TỘT CÙNG VĂN HÓA LÀ CON NGƯỜI.(TIẾP NHẬN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA) BÙI VIỆT THẮNG
Thứ 6, ngày 6 tháng 9 năm 2019 - 8:8

Ngày 14-7-1969, trước khi ra đi vào cõi vĩnh hằng không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp và trả lời nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Grama (Cuba). Bài tường thuật buổi phỏng vấn này đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha trên báo Grama, số ra ngày 29-7-1969 và bằng tiếng Pháp trên báo Grama (xuất bản hàng tuần), số ra ngày 3-8-1969, dưới đầu đề “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Chủ tịch Cuba Fidel Castro thành kính viết: “Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”.

NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI NHƯ MỘT CỐT CÁCH VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc (từ 5-1965 đến 5-1969) lịch sử nước nhà có nhiều biến chuyển quan trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào hồi gian khổ và quyết liệt chưa từng có. Trong lời hiệu triệu Không có gì quý hơn độc lập tự do (17-7-1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Kết thúc lời hiệu triệu, Người tiên đoán: “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng! Giặc Mỹ xâm lược nhất định thua!”. Mở đầu bản DI CHÚC, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Đó là một niềm tin lớn lao có cơ sở thực tiễn. Trong bài thơ chúc Tết cuối cùng Mừng xuân 1969, Người viết: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!/Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Là Lãnh tụ cách mạng, Người hiểu con đường thiên lý  giải phóng đất nước phải vượt qua nhiều chông gai, không dễ dàng ngày một ngày hai. Nhưng sự nghiệp cách mạng nhất định thắng lợi dù phải kinh qua nhiều gian khổ hy sinh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. Chủ nghĩa lạc quan cách mạng của Người là một phẩm chất được rèn đúc qua thực tiễn đấu tranh từ buổi ra đi tìm đường cứu nước, trải qua 30 năm bôn ba, tù đày gian khổ hy sinh không kể xiết. Người hiểu quy luật đấu tranh xã hội cũng tựa quy luật tự nhiên “hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Năm mươi năm sau đọc lại DI CHÚC của Người chúng ta càng thấm thía tình cảm trời biển của Lãnh tụ với nhân dân và đất nước. Vào thời điểm khi Người linh cảm thấy mình sẽ đi xa (“phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”), sẽ để lại cho toàn Đảng, toàn dân nhiều đau buồn hiện thực thì chính Người lại khích lệ niềm tin không gì lay chuyển nổi về thắng lợi cuối cùng, tiền đồ tươi sáng của Tổ quốc Việt Nam cho toàn thể đồng bào của mình.

QUAN TÂM ĐẾN MỌI NGƯỜI NHƯ MỘT ỨNG XỬ VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH

DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chiều sâu của tư tưởng và nghệ thuật thể hiện mối quan tâm hàng đầu của Lãnh tụ đến nhân dân, đồng bào mình. Người viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam - Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Ý nguyện cao cả của Người chưa kịp thực hiện. Nhưng hình ảnh của Người, tình cảm của Người thì mãi mãi sống trong trái tim nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ. Từ sau ngày 30-4-1975 lịch sử, ca từ của bài hát Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng (sáng tác của nhạc sĩ Phạm Tuyên) vang lên tha thiết và đầm ấm, trở thành giai điệu tự hào của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Trong DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ được quan tâm đặc biệt: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội  vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Vì sao trong DI CHÚC Người lại dành mối quan tâm đầu tiên đến thế hệ trẻ? Vì “Tuổi trẻ là mùa xuân cuộc đời”. Vì tuổi trẻ Việt Nam đã gánh vác sứ mệnh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với tinh thần xung thiên “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu). Anh hùng Lê Mã Lương đã có câu nói nổi tiếng: “Cuộc đời đẹp nhất của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh Mỹ”. Nhưng có thể nói, mối quan tâm lớn nhất của Người qua DI CHÚC chính là mối quan tâm tới nhân dân lao động. Xuất thân từ người lao động nên Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn ai hết thấu hiểu đồng bào mình: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Có thể nói, DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh chan chứa tinh thần vì dân. Ở vị trí Lãnh tụ, lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh tâm niệm: “Còn non, còn nước, còn người/Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”. Hôm nay, còn  có những ai biết, những ai cảm thấu “còn người” như Lãnh tụ anh minh: Còn người là còn sự nghiệp, còn người là còn non sông đất nước, còn giang sơn được thu về một mối nhờ sự hy sinh vô bờ bến của hàng triệu người dân Việt Nam bình thường nhưng vĩ đại đã “đem thân xơ xác giữ sơn hà” như lời thơ trong bài Lên Cấm Sơn (1947) của nhà thơ Thôi Hữu viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954). Khi viết DI CHÚC, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời suy nghĩ sâu sắc đến nhân dân tiến bộ thế giới đã nhiệt thành ủng hộ cuộc kháng chiến khó khăn, lâu dài của nhân dân Việt Nam. Đó chính là “tình hữu ái nhân loại” cao cả ở Người như nhà báo, nhà văn Xô - viết tài năng O. Mandenstam đã viết gần 100 năm trước: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra thật lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai (...). Qua phong thái thanh cao, trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới” (bài đăng trên báo Ogoniok/Tia Lửa, của Liên - Xô, số 39, ra ngày 23-12-1923; dẫn theo sách: Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010, trang 7).

HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA CHO MUÔN NGƯỜI

Sở dĩ chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành tấm gương đạo đức, văn hóa cho toàn Đảng, toàn dân học tập và noi theo, thiết nghĩ, trước hết là đức tính khiêm tốn của một con người vĩ đại nhưng rất đỗi bình thường. Khi nói về “việc riêng” của một cá nhân, người ta hay nêu cảnh ngộ, tâm trạng, những khó khăn, thuận lợi trên bước đường đời. Nhưng trong DI CHÚC Người chỉ viết: “Về việc riêng - Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Tinh thần “dĩ công vi thượng” của Người thật sự cao như núi Thái sơn, rộng lớn như Biển Đông. Người cũng là mẫu mực của tinh thần “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của  người Cộng sản chân chính. Trong DI CHÚC, Người viết xúc động: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Nói Lãnh tụ Hồ Chí Minh là tấm gương vì dân chính là như thế. Cho đến tận trước lúc đi xa, Người vẫn suy nghĩ cặn kẽ làm gì để nhân dân bớt khổ, theo tinh thần “cái gì có lợi cho dân thì gắng làm, cái gì không có lợi cho dân thì gắng tránh”.

Những dòng cuối của DI CHÚC thực sự gây xúc động cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế khi Người viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Ai đó nói quá đi “cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Nhưng chí lý hơn thì phải nói “tình thương cứu rỗi thế giới”. Hồ Chủ tịch là một biểu tượng của tình thương yêu đồng bào, đồng chí trong nước và “tình hữu ái toàn thế giới”. Nhà thơ Tố Hữu đã viết xúc động: “Ôi phải chi lòng được thảnh thơi/Năm canh bớt nặng nỗi thương đời/Bác ơi, tim Bác mênh mông thế/Ôm cả non sông mọi kiếp người (...)/Bác sống như trời đất của ta/Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa/Tự do cho mỗi đời nô lệ/Sữa để em thơ lụa tặng già(...)/Bác để tình thương cho chúng con/Một đời thanh bạch chẳng vàng son/Mong manh áo vải hồn muôn trượng/Hơn tượng đồng phơi những lối mòn” (Bác ơi!). Trong đời sống hiện nay, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, tình thương yêu con người đang bị suy giảm (trong vấn nạn xuống cấp về văn hóa và đạo đức của một bộ phận người trong xã hội), thì những bài học về tình thương yêu giữa người và người của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại là một tài sản văn hóa quý giá.

HỒ CHÍ MINH VÀ VẺ ĐẸP VĂN HÓA CỦA TIẾNG VIỆT

DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói, là một mẫu mực trong sáng, đẹp đẽ, giàu có của tiếng Việt hiện đại. Tiếng Việt trong DI CHÚC của Người đạt tới sự giản dị nhưng hàm súc, giàu hình ảnh và tính biểu đạt cao: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Lối viết ví von như thế phù hợp với cách nghĩ, cách thể hiện bình dân của quảng đại quần chúng, trùng phùng với cách thể hiện của văn hóa dân gian “giàu đôi con mắt khó đôi con mắt”. Khi nói về Đảng và đảng viên, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Nói Đảng vừa phải xứng đáng là người lãnh đạo, vừa phải là người đày tớ trung thành của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến ý thức phục vụ vô điều kiện và tuyệt đối trung thành của Đảng, đảng viên với “người chủ vĩ đại” chính là nhân dân. Nói tư tưởng “vì dân” xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ chính là nói về đạo đức cao cả của Người, nguyện vọng và là mục tiêu phấn đấu của Lãnh tụ suốt đời chăm lo cho dân giàu nước mạnh. Mỗi lời Bác Hồ viết trong DI CHÚC, qua cách thể hiện giản dị nhưng sâu sắc, thể hiện nguyên lý căn cốt của chế độ ưu việt, tới mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, vì chính quyền của ta là “chính quyền của dân, do dân, vì dân”. Cách thức dùng từ thuần Việt trong khi viết DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với “nôm na” hay “mộc mạc”, ở đây biểu thị lối tư duy của người Việt trước thực tế đời sống. Lối viết giản dị của Bác Hồ trong DI CHÚC đồng thời cho thấy ý thức của Người khi cầm bút viết luôn luôn đặt vấn đề “viết cái gì?”, “viết cho ai?”, “viết thế nào?”. Hơn thế, lối viết dùng từ thuần Việt thể hiện tính dân tộc đồng thời biểu hiện cá tính, phong cách nghệ thuật của Hồ Chủ tịch, chẳng hạn Người viết: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc. Nhưng ta có còn gọi Tổ quốc là đất nước. Có đất và có nước mới thành Tổ quốc” (dẫn theo sách Hồ Chí Minh: Tác giả - Tác phẩm - Nghệ thuật ngôn từ, NXB  Giáo dục, Hà Nội, 2005, trang 713). Đọc DI CHÚC của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta tiếp nhận thêm một bài học quý giá về tinh thần quyết tâm giữ gìn sự trong sáng và giàu có của Tiếng Việt.

B.V.T

 









Lượt xem: 120 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
9

Lượt truy cập:
382.654