nhang.

Và rồi ký ức của hơn một thế kỷ đã cùng với gió cuốn bố tôi đi, để lại bao miền day dứt cho con cháu. Để ngày hôm nay tôi có mặt trong chuyến đi này, tìm lại dấu chân kỷ niệm của bố mẹ mình trong mông lung vạn vật.

Hai mươi mốt người kể cả lái xe, người thì lần đầu tiên, kẻ đã đi vẹt nghiêng một triền đồi hoa ban hoa mận trắng miền Tây Bắc.

Những cung đường dẫn vào lịch sử như Tạ Khoa, Cò Nòi, Mộc Châu, Sơn La, Pha Đin, Tuần Giáo… Giờ thanh bình êm ả quá, có lo chăng là mưa gần tuần trời đất đá căng nước, sẵn sàng sạt lở vùi dập tất cả.

Lạy trời cuối cùng cả đoàn cũng bình an trong mưa giông, cũng đến được nơi cần phải đến.

Ngày đã trôi qua. Sang ngày mới truy tìm, khám phá.

 Xe chưa kịp dừng bánh, nhà thơ Nguyễn Bình đã hô to:

- Đến hầm Đờ Cát rồi.

Quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn qua cửa kính ô tô tôi thốt lên:

- Đây á? Đây là hầm Tướng Đờ Cát á?

- Còn ở sâu dưới lòng đất nữa cơ mà chị!

Thu Hà Chánh Văn phòng Hội Văn nghệ Tuyên Quang, người phụ trách đưa đoàn đi, bật cười hinh hích trước sự ngây ngơ ngạc nhiên của tôi.

Nom chả khác gì một con sâu tằm nhúng qua nước sôi đặt nằm dài trên cái nong ngay sát ven đường dân sinh che ô mưa nắng bình thản giữa đời.

Ôi! Cả một quá khứ đau thương và hào hùng tạc vào lịch sử lẫy lừng năm châu, qua thực tế thời nay trong tôi sao giản đơn và quá đỗi thị trường hóa thế này.

 Nó không giống như câu chuyện của bố mẹ tôi kể, không giống như những bài học lịch sử, sách báo, các nhà văn miêu tả năm nào về một hầm chỉ huy xây dựng kiên cố nằm giữa chi chít hầm hào, ụ súng, lô cốt, dày đặc dây thép gai bảo vệ của Tướng Pháp Đờ Cát, mà phải mất bao nhiêu lương thực đạn pháo, bao nhiêu tính mạng con người mới làm lên lịch sử.

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay ngạo nghễ trên nóc hầm của tướng Đờ Cát, trong tấm hình con gái tôi chụp chuyến đi tham quan cho những học sinh giỏi của trường nó từ đầu năm 2002, cũng đâu thấy ngoài đời thực.

Ba tôi kể lại rằng: Chỉ có hai người được vinh dự diễn lại cảnh kéo lá cờ Tổ quốc lên trên nóc hầm sở chỉ huy Đờ Cát.

Đó là đại đội trưởng Luật thuộc Trung đoàn mang tên truyền thống Sông Lô, đơn vị có tổ mũi nhọn xông vào hầm Đờ Cát chiều mùng 7 và đại đội trưởng Kiểm, đại đội 818, một trong những đơn vị phòng không bắn rơi nhiều máy bay nhất trong chiến dịch.

Lá cờ đó giờ nằm im trong nhà bảo tàng dưới lòng đồi chờ từng dòng người lướt vào chiêm ngưỡng.

Nằm trong khuôn viên bằng phẳng, có hàng sắt thưa bao quanh, trước cổng ra vào là hàng quán bày bán đầy các đồ quần áo, giày dép, mật ong, thuốc nam. Thịt trâu bò khô… với những cô gái Thái tươi trẻ nhiệt tình đon đả.

Bước chân vào trong khu vực hầm chỉ huy, mọi thứ thật gọn gàng ngăn nắp, quang đãng và sạch sẽ. Muốn tưởng tượng theo hồi ức của người xưa cũng thật khó.

Dạo quanh một vòng tưng tức bước chân, mọi người kéo tôi đi xuống hầm, cũng chỉ là một hơi thở ngắn nhẹ nhàng khi bước lên ngắm mây trời Điện Biện qua vòm mái nhựa trắng trong che trên đầu.

Sự thật phơi trước mắt có vẻ gì đó phũ quá trong tôi, tuổi đời chớm qua năm mươi mà còn thấy nó nhạt nhòa thế này, huống hồ con và cháu mình bọn chúng chắc có gì để nhớ! Khéo còn vô tư cười nói hô hố:

- Các cụ ngày xưa chém gió giỏi phết. Mất tận năm mươi lăm ngày đêm chiến đấu ác liệt để dành chỗ quá đơn giản thế này.

Mưa rơi ào ào chạm vào tiếng chào mời mua bán nghe đến vui tai. Cảm xúc chả có để mà mất.

Tạm biệt phường Thanh Trường, địa bàn có con sâu tằm khủng nằm ườn mình lười nhác. Theo xe chúng tôi kéo nhau về đồi A1.

Trời mưa tầm tã, chẳng ai muốn nhảy ra khỏi xe để xuống tham quan, dù tôi đã hô đến lần thứ hai:

- Đến A1 rồi mời các bác ô, mũ xuống xe đi ạ.

Một sự im lặng không hề nhẹ, đâu đó vài ba cái lắc đầu không rõ ràng.

 Trước tình thế như đi đánh trận, nhà thơ Nguyễn Tuấn đứng phắt dậy:

- Đã đi thực tế, dù mưa bão, dù có thế nào chăng nữa chúng ta cũng không ai được phép ngồi lại. Ai không xuống xe!

Cô bạn nhà thơ đồng hành ngồi gần tôi bịt miệng cười khùng khục:

 - Trông như đoàn của Hội Người cao tuổi ý chị nhỉ!

Sự thật phũ phàng cười rách cả mép.

Nhà Bảo tàng, nghĩa trang liệt sỹ, đồi A1. Nằm trên địa bàn phường Mường Thanh của thành phố Điện Biên.

Dân bản địa nơi này chiếm ba mươi phần trăm trong đó hai lăm phần trăm dân tộc Thái. Người Thái đen là chủ yếu, người Thái Trắng và người Kinh có số lượng ít. Vậy là tia hy vọng tìm đến gia đình nhà bà Ẻng trong tôi khởi sắc.

 Bước chân lên đồi A1, con đường dốc trơn ướt mưa, những cánh phượng đỏ rơi lã chã tựa như mồ hôi, nước mắt và máu của những người chiến sỹ giải phóng Điện Biên năm nào.

Tôi đang bước đi trên máu xương, trên hình hài của bao lớp người thế hệ trước, cảm xúc ập đến mặn đắng trên môi. Những thân hình gầy trơ xương tươi rói miệng cười chiến thắng, những ánh mắt dỗi hờn ai oán về cuộc chiến phi nghĩa đã qua.

Câu chuyện bố mẹ tôi kể về những người đồng đội trong đơn vị công binh do đại đội trưởng Khải chỉ huy, với những chiếc cuốc chim, những lưỡi xẻng mài sắc.

Đã kiên trì nạo từng núm đất đồi rắn như đá non để nhích dần vào lòng đồi A1. Trước những họng súng tua tủa từ trên đỉnh đồi sẵn sàng nhả đạn.

Để giữ đúng hướng đào đơn vị của bố tôi phải cắm ba nén hương làm chuẩn vì càng vào sâu kim chỉ nam địa bàn càng dao động không chính xác.

Người đào người quạt để thông gió cho đủ dưỡng khí để thở. Đất đào phải cho vào túi dù để chuyển đi xa. Địch không phát hiện được.

Bố tôi nói rằng:

- Để có một đường hầm dài trên năm mươi mét xuyên vào lòng đồi A1 phải mất hơn nửa tháng mới xong. Có nhiều người đã chết trong những ngày lao động căng thẳng này. Thương lắm con ạ.

Sau ba mươi hai ngày giành giật quyết liệt, đêm mùng 7 tháng 5 quân ta đã giành và làm chủ được cứ điểm A1. Bố bị thương nặng được một bà người dân tộc Thái cứu chữa, nhận làm con nuôi sau đó đưa trở lại đơn vị.

- À thì ra nguồn gốc tiếng Thái của bố là từ đó

phải không.

Bố tôi cười hiền gật nhẹ đầu.

Đồi A1 mùa này đỏ rực cánh phượng rơi, những cánh hoa cứa vào lòng tôi buốt nhói, mưa vẫn rả rích rối bời sự nghiêm túc. Những bước chân đương đại vội vã chạy trốn thời tiết, những bước chân hồi ức hối hả rầm rập xuyên lòng đất tìm sự hồi sinh.

Đâu đây trong không trung tiếng kêu rền vọng tới.

 Lịch sử không được tô vẽ không được làm màu phải phơi ra khốc liệt như bản chất của sự thật.

Nếu ai đó hiểu được sự thật, biết được sự thật, tại sao một nước Pháp xa xôi cách Việt Nam, cách Điện Biên hàng ngàn cây số, lại mang cả đống máy móc đạn dược, binh hùng tướng mạnh lên vùng Tây Bắc hiểm trở đèo núi rừng sâu nước độc để lấn chiếm để xây dựng căn cứ… Thì đó cũng chẳng còn là sự thật.

- Bố ơi trên đó toàn rừng núi gấu beo có gì đâu mà phải tranh giành chết chóc hả bố?

Tôi hỏi bố từ năm lên chín tuổi. Ba mươi mốt năm sau, tôi mới nhận được câu trả lời từ bố.

- Đó là vùng vận chuyển buôn bán thuốc phiện kiếm được nhiều lợi nhuận nhất trong khu vực đông Dương. Bọn Pháp muốn làm ông trùm lớn, nên mới bỏ nhiều công của chiếm lấy địa thế này, mảnh đất này, có gì đâu!

 Có ai tin được không! Khi nghe bố tôi nói vậy. Tôi chỉ cười khì khì và nghĩ cụ đùa, tính cụ vốn hài hước.

 Thực ra theo tài liệu lịch sử mới thì thực dân Pháp xây dựng nơi đây thành căn cứ không quân chiến lược để khống chế phía Nam Trung Quốc…

Trời Điện Biên hôm nay không trong xanh, dù cánh đồng Hồng Cúm trải dài phía xa đang vàng rộm bước vào mùa gặt, dòng sông Nậm Rốm chẳng còn lấp lóa những mảnh vải dù trắng, vải dù hoa của máy bay giặc Pháp thả xuống trôi nổi đôi bờ.

Tất cả đã là quá vãng.

Tôi bước đi trong cồn cào nỗi nhớ người xa khuất, người được vinh danh đem lại sự giàu có ấm no cho con cháu. Kẻ ngậm ngùi ôm những sự thật, những câu chuyện vùi sâu dưới ba tấc đất cho nhân gian tạc nên tượng đài.

Chiều của ngày ngớt mưa, tôi lang thang đi theo hướng tâm linh mách bảo, tìm đến nhà bà Ẻng dân tộc Thái Trắng cứu bố tôi năm xưa.

 Bà mất hơn chục năm, trước khi Điện Biên lên thành phố.

Con cháu bà cũng sững người khi gặp tôi, họ đưa tôi đến thắp hương cho bà Ẻng, xoắn lấy tôi như người thân đi xa lâu ngày giờ mới trở về. Nghe tôi kể lại chuyện của bố tôi, của bà Ẻng năm xưa khi thế hệ chúng tôi chưa được sinh ra. Câu chuyện như huyền thoại

Tất cả đều rưng rưng nỗi đau vỡ òa niềm hạnh phúc.

- Nơi đây giờ thay đổi khác xưa nhiều lắm rồi, dân cũng ấm no giàu lên nhờ vào mấy cái di tích lịch sử đấy. Chỉ ông bà cha mẹ mình là vất vả, là khổ thôi.

Anh Thèng con trai út của bà Ẻng chân chất nói với tôi vậy.

- Tượng đài nằm ở đâu anh nhỉ?

- Nó ở đồi D1 phường Trường Thanh. Đấy! đúc xong hình tượng ba người chiến sỹ cách mạng thì ba ông bị đi tù về tội tham ô rút đồng đúc tượng đấy, tí cô lên mà chụp ảnh đẹp, hoành tráng lắm.

Tôi không kể cho ai trong đoàn đi thực tế câu chuyện của mình.

Khi đặt chân đến Mường Phăng, vào thăm nơi ở và làm việc của đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa.

Tôi buột miệng nói với nhà thơ Đức Chuyên khi được anh ấy hỏi: - Em đi chuyến này có ý nghĩa gì?

- Tìm lại dấu chân năm xưa của bố mẹ em in ở nơi này, cụ đã sống qua hơn một thế kỷ, máu xương một phần gửi lại đây. Nhưng điều quan trọng là khám phá bản thân anh ạ.

Còn anh?

Vừa leo dốc mệt thở phì phò tôi hỏi.

- Anh đi để trả nợ cuộc đời.

Câu nói mang đầy hàm ý sâu xa, chỉ có người trong cuộc mới hiểu, tôi cũng chả có cớ hỏi lại, vì cuộc đời nghiệp ai người nấy mang. Gánh vác thay được đâu mà nhiều chuyện.

- Thằng Đờ Cát này giỏi thật, mò lên tận trên đây để xây căn cứ, tốn quá nhiều tiền chả mang lại kết quả tốt đẹp gì lại bị bêu vào lịch sử thế giới.

Ngồi yên vị trong xe để trở về khách sạn sau một ngày dài thẫm mưa và những lời thuyết minh của hướng dẫn viên các khu di tích. Một giọng nói trầm hùng cất lên.

- Ai! Ai vừa nói đó? Ai vừa gọi là thằng Đờ Cát đấy?

Nhà thơ Nguyễn Tuấn lại bật đứng dậy từ hàng ghế đầu xe. Quay hẳn người xuống. Mặt ông hồng đỏ, đôi lông mày nhíu lại, giọng nói phả ra nồng nàn hương vị rượu nếp ủ lâu năm của vùng núi.

- Xét về tuổi tác, thì lão ấy, Đờ Cát là ông chúng ta, trong cả đoàn đi hai mươi mốt con người này, có ai dám bảo không phải. Không được gọi ông ấy là thằng thế là bố láo. Chiến tranh đã qua rồi, chúng ta phải tôn trọng nhau, dù đánh nhau rồi, kết thúc xong cũng phải yêu thương đoàn kết không được gây thù hận chứ. Bác nào vừa gọi thế chỉnh sửa ngay đi nhá, không có hỏng cả một thế hệ con cháu mình.

Chẳng ai nói gì, hình như giọng thuyết giảng của Nguyễn Tuấn mang âm hưởng của nhạc thính phòng, làm cho không khí trong xe bỗng dưng rơi vào trạng thái thoát tục.

Ngoài không trung mây mù xuất hiện từng đám nặng nề che chắn hết mọi nẻo đường đi lối về, cảm giác lành lạnh tê tê nhoi nhói như kim châm đâm vào da thịt.

Mỗi người cảm nhận về chiến tranh, về lịch sử một cách khác nhau, và sự thật bao giờ cũng nghiệt ngã. Nó cũng như câu chuyện trong xe buổi sáng trên đường đi, khi nhà thơ Xuân Việt hỏi mọi người:

- Các bác cho tôi hỏi, có bác nào trả lời đúng câu (có phúc gả con chồng gần có bát canh cần nó cũng bưng cho) không?

Thế là mọi người nhất là các bác có tuổi hưởng ứng ầm ầm, mỗi người một ý nhưng đáp án đều giống nhau. Riêng nhà thơ Xuân Việt có suy nghĩ mở hơn, phá cách hơn.

- Theo tôi, không phải là bát canh rau cần bình thường hàng ngày đâu ạ, thế thì quá dễ. Mà đó là gả con gái lấy chồng gần, bố mẹ ăn cơm có cần bát canh, gọi thì nó bê cho.

Có thể đó là một góc sự thật, nhưng lập tức bị dìm ngay bởi đa số ý kiến phản bác lại quan điểm, suy nghĩ của nhà thơ Xuân Việt.

Mấy chị em chúng tôi, bịt khẩu trang kín miệng cười rinh rích. Không phải ai cũng mạnh dạn dám nói lên suy nghĩ thật từ chính đáy lòng mình.

Xe ô tô đang đi trong mưa, hai mươi mốt con người gần sát bên nhau nghe rõ từng nhịp thở, ấy vậy mà khi có tiếng chuông điện thoại đổ, giọng ai đó cất lên: A lô! Anh đang ở trong phòng một mình mưa to lắm, có đi đâu được đâu… Ừ… Ừ… Đường bị sụt lở đang tắc chả đi được đến đâu, chưa biết hôm nào về. Có gì anh thông báo sau nhé.

Cả xe lại ồ lên cười khanh khách. Những câu chuyện nở bung như nấm rừng sau trận mưa mùa hạ. Ai thích thì cười, ghét thì nhắm mắt giả điếc làm ngơ. Đời cứ giản đơn mà sống để phúc phần cho con cháu.

Trong tôi không còn rối bời lo toan này nọ như trước khi lên đường. Mọi thứ cần phải biết buông, xả để lòng nhẹ nhàng hơn. Để cho mình còn cảm nhận được yêu thương là thiết thực.

Không được nhìn thấy những cánh hoa ban khoe màu gợi nhớ, hay say mềm thả người lả lướt trong những điệu xòe của các cô gái Thái xinh đẹp.

Tôi thả hồn vào mùi thơm trên những cánh đồng lúa vừa gặt còn tươi nhựa dưới gốc rạ. Mỗi ngọn núi ngọn đồi, cánh rừng con suối dòng sông nơi đây đều in đẫm mặt người.

Có điều gì đó không thể gọi thành tên, dìu tôi vào giấc ngủ an lành quên đi hết bộn bề đời thường kéo qua trước mặt.

Ngày lại sắp qua.

Trại sáng tác Tuyên Quang 6/2019

H.K.Y









Lượt xem: 46 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   BÁC RA TÀU TRƯỚC. THÁI ĐOÀNH (ST) - Đăng ngày:  21/11/2019
   TÔI LÀ TUYÊN QUANG ANH LÀ BÌNH THUẬN. PHÍ VĂN CHIẾN - Đăng ngày:  21/11/2019
   NGÀNH GIÁO DỤC - CHẶNG ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN TÔI ĐẾN. TÂN ĐIỀU - Đăng ngày:  21/11/2019
   CÂY BƯỞI Ở PHÚC NINH. LÊ NA - Đăng ngày:  21/11/2019
   QUẢ TIM NÀNG Ở BÊN PHẢI. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN ĐÌNH LÃM - Đăng ngày:  21/11/2019
   NGÔI TRƯỜNG CỦA NHỮNG ƯỚC MƠ. HOÀNG KIM YẾN - Đăng ngày:  21/11/2019
   THĂM THẦY GIÁO CŨ.TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU BÌNH - Đăng ngày:  21/11/2019
   NÀNG CẢ MỐC CỦA NHÀ THƠ TÚ MỠ. THÁI ĐOÀNH (ST) - Đăng ngày:  08/11/2019
   BẢO THÁP GÒ LẦU. PHÙ NINH - Đăng ngày:  08/11/2019
   KHOẢNH KHẮC. TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ ANH MỸ - Đăng ngày:  08/11/2019

Tổng số: 571 | Trang: 1 trên tổng số 58 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
9

Lượt truy cập:
382.650