HÀNH HƯƠNG QUA MIỀN KÝ ỨC. BÚT KÝ CỦA TRẦN HUY VÂN
Thứ 7, ngày 31 tháng 8 năm 2019 - 13:40

Nhận được giấy báo của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy về tổ chức cho văn nghệ sỹ, phóng viên đi thực tế sáng tác các tác phẩm về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Tuyên truyền đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”, tôi thật sự bồi hồi và xúc động. Nhớ lại cái ngày đã trên năm mươi năm rồi, khi miền Bắc thực sự bước vào thời kỳ dữ dội nhất: “Những năm bom Mỹ trút lên mái nhà/Những năm khẩu súng theo người đi xa”. Trên năm trăm giáo sinh Sư phạm 10+2 Thái Bình, tập trung ở ngôi chùa cổ thuộc một xã ở huyện Vũ Thư, Thái Bình vào một đêm trăng khuyết, đầu tháng 7 năm 1966. Nghe thầy Hiệu trưởng nhà trường đọc quyết định, phân công đi các tỉnh miền núi phía Bắc dạy học. Một không khí trang nghiêm, rạo rực, im lặng. Ai cũng lắng nghe xem mình được phân công đi tỉnh nào.

Miền núi, hai chữ ấy với các chàng trai, cô gái ở vùng trung du, đồng bằng là vùng đất xa lắc, đầy hiểm trở, gian nan, thử thách, nhưng cũng có sức hút kỳ lạ, chỉ được biết qua những trang sách, bài báo dù vậy trong lòng vẫn rạo rực niềm tin cháy bỏng: Cứ đi khắc đến.

Tôi có người bạn thân, cùng lớp, cùng tổ, cùng trọ một nhà khi trường  sơ tán ở nhà dân, tên là Hậu, quê Thái Bình. Biết tôi và mấy bạn khác nữa cùng Hậu được phân công đi Tuyên Quang, Hậu hỏi tôi:

- Ông biết Tuyên Quang ở đâu không, đi con đường nào lên tới đó, làm thế nào để tôi với ông cùng đi.

- Dễ ợt, nghỉ về thăm gia đình xong, ông đi ô tô lên Hà Nội, đi tầu hỏa đến thị xã Phú Thọ, hỏi bến xe sơ tán đi Tuyên Quang. Tôi với ông hẹn ngày khởi hành, đến bến xe chờ nhau ở đó, chỉ khi hai đứa gặp nhau mới đi tiếp.

- Còn lối nào khác không?

- Chắc có, nhưng lối đó là tiện nhất cho cả hai đứa. Chi tiết cụ thể tính sau. Thấy Hậu có phần thiếu tự tin, tôi nói thêm: Là con cháu Bác Hồ, một địa danh trong nước, lại cả một tỉnh, không tìm ra đường đến sao.

Ngày ấy Việt Trì, thị xã Phú Thọ cũng đã bị máy bay Mỹ ném bom. Tầu đến ga vào buổi đêm. Tôi đến bến xe sơ tán cách thị xã chừng bảy cây số. Phải chờ Hậu mất hai ngày, hai đứa mới gặp nhau. Lại phải chờ hai ngày liền không lên được xe. Xe vào bến đã chật ních người rồi. Tôi hỏi thăm đường đi bộ lên thị xã Tuyên Quang. Một câu trả lời gọn lỏn:

- Ra Quốc lộ số hai, nhìn cột cây số mà đi, khắc tới.

Rất may hành lý mang theo, chỉ là mấy bộ quần áo, mấy cuốn sách “gối đầu giường” để trong chiếc ba lô nhỏ, đeo sau lưng là cuốc bộ được rồi. Hậu nói với tôi:

- Nhẹ nhàng chán, nếu đi bộ đội, một ba lô tư trang, súng, đạn, bao gạo, nặng đến mấy chục cân, băng rừng, lội suối họ vẫn vào đến chiến trường mãi tận trong Nam, mình thua sao.

Đến bến phà Đoan Hùng, trời sập tối. Sang phà, Hậu kêu mệt và đói. Nắm cơm mẹ nắm cho ăn đường đã ăn hết ngay từ ngày đầu tiên, mấy ngày liền ăn toàn hoa quả, nhìn những mẹt bầy hoa quả hai bên đường đã thấy sợ rồi. Nhà dân ở gần bến phà đã đi sơ tán hết, hai đứa vào ngôi nhà vắng chủ, cách đường không xa, nằm ngủ qua đêm ngay trên hè.

Tơ mơ sáng hôm sau dậy, sửa sang lại hành lý Hậu hỏi tôi:

- Ông biết mình nghĩ gì không, mới đi bộ một ngày đường, đích đến đã rõ mà sao thấy bết bát quá. Bác Hồ năm 1911 mới 21 tuổi như tuổi bọn mình bây giờ, từ bến cảng Nhà Rồng xuống tầu, sang tận trời Tây đi tìm đường cứu nước, cứu cả một dân tộc đang sống trong nô lệ, lầm than, gian nan, vất vả còn hơn “đào núi và lấp biển” đến cả nghìn lần, trong tim chỉ có một khát vọng: “Nước nhà được độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người đã đi và đã đến. Là lớp con cháu của Người lại không thực hiện được ước nguyện của Người không có tội sao?

- Mong rằng ai cũng nghĩ như thế, nào đi thôi.

- Ông có chuyện gì kể cho nghe, để cho quên đi cái đói đang dằn vặt này.

- Mình có ông em, vì là con ông chú nên gọi mình là anh, là nhà thơ Trần Cẩn kể: Một lần Bác Hồ đến thăm trường Thanh niên dân tộc xã hội chủ nghĩa tỉnh Hòa Bình. Người thăm chỗ ở, bếp ăn, khu vệ sinh, khu nhà giáo viên, rồi gặp mặt giáo viên, học sinh. Người thăm hỏi, động viên ân cần lắm. Nhà trường chuẩn bị bữa cơm đón Người. Quan khách vào phòng ăn. Riêng Người cùng hai em nhỏ, cổ quàng khăn đỏ, cứ như hai tiểu đồng ấy, ra phiến đá phẳng ở bờ suối gần trường, mở gói cơm nắm, chấm muối vừng ăn. Nắm cơm ăn hết, Người nhặt từng hạt cơm còn dính vào tờ giấy gói, để trong lòng bàn tay, rồi đưa lên miệng ăn nốt. Những người bảo vệ đứng từ xa nhìn thấy đều bưng mặt khóc. Khóc vì cảm động, vì tấm lòng chân tình của Bác với người làm ra hạt cơm thơm thảo ấy, không thể phung phí được dù chỉ một hạt thôi. “Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” kia mà.

- Sao không thấy sách nào viết về chuyện ấy, một nghĩa cử, một việc làm cao đẹp đến nhường ấy.

- Bác là một vĩ nhân, mọi cử chỉ, lời nói, việc làm của Người đều là một bài học lớn về đạo lý làm người, về đối nhân xử thế, làm sao viết cho hết được. Thêm một chuyện nữa, cũng do ông em có tên là Trần Cẩn kể. Ngày tiền khởi nghĩa tháng tám năm bốn lăm, Bác có thời kỳ hoạt động cách mạng ở Thái Lan. Có một gia đình Việt Kiều chăm lo cho Bác thân thiết lắm.

Sau năm 1954, Người làm Chủ tịch nước. Chủ gia đình ấy về Việt Nam đến thăm Bác. Người đón tiếp ân cần và mời đến ăn bữa cơm cùng Bác. Người ấy mừng lắm và nghĩ sẽ được ăn bữa cơm thịnh soạn, bữa cơm của vị Chủ tịch nước kia mà.

Khách đến, người phục vụ Bác bưng mâm cơm lên. Người ấy tròn xoe mắt nhìn mâm cơm, còn kém rất xa bữa cơm thường nhà ông ta. Trên mâm chỉ có đĩa thịt gà luộc, đĩa cá kho, một bát rau muống luộc, chấm với tương và một bát canh rau mồng tơi. Đã vậy đĩa thịt gà, đĩa cá được xếp đều đặn vào bốn góc đĩa. Khi ăn Bác bảo:

Chú có thể ăn hết thức ăn bầy trên mâm này, nhưng ăn góc nào phải hết góc ấy mới sang góc khác. Nếu trên đĩa còn tức là phần thức ăn mình chưa ăn đến, cất đi dùng vào bữa sau. Nếu góc nào cũng nhúng đũa vào thành thức ăn thừa, không thể dùng lại được.

Vị khách nghe Bác nói không ngăn nổi hai hàng nước mắt. Tự ngộ ra trên đời này mình đã sống phung phí đến như thế nào!

- Bác là sự kết tinh tất cả tinh hoa của đất nước mình, nó như là cuốn bách khoa toàn thư về lẽ sống, thương người như thể thương thân, của dân tộc mình ấy.

Nhớ bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ không: Rồi bác đi dém chăn/Từng người từng người một/Sợ cháu mình giật thột/Bác nhón chân nhẹ nhàng.

Bác là người mẹ hiền thục, chăm sóc giấc ngủ cho những đứa con của mình, phải chịu bao thiếu thốn, vất vả đang cùng Người đi làm cuộc trường kỳ kháng chiến.

Bác là một huyền thoại được dệt bằng những việc làm nhỏ nhất ấy. Mỗi câu chuyện là bài học lớn, là nét đẹp về truyền thống văn hóa, về đạo lý làm người của dân tộc mình. Là cội nguồn để lập nên những chiến công hiển hách, khiến mọi kẻ thù phải khiếp sợ.

Đang đi, Hậu bất ngờ hỏi tôi: Đã đến đất Tuyên Quang chưa?

- Cũng như ông, lần đầu tiên đặt chân tới đây, để gặp người qua đường hỏi xem. Gặp một bác nông dân đã đứng tuổi, hỏi, bác trả lời:

- Lần đầu lên Tuyên Quang phỏng, đã vào đất Tuyên Quang khoảng mấy cây số rồi.

- Vậy là đã tới Tuyên Quang tuy mới ở ria tỉnh.

Ngày ấy làm gì đã có tấm áp phích lớn ghi dòng chữ “Địa phận Tuyên Quang xin kính chào quý khách” như bây giờ.

Hai đứa ngồi nghỉ dưới bóng cây bên đường, Hậu bảo tôi: Phải kiếm cái gì ăn đã, miễn là không phải hoa quả. Mình như kiệt sức mất rồi, không thể đi được.

- Mình hiểu rồi, đã đặt chân lên đất Tuyên Quang, mảnh đất sẽ gắn bó cả đời như là được về nhà, đòi ăn đây.

Tôi với Hậu tìm đến ngôi nhà sàn cách đường có tới trên trăm mét. Có tiếng chó sủa, mế già từ trong nhà đi ra. Đã thấy hai đứa đứng dưới chân cầu thang. Tôi chắp tay: Chúng con chào mế!

- Hai đứa lên cầu thang vào nhà đi. Câu nói ân tình của mế làm hai đứa tôi ấm lòng. Chúng bay đi đâu? Mế hỏi, giọng ân cần.

- Dạ! Chúng con người miền xuôi lên Tuyên Quang dạy học.

- Lên làm ông giáo đấy.

- Dạ! Tôi nói ngay điệu đã dự định cứ như sợ mế từ chối. Hai đứa con mấy ngày nay không được ăn uống gì, mế còn cơm nguội cho chúng con một ít ăn cho đỡ đói, cũng để đỡ thèm cơm nữa.

Mế đi lục nồi, quay lại bảo: Cơm nguội không còn, hai đứa bay đói ra ngoài vườn nhổ sắn, mang về luộc chả mấy thời gian là có cái ăn. Hai đứa con mế đi làm hợp tác đến trưa mới về.

Tôi với Hậu ra nương cạnh nhà nhổ một rổ sắn mang về. Mế nhìn rổ sắn bảo: Sao không nhổ nhiều vào, thế đã đủ chưa.

- Dạ! Đủ ạ. Mế dạy hai đứa bóc vỏ sắn, rồi rửa, cho vào nồi, cách dâu lửa cho dễ cháy. Bếp lửa giữa nhà sàn bùng lên. Tôi có cảm giác như đang được sống với chính bà nội của mình vậy.

Nồi sắn sủi một dạo, mế bảo: Bắc xuống, gạn bỏ nước đi, rắc vào nồi ít muối, rồi lại đặt lên bếp cho sắn thấm muối, khô lại khi ăn đỡ phải chấm muối.

Bài học đầu tiên khi đặt chân lên đất Tuyên Quang là do mế dạy hai chúng tôi. Nhờ bài học ấy mà những năm tháng sau này gần như được vận dụng hàng ngày, để mỗi lần luộc sắn lại nhớ đến mế.

Sắn còn non, bở tơi, hai đứa ăn đến no, còn một ít mế bảo:

- Hai đứa gói lại, mang đi, lúc nào đói lại ăn. Hai đứa cảm ơn rồi đưa cho mế mấy hào bạc. Mế bảo:

- Mế không có gì cho hai con còn lấy tiền sao! Làm thầy giáo, mang cái chữ đến bản làng con em các dân tộc ở Tuyên Quang chúng nó mừng lắm đấy. Hai con làm tốt việc dạy học là mế mừng rồi, tiền của nào mua được. Đừng ngại mế chỉ tiếc không tiếp hai con ăn bữa cơm của người miền núi. 

Nghe mế nói hai đứa đều rơm rớm nước mắt. Còn có lời giáo huấn nào chân thành, sâu nặng, trong sáng, ngọt lành như nước suối đại ngàn, thấm vào lòng người đến như thế. Bước chân đầu tiên hai đứa đặt lên đất Tuyên Quang đã nhận được tình cảm chân thành và lời nói ấy của mế. Cứ như là hành trang mế tặng để hai đứa tiến hành cuộc hành trình qua miền ký ức của nỗi nhớ và tình thương trên đất Tuyên Quang.

Minh họa: Tân Hà

 

Tuyên Quang ngày ấy còn nghèo lắm, lên đến thị xã Tuyên Quang, đứng ngay giữa chợ Tam Cờ thấy nhiều người đang dọn phù sa phủ trên đường. Nhìn ba bề bốn bên toàn nhà lá xiêu vẹo, nhiều nhà bị đổ sập. Thị xã vừa trải qua vụ lũ. Tôi không dám nghĩ đây chính là thị xã liền hỏi một công nhân dọn đường:

- Bác ơi, đến thị xã Tuyên Quang còn bao xa ạ?

Bác công nhân nhìn hai đứa tôi, hỏi lại: Hai chú lần đầu lên đây phỏng. Chân chú đang đứng chính giữa thị xã Tuyên Quang đấy.

Hai đứa tôi ngơ ngác nhìn nhau. Thị xã vùng xuôi đi qua đã nhiều, chí ít cũng có nhà xây, có cả nhà tầng, khu phố. Còn ở đây căng mắt ra nhìn cũng chẳng thấy ngôi nhà xây nào. Thị xã còn vậy, còn ở các vùng quê miền núi hẻo lánh còn thậm khổ đến đâu!

***

Bây giờ, thị xã Tuyên Quang đã lên THÀNH PHỐ, chỉ hai chữ ấy đã nói lên tất cả, sức sống mãnh liệt, sự vượt lên từ túng bấn đói nghèo của người dân các dân tộc Tuyên Quang, đáng tự hào đến mức nào. Mỗi bận có việc lên thành phố, đứng trên cây cầu đường bệ bắc qua sông Lô. Đêm đến, thành phố rực rỡ ánh đèn điện tôi không khỏi bồi hồi nhớ lại cái ngày đầu tiên đặt chân tới đây. Nhớ lại những năm tháng đói khát ấy.

Hè năm 1968, tôi được điều động lên dạy trường Sư phạm cấp một Bình Thuận sơ tán lên xã Xuân Quang, Chiêm Hóa. Thầy trò phải tự vào rừng lấy gỗ, nứa về làm lán ở, lớp học ẩn dưới tán cây rừng. Ngay cả bàn học, ghế ngồi cũng bằng tre, nứa. Để có giáo viên về các bản, nhà trường mở hai hệ đào tạo 7+1 và 4+3 (tốt nghiệp lớp 7 học thêm một năm, tốt nghiệp lớp 4 học thêm 3 năm).

Thầy trò bắt tay vào viẹc, chỉ trong mười ngày, làm không kể ngày đêm. Lớp học, lán ở đã làm xong, thầy trò bắt tay vào dạy, học. Ngay ngày ấy tôi đã nghĩ: Chẳng có ở đâu trên thế gian này, cái máy cái của ngành Giáo dục, đào tạo ra các thế hệ thầy cô giáo, lại mở đầu như thế.

Gian nan vất vả đấy nhưng luôn tự hào đang được thực hiện khát vọng của Bác Hồ “Ai cũng được học hành” lại thấy phấn chấn hẳn lên.

Sau này khi được nghe học sinh hát “Trường của em be bé, mọc ở giữa rừng cây...”. Bây giờ các em vẫn hát, trong ngôi trường khang trang, đầy đủ tiện nghi, phục vụ cho học tập. Có thể các em không biết ngôi trường các em hát trong bài hát chính là nơi lớp cha anh đã từng ngồi học.

Ngay cả các thầy cô giáo ra trường ngày ấy nhiều thầy cũng đã tình nguyện lên đường nhập ngũ.

Lớp lớp các thế hệ ra trận mang trong tim niềm tin chiến thắng, tạo nên tượng đài chiến thắng cho cả một dân tộc, tạo nên hình ảnh kỳ vĩ của anh giải phóng quân, tạo nên Dáng đứng Việt Nam.

... Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng

Không một tấm hình

          Không một dòng địa chỉ.

Anh chẳng để lại gì cho riêng anh

          Trước lúc lên đường

Chỉ để lại DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM

Tạc vào thế kỷ.

                    (Thơ Lê Anh Xuân)

Để tạo nên dáng đứng Việt Nam, tạo nên “Nước nhà được độc lập” trong khát vọng của Bác Hồ, đất nước được độc lập, tự do “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh” đã phải trả giá bằng máu xương của bao nhiêu anh hùng liệt sỹ, trên mọi nẻo đường của lịch sử. “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh” phải trở thành lẽ sống của mỗi người mới đáp đền được sự hy sinh mất mát to lớn ấy.

Cùng chuyến xe chở văn nghệ sỹ, phóng viên đến các vùng quê thuộc hai huyện Na Hang và Chiêm Hóa, nhiều vùng quê tôi chỉ nghe kể của bạn bè, người thân chưa một lần đặt chân đến, đã hằn sâu trong ký ức. Con đường đi lên vùng cao đã được trải nhựa phẳng phiu, dấu tích đói nghèo ngày xưa chỉ còn trong ký ức. Mọi vùng quê mới đã đổi thay nhiều lắm.

Đến xã Đà Vị gặp Chủ tịch xã Hà Văn Dũng có bằng cử nhân Nông nghiệp. Anh say sưa nói về làm thủ tục đăng ký Đề án 353 làm bún khô, một hợp tác xã được thành lập do chị nông dân Ma Thị Thoa làm Chủ nhiệm. Nghề làm bún đã có ở đây từ ngày xưa, một loại thực phẩm không để được lâu. Nay chuyển thành bún khô có thể để dài ngày vẫn giữ được đầy đủ hương vị của bún, cái chính là rất tiện lợi cho người dùng, giá cả lại rất phải chăng. Khu vực sản xuất còn thô sơ nhưng thành phẩm bún khô đã có mặt ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Cơ sở sản xuất đã tính đến, mở rộng, trang bị máy móc, nâng cao mức sản xuất đáp ứng đầy đủ cho thị trường, một hướng đi rất phù hợp với người dân miền núi, nguyên liệu làm bún khô lại rất sẵn ở vùng quê này.

Điều đáng quý là người nông dân miền núi đã nghĩ đến và bắt tay vào làm ra hàng hóa có sẵn ở quê mình, vừa có thu nhập cao mang lại nhiều lợi ích cho người dân. Một con đường thoát nghèo vươn lên làm giầu thật chính đáng.

Con đường từ Đà Vị lên Hồng Thái chạy trên lưng chừng núi. Một miền sơn cước mát lành, trong trẻo. Những thửa ruộng bậc thang, mùa này lúa đang vào thì con gái xanh mướt, như những bậc thang bằng mầu xanh của lúa, uốn lượn từ chân núi lên mãi đến lưng chừng núi. Chỉ riêng vẻ đẹp của thửa ruộng bậc thang này đã cuốn hút bao du khách đến đây, với khí hậu mát lành Hồng Thái được ví như là Sa Pa của Tuyên Quang.

Hơn thế, Hồng Thái còn có đặc sản bí hương, quả bí không to nhưng có vị hương đặc biệt không có ở bất kỳ nơi nào, khách mọi nơi đến mua ngày một nhiều, ở Hồng Thái còn có chè Sơn Tuyết. ông Bàn Văn Hùng ở Khuẩy Phùng nói với tôi: Sơn Tuyết là loại chè sạch, không dùng bất kỳ loại hóa chất nào kể cả phân bón, có thể do chất đất tạo nên cho chè hương vị đặc biệt không nơi nào sánh được.

Chè búp một lá, sấy hoàn toàn thủ công, bán mỗi cân từ hai đến ba triệu đồng. Xuất khẩu ra nước ngoài khách ưa chuộng lắm, không đủ hàng bán cho khách ấy. Năm rồi chúng tôi xuất được 7 tạ thu về trên hai tỷ.

Tới đây chúng tôi mở rộng phân xưởng chế biến, mở rộng diện tích trồng, đây cũng là hướng đi lên làm giầu đầy hứa hẹn ở vùng quê chúng tôi. Hồng Thái còn có những vườn đào xanh, quả to ăn có vị giòn ngọt cũng là một đặc sản chỉ ở đây mới có. Hồng Thái hứa hẹn là điểm du lịch sinh thái có sức hấp dẫn rất cao.

Đi đến các xã, các huyện được gặp đội ngũ cán bộ, được nghe rồi đọc các bản tổng kết công tác, tôi nhận ra một điều, đội ngũ cán bộ lãnh đạo đều rất trẻ. Đa phần đều có tuổi đời sinh sau chiến thắng mùa xuân 1975. Đều có bằng cử nhân, thạc sỹ, rất năng động, thực sự có năng lực, nhiệt tình trong công việc. Cứ nhìn nhịp sống của người dân, từ phố huyện đến các vùng trong làng bản, nhìn các công trình đã và đang xây dựng là rõ ngay. Cán bộ nào phong trào ấy.

Về đến nhà, tôi chỉ còn biết cảm ơn chuyến đi cho tôi được trải nghiệm, được hành hương qua miền ký ức của nỗi nhớ và tình thương đã gắn bó với tôi trên năm mươi năm nay. Miền đất đã để lại cho tôi những ngày tháng ngọt lành và tươi đẹp.

Tháng 7 năm 2019

T.H.V

 

 









Lượt xem: 30 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   CĂN NHÀ GỖ. TRUYỆN NGẮN CỦA DƯƠNG ĐÌNH LỘC - Đăng ngày:  07/10/2019
   HƯƠNG BƯỞI SOI HÀ. GHI CHÉP CỦA BÀN MINH ĐOÀN - Đăng ngày:  07/10/2019
   ĐỀN CẤM SƠN. PHÙ NINH - Đăng ngày:  07/10/2019
   LÀNG TẰM TỪNG CÓ NGƯỜI NHƯ THẾ. ĐOÀN THỊ KÝ - Đăng ngày:  07/10/2019
   CHO CẢ NGÀY MAI. TRUYỆN NGẮN CỦA HOÀNG KIM YẾN - Đăng ngày:  07/10/2019
   CON SƯ TỬ CỦA VĂN HỌC NGA. THÁI ĐOÀNH - Đăng ngày:  19/09/2019
   QUA MIỀN KÝ ỨC. BÚT KÝ CỦA HOÀNG KIM YẾN - Đăng ngày:  19/09/2019
   THƯƠNG LẮM VIỄN ƠI!. NGUYỄN CHÍNH - Đăng ngày:  19/09/2019
   RANH GIỚI MONG MANH. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THẾ VIỄN - Đăng ngày:  19/09/2019
   TRUNG THU CỦA THIỆN. TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ XUÂN THU - Đăng ngày:  19/09/2019

Tổng số: 552 | Trang: 1 trên tổng số 56 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
14

Lượt truy cập:
381.709