VỀ LẠI ĐIỆN BIÊN. BÚT KÝ CỦA NGUYỄN HỮU DỰC
Thứ 3, ngày 13 tháng 8 năm 2019 - 13:46

“Đường lên Tây Bắc vút xa mờ

Đường lên Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ

Vượt sông Lô, ngược sông Hồng,

Đường lên Tây Bắc đi trong mênh mông…”

Không ít người bất giác thốt lên câu hát trên. Khi xe chúng tôi chơi vơi giữa biển sương mù dày đặc. Lên với Điện Biên như một niềm ao ước mời gọi, về với mảnh đất làm nên lịch sử chấn động địa cầu. Với các bạn trong Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang còn có niềm tự hào mình sinh ra trong Thủ đô Kháng chiến, nơi đại bản doanh trước khi quyết định đánh trận Điện Biên Phủ. Còn vang đâu đây lời Bác “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ của các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang…” Nhắc lại một thời như vậy để thấy được mảnh đất chúng ta đang đi, có những năm tháng đầy gian khổ, nhưng cũng vô cùng vinh quang và oai hùng. Lớp văn nghệ sỹ chúng tôi người trẻ nhất đã trạc bốn mươi. Người già nhất cũng trên bẩy mươi. Ít người được sống trong cái hòa khí của ngày đó. Để viết được cũng cần lắm thực tế. Từ đó tiếp thu chọn lọc thông tin, xây dựng điển hình, hóa thân vào tác phẩm. Nhà thơ Phạm Văn Vui chia sẻ - viết cho mình, viết cho người đọc, chắt lọc những dòng chữ ấy sao cho có hồn. Nhà văn Trần Huy Vân vốn là giáo viên dạy văn, ngồi trên xe anh trầm tư, nhưng qua ánh mắt tôi biết anh đang suy tư và cảm xúc, anh nói như đang giảng bài: Ngày mình dạy bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng mấy năm đầu còn phân tích chưa hay lắm. Sau này lên Tây Bắc vài lần mới thấy, Quang Dũng một nhà thơ tài hoa, người ta nhớ tới Quang Dũng là nhớ đến bài thơ “Tây Tiến”. Bài thơ cách đây hơn sáu mươi năm nhưng sức sống của nó sẽ còn đọng lại trong nhiều thế hệ. Anh đọc “Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói! Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” hay “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy; Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. Rồi anh tiếp: Bài thơ là nỗi nhớ da diết trải dài trong không gian, thời gian mênh mang. Vì yêu, vì nhớ mà cuộc sống người lính khi ấy cũng thấy gần gũi ấm lòng. Còn tôi như một cậu học trò ngồi nghe anh giảng, mọi ký ức đang hiện về. Phải rồi trong tập “truyện Tây Bắc” của Tô Hoài có truyện vợ chồng A Phủ. Mảnh đất tôi đang đi là Phiềng Xa hay Hồng Ngài, cái ngày gian khổ đau thương của đồng bào Tây Bắc nói chung, trong đó có Mỵ và A Phủ. Họ đã đứng lên đấu tranh và đến với cách mạng. Tôi nhớ Nguyễn Tuân với câu nói về người nghệ sĩ “Tài phải đi đôi với tâm”. Ông viết: “Người lái đò sông Đà” trong giai đoạn cả nước hướng về Tây Bắc xây dựng và xóa nghèo. Cùng với Chế Lan Viên với hai câu thơ trong bài “Tiếng hát con tàu” đã trở thành bất hủ “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở; khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Trong cái không gian trầm tư ấy chỉ có tiếng máy của xe đều đều, tiếng sột soạt của bánh xe lăn, tôi đoán mỗi người đang có khám phá cho cảm xúc của riêng mình. Nhà thơ Vũ Mạnh Tữ tuy tuổi đã cao nhưng dáng anh còn rất khỏe, bất giác anh hát lên “Đường lên Tây Bắc xa xôi, mái nhà sàn thấp thoáng, đằng xa tiếng hát dân quân, tiếng reo trên đồi nương”. Nhà thơ Nguyễn Bình đế thêm: Bài này của nhạc sĩ Văn An, ca sĩ Tố Uyên hát rất hay. Nhà văn Đỗ Anh Mỹ góp vui “Qua miền Tây Bắc núi ngút ngàn trùng xa…” đoạn sau anh quên mất thế là cả xe cười ồ lên. Đang vui thì Tổng Biên tập Nguyễn Tuấn, dõng dạc tuyên bố: Tôi biết các nhà văn nhà thơ đang có nhiều cảm xúc về Tây Bắc. Đợt đi thực tế này các nhà văn phải hoàn thành ba truyện ngắn; nhà thơ: Tám bài thơ, tất cả đều vỗ tay tán thưởng. Đã hơn tám tiếng ngồi trên xe giữa trùng trùng điệp điệp núi đồi. Bất chợt một thung lũng xanh và bản làng xa xa hiện ra. Trước mặt chúng tôi tấm biển ghi “Khu du lịch sinh thái Mai Châu”. Tất cả mọi người đứng lên nhìn về phía ấy, một phong cảnh hữu tình đẹp mê hồn. Ôi! cái đẹp làm gần gũi thêm tình đất tình người.

Đêm mưa ở Điện Biên, ào ào lên từng đợt, nó đánh thức chúng tôi, ngoài cái cảm giác lạ nhà, mỗi người hình như đang bồn chồn thao thức, trước một vùng đất mới. Điện Biên của ngày hôm qua, nóng bỏng lửa chiến trường, Điện Biên của ngày hôm nay tưng bừng đổi mới. Tiếng xe phá đi cái cảm giác tĩnh mịch, tiếng người làm gần gũi ấm cúng không gian. Một ngày mới đến với Điện Biên bắt đầu.

Điện Biên Phủ, có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2, dân số trên 480.000 người. Điện Biên Phủ là nơi gặp gỡ của 21 dân tộc anh em chung sống. Đông nhất là người Thái: 40,4%; người Mông: 28,8%; người Kinh: 19,7%; còn lại là các dân tộc khác. Một điều làm tôi bất ngờ thành phố Điện Biên nằm trên toàn bộ mảnh đất chiến trường xưa. Những người cựu chiến binh từng chiến đấu ở nơi đây, sau ngày hòa bình đã ở lại sinh sống và lập nghiệp, họ tự hào về mảnh đất anh hùng, với chúng tôi họ như những người hướng dẫn viên du lịch, chẳng chỗ nào họ không biết, họ thuật lại từng chi tiết của trận chiến như vừa diễn ra ngày hôm qua vậy.

Bảo tàng Điện Biên Phủ nhìn xa như một chiếc mũ nan của anh vệ quốc quân ngày xưa. Tôi lại nhớ đến chiếc mũ tai bèo của anh giải phóng quân ngày giải phóng Sài Gòn. Các anh từ nhân dân mà ra, vì dân mà chiến đấu. Ở đâu các anh cũng được nhân dân tin yêu và đùm bọc. Nằm giữa lòng chảo Điện Biên Bảo tàng như một tượng đài chứa đựng những chiến công hiển hách, như một sự ghi nhớ, tri ân những người con của đất nước này.

Trước mắt chúng tôi là bức phù điêu, gồm có bốn người là: Bác Hồ; đồng chí Trường Chinh; đồng chí Võ Nguyên Giáp; và đồng chí Phạm Văn Đồng. Trước giờ phút lịch sử quyết định chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác giao trọng trách cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Theo tài liệu để lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi. Người đã đi đến quyết định sáng suốt ấy là Bác Hồ”. Và cả nước đã dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ, với câu ca “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ, đèo Lũng Lô anh hò chị hát” và với “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân. Chúng tôi lặng người khi nhìn bức phù điêu anh Tô Vĩnh Viện lấy thân mình chèn pháo. Tô Vĩnh Diện quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, lúc đó làm Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394. Trong lúc dây tời bị đứt pháo lao nhanh xuống dốc, anh đã dùng cả thân mình cuốn vào bánh pháo, pháo khựng lại đè lên người anh. Trước lúc hy sinh anh còn hỏi “pháo có việc gì không”. Có một điều anh em văn nghệ sỹ Tuyên Quang bảo nhau: Những bức phù điêu hình tượng người anh hùng ở Bảo tàng rất sinh động. Cô hướng dẫn viên giọng truyền cảm chỉ tiếp vào tượng anh hùng Phan Đình Giót. Anh Giót quê ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, chiều ngày 13 tháng 3 trong trận đánh vào Him Lam, trước hỏa lực của lô cốt địch, anh đã lấy thân mình bịt lỗ châu mai. Bảo tàng Điện Biên còn nhiều những bức phù điêu, hình tượng khác nữa. Nó như một cuốn phim sinh động mô tả những tháng ngày đẹp nhất trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Thật tình cờ cùng Đoàn văn nghệ sỹ Tuyên Quang vào Bảo tàng Điện Biên là Đoàn thanh niên tiêu biểu của thành phố Hồ Chí Minh, các bạn còn rất trẻ, với bộ đồng phục màu xanh, phù hiệu Đoàn ai cũng vui vẻ phấn chấn. Tôi làm quen với chị Trương Thị Hồng Hạnh, chị cho biết: Đoàn thanh niên thành phố Hồ Chí Minh có hơn 80 người, đây là những đoàn viên ưu tú, với mục đích giáo dục truyền thống cha ông, chúng tôi đã tổ chức cho các bạn về với cội nguồn thăm Điện Biên. Tôi chia tay chị trong cái bắt tay tình cảm, chị hỏi: Anh đã từng đi bộ đội chưa?, tôi nói: Mình được tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày 30/4/1975 đã vào Sài Gòn, chị cười lưu luyến.

Đến Điện Biên Phủ ai cũng tới Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ. Tác giả của tượng đài này là ông Nguyễn Hải ở đường Trần Hưng Đạo, thành phố Hồ Chí Minh. Tượng đài có ba anh bộ đội Cụ Hồ, một em bé dân tộc Thái, một lá cờ và một bó hoa. Anh bộ đội thứ nhất phất cờ trên nóc hầm Đờ Cát, anh bộ đội thứ hai bế em bé người Thái trên tay em cầm bó hoa. Còn anh bộ đội thứ ba cầm súng như thể hiện tinh thần cảnh giác trước mọi kẻ thù.

Một ngày đầy ắp những kỷ niệm trôi đi. Tối đến tôi rủ nhà văn Nguyễn Hữu Bình tản bộ trên đường. Điện Biên lấy tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên cho đại lộ đẹp nhất của mình, nơi đây mỗi ngọn cỏ hàng cây đều gắn với những chiến công của bộ đội, mà người chỉ huy tài ba kính mến là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Những cổng trào hình hoa văn trên áo của cô gái Thái sinh động, cách điệu đúng với bản sắc của vùng đất này. Có người bảo: Lên Tây Bắc mới biết tình người Tây Bắc, trong vòng xòe mời gọi, những cánh áo trắng bó sát, nổi bật lên hàng cúc chạy từ ngực xuống, nhún nhảy đan tay vào nhau thành hình tròn, ta thấy ấm áp gần gũi lạ thường.

Ngày thứ ba chúng tôi thăm Mường Phăng. Theo đường bộ Mường Phăng cách thành phố Điện Biên 38 km. Ngồi trên xe nhà thơ Nguyễn Tuấn đặt câu hỏi: Mường Phăng nghĩa là gì, không ai nói được, duy có nhà văn Phạm Văn Vui giải nghĩa: Mường Phăng có nghĩa là bản lạnh, “Phăng” cũng có ý nói là đâm chém nhưng nghĩa này bỏ qua.

Cô hướng dẫn viên du lịch cho biết: Xã Mường Phăng gồm 33 bản, 42 đội sản xuất, dân số 7.500 người, dân tộc có người Thái, người Khơ Mú, người Kinh và người Mông sống bằng nghề trồng lúa, cây ăn quả như hạt dẻ, mắc coọc. Sau khi thắp hương tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp chúng tôi đi theo chỉ dẫn xem từng vị trí ở Sở chỉ huy Mường Phăng. Bắt đầu là lán cảnh vệ, khu thông tin, chỗ ở của đồng chí Hoàng Văn Thái, lán và hầm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại đây Đại tướng đã ở từ 31/1/1954 đến 15/5/1954. Con đường tuy dốc nhưng dễ đi lại có các cháu thiếu nhi ở đây rất mến khách chào đón nên con đường tuy xa nhưng rất gần. Nhà văn Tạ Ngọc Dũng còn bị vắt cắn vào chân ứa máu. Chúng tôi thấu hiểu hơn 60 năm về trước nơi đây rậm rạp, khó đi và vắt nhiều vô kể… Thế mà tinh thần của cha ông ta đã vượt lên tất cả để làm lên chiến thắng. Cũng trong những ngày gian khổ ấy có một đám cưới đã diễn ra ở đây giữa Trưởng ban Tuyên huấn ông Hoàng Xuân Tùy với bà Song Ninh là diễn viên văn công quân đội. Thì ra trong chiến đấu, mưa bom bão đạn vẫn có những tình yêu mãnh liệt đến vậy.

Khoảng 9 giờ sáng chúng tôi rời thành phố Điện Biên. Hai bên đường màu xanh của hoa ban như vẫy gọi. Nhà văn Bàn Loan nuối tiếc: Không được xem hoa ban nở rồi, nói vậy cô nhìn qua cửa kính xe. Thấy vậy nhà văn Đỗ Anh Mỹ giải thích: Hoa ban chỉ nở từ tết đến tháng ba hàng năm, cánh hoa màu trắng, pha màu hồng đậm, thân và rễ có thể làm thuốc, hoa để nấu canh. Thật hữu tình, mỗi vùng miền đều có đặc điểm riêng của nó, nói đến hoa ban là ta nhớ tới Tây Bắc, nhớ Điện Biên như một lần ta được đến trong đời.

Còn một địa danh nữa phải kể tới là nhà tù Sơn La. Đằng sau những bức tường đổ nát hoang tàn, lạnh lùng là những câu chuyện gian nan đầy mồ hôi và máu của những người chiến sỹ cộng sản, là sự độc ác đến kinh người của giặc, là niềm tin ý trí của người cộng sản cho độc lập tự do. Chúng tôi lặng đi khi nghe cô hướng dẫn viên nói về lần vượt ngục của bốn đồng chí lão thành cách mạng bị giam cầm nơi đây. Lửa thử vàng, gian nan thử sức, họ đã vượt qua tất cả cho lý tưởng của Đảng vì hạnh phúc của nhân dân.

Những ngày ở Điện Biên, như được trở về với nhà mình. Trong lòng chúng tôi quyến luyến chẳng muốn rời xa. Hình ảnh của Điện Biên trên đường đổi mới sẽ là nguồn cảm hứng bất tận cho văn nghệ sỹ Tuyên Quang. Một chuyến đi bổ ích và lý thú, chắp cánh cho tư duy sáng tạo, từ hơi thở nồng nàn của cuộc sống sẽ phôi thai cho những trang thơ, áng văn lay động tâm hồn. Được như thế là sự thành công của chuyến đi và cái duyên của người cầm bút.

N.H.D









Lượt xem: 36 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   CĂN NHÀ GỖ. TRUYỆN NGẮN CỦA DƯƠNG ĐÌNH LỘC - Đăng ngày:  07/10/2019
   HƯƠNG BƯỞI SOI HÀ. GHI CHÉP CỦA BÀN MINH ĐOÀN - Đăng ngày:  07/10/2019
   ĐỀN CẤM SƠN. PHÙ NINH - Đăng ngày:  07/10/2019
   LÀNG TẰM TỪNG CÓ NGƯỜI NHƯ THẾ. ĐOÀN THỊ KÝ - Đăng ngày:  07/10/2019
   CHO CẢ NGÀY MAI. TRUYỆN NGẮN CỦA HOÀNG KIM YẾN - Đăng ngày:  07/10/2019
   CON SƯ TỬ CỦA VĂN HỌC NGA. THÁI ĐOÀNH - Đăng ngày:  19/09/2019
   QUA MIỀN KÝ ỨC. BÚT KÝ CỦA HOÀNG KIM YẾN - Đăng ngày:  19/09/2019
   THƯƠNG LẮM VIỄN ƠI!. NGUYỄN CHÍNH - Đăng ngày:  19/09/2019
   RANH GIỚI MONG MANH. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THẾ VIỄN - Đăng ngày:  19/09/2019
   TRUNG THU CỦA THIỆN. TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ XUÂN THU - Đăng ngày:  19/09/2019

Tổng số: 552 | Trang: 1 trên tổng số 56 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
29

Lượt truy cập:
381.708