CHUYỆN CỦA MẸ. TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUY VÂN
Thứ 3, ngày 13 tháng 8 năm 2019 - 13:46

Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với hai người, mẹ và bà ngoại. Mãi khi tôi đi học, có người bạn cùng lớp hỏi: Bạn không có bố sao?

- Bố là ai, nhà mình chỉ có mẹ và bà ngoại.

- Lớp này đứa nào chả có mẹ, ông bà nội, ngoại và bố nữa. Bố mẹ là người đi làm kiếm cái ăn về nuôi cả nhà, lại còn hỏi, bố là ai.

Tôi về hỏi mẹ: Sao con không có bố? Mẹ xoa đầu tôi bảo:

- Không có bố làm sao có con được, bố đi bộ đội, từ những năm đánh Mỹ ấy.

- Lâu thế, sao bố không về?

- Hy vọng bố sẽ về.

Mẹ nói nhỏ, ngậm ngùi, nước mắt chảy ra, tôi không dám hỏi nữa. Chắc có chuyện gì xảy ra với bố, nên không về được. Thảo nào nhiều đêm, tôi thấy mẹ chong đèn, ngồi thức một mình, lấy trong túi vải ra những tờ giấy đã cũ đọc. Mẹ gục đầu xuống bàn khóc. Tôi đoán là những bức thư của bố.

Tôi rất muốn biết, xem những tờ giấy viết gì, làm mẹ đau lòng. Nhớ lời mẹ dặn: Những gì của mẹ cất ở đâu, nếu là đứa con ngoan, không được đụng tới. Tôi làm sao dám lục tìm, làm trái ý mẹ. Điều đáng sợ nhất của tôi trên đời này là, làm mẹ buồn.

Mẹ đi bất kỳ đâu, khi về đến nhà câu đầu tiên mẹ gọi là: Chiến đâu con! Tôi dạ một tiếng thật to, chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ rất vui, bế tôi lên.

Cả tôi cũng vậy, khi đã lớn, trở thành cán bộ nhà nước, lấy vợ, có con, mỗi bận về đến nhà tôi cũng gọi to: Mẹ ơi! Mẹ đang làm gì cũng dừng tay ra đón tôi. Được nhìn thấy mẹ, tôi mới yên lòng được. Thấy thế, có lần Thúy, vợ tôi, nói:

- Anh! Rõ thật có còn trẻ con nữa đâu, cứ về đến nhà là gọi mẹ.

- Chỉ khi được nhìn thấy mẹ, anh mới cảm nhận thấy cuộc sống lại tiếp tục.

- Không có mẹ ở bên là cõi chết chắc.

- Không biết nữa, cứ thấy thấp thỏm, lo âu thế nào ấy. Em công tác gần nhà luôn được ở bên, phải chăm sóc mẹ cẩn thận đấy.

- Có mẹ chăm sóc em thì có, em muốn làm gì mẹ cũng bảo: Để đấy mẹ làm cho. Em phải gắt lên: Mẹ muốn con thành người thừa sao. Mẹ mới để cho làm. Mẹ bảo:

- Sẽ đến lúc mẹ yếu đi, con phải làm tất cả.

- Mẹ thế đấy, ngay cả khi anh đã lớn. Mẹ chỉ yêu cầu học cho giỏi, thi đỗ đại học, mọi công việc mẹ tự làm hết. Anh chỉ còn biết vùi đầu vào học, đạt được tất cả những gì mẹ yêu cầu, mà vẫn cảm thấy có lỗi với mẹ. Em biết điều anh thấy áy náy nhất về mẹ là gì không?

- Làm sao em biết được.

- Là người bố của anh, là nỗi niềm sâu kín nhất của mẹ. Mẹ chưa bao giờ kể cho anh nghe về bố cả. Cứ như mẹ giữ kín hình ảnh bố cho riêng mẹ, là thứ tài sản không ai được biết, được đụng tới. Mẹ âm thầm chịu đựng, không muốn giãi bày cùng ai. Anh không thể hình dung nổi, mẹ đã chịu đựng nỗi ngóng đợi trong vô vọng, nuôi con một mình trong túng bấn, gian nan. Người thân yêu ra đi không một tin tức gì gửi về. Đã vậy còn phải gánh chịu bao nhiêu lời dị nghị, lườm nguýt của dân làng về chuyện, người đàn bà không chồng có con, có người độc miệng gọi mẹ là: Đồ con đĩ! Con đĩ chửa hoang. Mẹ im lặng không một lời phân bua. Sự thật là thế, nói ra liệu người đời có tin không!

Em hiểu vì sao cứ về đến nhà là anh gọi mẹ rồi chứ. Anh còn biết làm gì để an ủi mẹ bây giờ!

- Đã khi nào anh tâm sự dò tìm nỗi lòng của mẹ chưa. Mẹ đã ngoài sáu mươi tuổi, chẳng lẽ mẹ còn định giấu kín mãi.

- Ngày anh còn bé, bác Sâm hay đến nhà chơi, không biết để hỏi, rất tiếc bác đã chết rồi. Bác còn sống hỏi chắc biết.

- Còn bá Thủy, con dâu bác Sâm, hơn mẹ mấy tuổi, hỏi thế nào chả biết chút ít. Không tự đi tìm hiểu, để người ta tự đến nói với anh sao.

- Em có thấy mẹ khác trước không, lúc nào vẻ mặt cũng u buồn. Chỉ khi hai đứa cháu thằng Bảo, cái Châm về mẹ mới nói, cười vui vẻ. Đã đến lúc anh phải tìm hiểu kỹ xem bố mình là ai, ở đâu, vì sao mẹ chịu đựng ngần ấy năm để chờ đợi, trong tuyệt vọng, kẻo có thế nào hối hận đã muộn.

*

Tôi đến nhà bá Thủy, hỏi chuyện. Bá kể:

- Bá cũng không biết gì nhiều, chỉ biết năm 1966, ra Tết được nửa tháng, trường Sư phạm sơ tán về xã. Đông đấy, hơn năm trăm học sinh. Xóm ta có một lớp, học ở ngôi chùa làng, trọ ở nhà dân. Nhà bá có bốn học sinh. Có người tên là Hiếu, nhanh nhẹn, tháo vát, chăm chỉ lắm. Sáng nào cũng dậy thật sớm, quét nhà, sân, rửa ấm chén, gánh nước đổ đầy cái bể, đựng được năm gánh nước. Trong khi ba người kia vẫn chưa ngủ dậy. Tối đến, chú ấy thường đọc báo, rồi giải thích cho các nhà trong xóm nghe. Thành thói quen, cứ chập tối, mọi người tập trung lại, ai cũng thích nghe chú ấy đọc báo.

Cả nhà rất quý chú Hiếu, nhất là bố chồng bá. Khi ấy, bá mới sinh bé Hảo được ba tháng, đi làm để cho bà nội bế. Đi học về là chú ấy bế bé Hảo, ru cho ngủ. Kì lạ bé Hảo chỉ theo chú ấy, còn người khác không sao bế được, bế nó khóc thét lên, quẫy đạp.

Tháng tám năm ấy, thi tốt nghiệp ra trường, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc dữ dội lắm. Học sinh ở lại chờ công bố kết quả và phân công về các tỉnh dạy học.

Một lần, chú ấy giúp bố chồng bá cuốc đất vườn, làm rau. Bố chồng bá bảo: Bác có đứa cháu gái được cả người lẫn nết, nếu cháu ưng bác làm mối cho. Bác đến gặp cán bộ tổ chức nhà trường xin cho ở lại đây dạy học.

Chú ấy cười, nói rất vui: Bác cứ giới thiệu đi, nhỡ cô ấy nhìn thấy cháu bỏ chạy thì sao. Cháu cũng muốn biết cô ấy xinh đến mức nào, làm quen để kết bạn thôi. Học sinh trường cháu đây, tốt nghiệp đi miền núi hết, trừ trường hợp đặc biệt mới được ở lại Thái Bình. Cháu làm sao ở diện đó được. Bác đừng đi xin mất công, lại không được.

Hai người có gặp nhau không, diễn biến ra sao nữa, bá không biết. Về hỏi mẹ cháu kể cho nghe là chính xác nhất. Nhưng bá tin hai người đã đến với nhau, cháu chính là con của chú ấy. Hai người giống nhau như hai giọt nước vậy.

Nghe bá Thủy nói, tôi đã phần nào hiểu nỗi niềm sâu kín của mẹ. Nhưng không dễ để mẹ tự nói ra. Làm cách nào để mẹ thổ lộ câu chuyện thầm kín của mẹ đây, tôi vẫn chưa nghĩ ra.

Tôi nhớ, bà ngoại mất, khi thu xếp các di vật của bà. Tôi thấy bộ quần áo chàm, chỉ người miền núi mới mặc. Cũng có lần thấy mẹ mặc bộ quần áo mầu ấy, cả chiếc khăn Piêu của người phụ nữ Thái nữa. Có thể dựa vào đấy để gợi chuyện chăng. Tôi hỏi mẹ:

- Mẹ và bà ngoại đều có bộ quần áo mầu chàm, mẹ mua ở đâu?

- Của bố con gửi tặng.

- Của bố con, mẹ kể cho con nghe về bố đi.

Tôi nói giọng năn nỉ, vẻ mặt cầu xin. Mẹ nhìn vẻ mặt thiểu não, van xin của tôi, sẽ sàng nói:

- Cũng đến lúc mẹ kể cho nghe về bố con rồi. Biết đâu nghe xong, con tìm được quê cha đất tổ của mình. Ngày ấy, bác Sâm đến gặp mẹ. Khen hết lời chàng trai trọ học ở nhà bác, tên là Hiếu. Rồi bác bảo: Bác định giới thiệu chàng trai ấy với cháu. Hai đứa gặp nhau, biết đâu cái duyên, cái số nó đến.

- Cháu còn trẻ, mới mười bẩy tuổi, nhà hoàn cảnh thế này, đâu dám nghĩ đến chuyện ấy.

- Làm quen để hẹn ước với nhau có phải thành vợ chồng ngay đâu.

- Được, bác cứ cho cháu gặp anh ấy, cũng muốn biết người bác giới thiệu ra sao. Nhưng bác đã nói gì về cháu với anh ấy chưa?

- Chưa, ngoài tên cháu là Thảo.

Chiều ấy, mẹ đang cuốc vườn thì anh ấy và bác Sâm đến. Nhìn thấy mẹ đang làm đất, anh ấy hỏi ngay:

- Thảo chuẩn bị làm vườn trồng rau sao, để anh giúp một tay.

Anh ấy vào vườn cùng làm với mẹ, hỏi chuyện tự nhiên, không một chút e dè, cứ như hai người quen biết từ lâu.

- Thảo định trồng rau gì?

- Củ cải, su hào, rau muống, mồng tơi mỗi thứ một ít để ăn cho đỡ ngán.

- Có dư thừa để bán không?

- Làm gì có thừa, ăn còn chẳng đủ ấy.

- Gánh nước tưới có xa không, mình thấy trồng rau, người ta thường đào cái hố ngay trong vườn, để phân xuống đó, gánh nước đổ vào, múc tưới, rau lên xanh tốt lắm, lại tiện nữa.

- Anh cũng thạo việc trồng rau gớm nhỉ.

- Con nhà nông mà.

- Quê anh ở đâu?

- Xa lắm, nơi có con sông Đà và sông Thao gặp nhau, làng ở

ven sông.

Làm vườn xong, vào nhà, bác Sâm đã về từ lúc nào. Bà đi chơi hàng xóm, thấy nhà vắng người, anh ấy hỏi:

- Bố mẹ đi đâu?

- Bố em bị bệnh chết, khi em tròn một tuổi.

- Còn mẹ?

- Khi em ba tuổi, mẹ đi lấy chồng, chẳng biết ở đâu nữa, nhà chỉ có hai bà cháu. Anh ấy đứng lặng nhìn mẹ, vẻ ái ngại, mãi sau mới nói:

- Anh là con út trong gia đình có tám anh chị em. Mẹ chết khi anh được ba tháng tuổi, chị phải ẵm đi xin bú khắp làng, đã thấy cực rồi, em còn cực hơn. Em có gặp mẹ lần nào không?

- Không!

- Xem như mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ. Anh và em có điểm chung rồi. Em có đi học không?

- Đang học dở lớp sáu, em bỏ học, về đi làm hợp tác nuôi bà.

- Có đủ ăn không?

- Tạm đủ, chỉ có tiền là hiếm, chẳng có thứ gì bán, ngay cả con gà giống cũng chẳng mua được. Nhà nông chỉ có hạt lúa, còn không đủ ăn, bán để nhịn đói sao.

Ngay buổi gặp chiều ấy, mẹ đã thấy quý chàng trai ấy rồi, sau lần ấy còn gặp nhau mấy bận nữa. Có lần mẹ hỏi:

- Ý bác Sâm, định làm mối cho hai đứa với nhau, anh nghĩ sao?

- Anh suy nghĩ rất nhiều, nhất là khi biết hoàn cảnh em. Cảm ơn lòng tốt của bác Sâm. Nhưng hoàn cảnh anh, từ đây về quê đã trên trăm cây số, được phân công đi miền núi dạy học, còn đi tiếp mấy trăm cây số nữa đấy. Em đã chịu khổ nhiều, lại thiếu thốn tình thương, rất cần có người bên cạnh để cùng nhau bươn trải. Anh lại không thể làm được việc ấy.

Thảo này, anh nhận em là em gái được không. Để anh được chăm bẵm, giúp đỡ em. Việc đó dù ở xa vẫn làm được.

- Chỉ thế thôi ư, em không muốn vậy.

- Cứ thế đã, để mặc cho con tạo xoay vần xem ra sao, tính sau. Chúng mình còn trẻ mà.

Nghe anh ấy nói thế, mẹ gù đầu vào vai anh, nước mắt tự dưng chảy ra. Anh ấy nói: Vui lên em, cuộc đời còn dài lắm. Cái gì cũng có thể xảy ra được hết.

Hôm cuối cùng, anh chuẩn bị về quê, đi nhận công tác, đến chỗ mẹ, mang theo năm con gà giống chừng năm lạng một con. Còn giúp mẹ đan cái quây, để nhốt gà. Khi thả gà vào quây anh ấy hỏi:

- Thảo biết làm thế nào để gà quen chuồng ngay không?

- Em nuôi gà bao giờ mà biết.

- Ờ nhỉ, rửa sạch chân nó, rồi thả vào. Chỉ cần nó ỉa một bãi trong chuồng, thả ra, đêm đến là về chuồng ngay, không sợ lạc đâu.

- Anh lấy tiền đâu để mua.

- Tiền học bổng đấy, anh chỉ cần đủ tiền vé xe về đến nhà là được. Anh đã chẳng nhận em là em gái là gì. Anh trai không đỡ đần cho em một chút thế sao. Mai anh về khi nào đến nơi dạy học, có địa chỉ anh viết thư cho em.

- Anh có quay lại đây nữa không?

- Có chứ, về thăm em gái mà. Anh ấy nhìn mẹ cười rất tươi.

Minh họa: Tân Hà

 

Nói vậy, mãi đến năm 1970, bốn năm sau, ra Tết chừng hai chục ngày, anh mới quay lại. Khi ấy mẹ đã hai mươi mốt tuổi. Gặp nhau, anh ấy mừng rỡ reo lên, nắm lấy hai cánh tay mẹ: Thảo đây ư, xinh tươi, đẹp đẽ, bừng sáng đến như thế này ư. Anh không ngờ đấy.

- Cứ nghĩ em là cô bé còm nhom, xấu xí ngày nào chứ gì.

- Anh đâu dám nghĩ thế, quả thật bây giờ em rất đẹp, lại khỏe mạnh nữa.

- Anh ở lại chơi lâu không?

- Dăm ngày, về để tạm biệt em và bà lên đường nhập ngũ. Anh nói giọng ngậm ngùi. Chắc anh nghĩ đến lúc phải xa nhau, không thể hẹn ngày gặp lại. Cả hai nắm tay nhau, lặng lẽ đi về nhà.

Những năm xa cách, thi thoảng anh ấy lại gửi tiền cho mẹ. Cũng nhờ những đồng tiền ấy mà hai bà cháu đỡ kham khổ hơn. Lại còn gửi áo chàm, khăn Piêu, để mặc ấm về mùa đông. Gửi cả đồ mặc lót cho mẹ. Nhìn các thứ ấy bà ngoại bảo:

- Những thứ này chỉ khi là vợ chồng mới mua cho vợ, nó sắm cả thứ ấy là yêu thương cháu nhiều lắm đấy, ít có người đàn ông nào khi mới yêu nhau đã làm vậy. Cháu phải biết quý trọng tình cảm của nó.

Anh ở lại chơi sáu ngày, bà và bác Sâm khuyên mẹ: Nếu hai đứa thật lòng yêu nhau, cứ sống với nhau như vợ chồng, đừng giữ gìn gì nữa. Thời gian gấp thế chẳng thể làm đám cưới được. Cháu cũng biết tình cảm của anh ấy dành cho cháu sâu nặng đến thế nào rồi. Người như thế, không dám chủ động đòi hỏi việc ấy đâu, dẫu có muốn, sợ cháu bị thiệt thòi. Cháu phải tự quyết.

Có được đứa con, chờ đợi người ra trận, dẫu có gì xảy ra, cũng đỡ ân hận, nguôi ngoai đi được nhiều. Nếu được đoàn tụ còn hạnh phúc nào bằng.

Đêm, mẹ và anh ấy đưa nhau ra quán Cây Bàng giữa đồng, ngồi tâm sự cùng nhau. Khi mẹ nói đến lời khuyên của bà và bác Sâm, anh ấy ngẫm ngợi rất lâu rồi bảo:

- Anh đi vào nơi mũi tên hòn đạn, bom đạn mù trời, có mệnh hệ nào chỉ làm khổ em. Anh rất tin và yêu thương em nhiều lắm, chỉ mong em được sống hạnh phúc, làm sao dám làm việc ấy, để làm khó cho em.

- Trên đời này em chỉ yêu một mình anh và chỉ một mình anh thôi. Nói dại nếu anh không về, em sẽ sống trọn đời với tình yêu của em với anh, không lấy ai hết. Em đã thề với lòng mình như vậy.

Em rất muốn có giọt máu của anh, nếu được, đó mới là hạnh phúc trời ban cho em. Chẳng lẽ anh không thể thực hiện điều mong ước của cuộc đời em sao. Em yêu anh vô cùng. Vì em, anh đừng ngần ngại gì nữa. Hãy thể hiện tình yêu của anh với em đi. Em van xin đấy.

Nghe mẹ nói thế, anh ấy ôm mẹ vào lòng, xiết chặt. Sau bao lần gặp nhau, lần ấy mới dám hôn mẹ, thật nồng nàn, cháy bỏng.

Nghe mẹ kể đến đây, tôi ôm lấy mẹ, nói lời đang rạo rực trong lòng:

- Nhờ đấy mới có con trên cõi đời này phải không mẹ. Con cảm ơn mẹ, vì con được sinh ra từ mối tình tuyệt đẹp ấy. Bố có biết mẹ mang thai con không?

- Mẹ rất muốn báo tin cho bố, nhưng không biết địa chỉ. Chỉ nhận được thư của bố chan chứa tình yêu thương, những ngày còn đang dạy học ở Tuyên Quang. Lúc đang luyện quân ở đất Bắc, di chuyển thường xuyên, không ở chỗ nào cố định và bức thư trước lúc lên đường vào Nam. Thư nào cũng động viên mẹ, mong mẹ được sống hạnh phúc. Trong lá thư cuối bố viết: Anh rất mong điều em ước được toại nguyện? Nếu được, sinh con trai đặt tên là Trần Chinh Chiến, là con gái thêm chữ Thị.

Đọc xong thư, mẹ chỉ biết khóc, nói thầm một câu: Anh ơi! Đừng chết, hãy về với em. Giọt máu của anh đang lớn dần trong em. Em có thể chờ anh bao lâu cũng được. Anh không về, chẳng lẽ đời em bất hạnh đến thế sao!

- Mẹ yêu bố con thế sao ngần ấy năm không tìm cách về quê bố con.

- Biết chỗ nào để tìm, mẹ cũng chưa từng đi xa bao giờ, chỉ tin một điều, nếu bố con còn sống, cho dầu bị thương nặng, vẫn tìm về với mẹ, hoặc viết thư báo. Không có tin tức gì tức là bố con đã hy sinh ngoài mặt trận rồi. Mẹ chỉ nhớ, khi mẹ hỏi, quê anh ở đâu? Bố con nói: Ở nơi con sông Đà và con sông Thao gặp nhau, làng ở ven sông.

Con có học, thử dò tìm xem, đến vùng quê ấy hỏi thăm may ra thấy. Nếu tìm được, mẹ còn giữ những bức thư của bố con, người thân chắc nhận ra ngay. Bố con là con út trong một gia đình những tám anh chị em kia mà.

- Mẹ! Con nhất định tìm bằng được, để đưa mẹ và cả nhà về thăm quê nội, nhận anh em. Mẹ tin ở con, không làm được việc ấy, không đáng mặt là con của mẹ. Còn thấy có tội với mẹ và bố con nữa.

Mẹ! Bố mẹ quen nhau tính năm thì nhiều, những ngày được ở bên nhau tính không hết mười đầu ngón tay. Xa nhau biền biệt thế, hình ảnh, kỷ niệm nào của bố còn mãi trong lòng mẹ.

- Bố mẹ thực sự sống tình vợ chồng vẻn vẹn sáu ngày. Bác Sâm đón bà ngoại sang nhà chơi, như có ý để bố và mẹ được sống bên nhau, không phải giữ ý gì. Bố con bảo:

- Để cho anh được chăm sóc em. Em không được mó tay làm bất cứ việc gì, kể cả quét nhà, nấu ăn, rửa bát, giặt rũ… Anh muốn em được sống trong vòng tay yêu thương của anh. Cũng muốn em được biết cái tình vợ chồng là như thế nào. Mấy ngày ngắn ngủi, mẹ đã cảm nhận đầy đủ tình thương yêu của bố con với mẹ, cảm nhận thấy, thế nào là hạnh phúc.

Kỷ niệm còn sống mãi trong lòng mẹ lại là giây phút, bố con về quê lên đường nhập ngũ. Bố bảo mẹ: Em đừng đi tiễn, anh đi tắt qua cánh đồng, qua quán Cây Bàng. Đến gò đất cao ở quán này, đứng lên đấy. Em đứng ở cổng làng nhìn ra sẽ thấy rõ anh. Anh muốn dành cho em kỷ niệm bất ngờ để em không bao giờ quên anh.

Bố đứng lên gò đất đó, lấy cây sáo trúc ra, khua lên cho mẹ nhìn thấy rồi thổi bài hát “Bài ca hy vọng”. Tiếng sáo vang vọng trên cánh đồng quê, nghe rõ lắm. Nhiều người nghe tiếng sáo, đến đứng cạnh mẹ. Họ nói: Người ấy là ai, thổi sáo hay thế. Mẹ biết bài hát ấy, được nghe bố con thổi rồi. Tiếng sáo đang ngân câu cuối cùng “Gió mưa, buồn thương, mùa đông và mây mù sẽ tan”. Mẹ hiểu nỗi lòng bố muốn nói gì với mẹ. Bố cầm sáo khua khua lên, như gửi lời chào mẹ. Mẹ lấy khăn tay, lau hai hàng nước mắt, nhìn theo bóng bố khuất dần, cho đến khi không nhìn thấy gì nữa.

Cho đến tận bây giờ, mỗi lần nhớ thương bố con quá, mẹ lại ra cổng làng, nhìn ra gò đất cao ở quán Cây Bàng. Như thấy bố con đang đứng đó, thổi sáo, rồi giơ tay chào mẹ. Đó là nơi lần cuối cùng mẹ nhìn thấy bố.

Vợ chồng con và các cháu là nguồn an ủi lớn nhất để mẹ sống trên cõi đời này.

Vậy là, hình ảnh bố chưa bao giờ nguội lạnh trong lòng mẹ.

*

Tôi quyết định đi tìm quê bố. Nhìn trên bản đồ tôi nhận ra ngay vùng quê bố đã nói với mẹ, chỉ không rõ làng nào, xã nào. Tôi đã đến vùng quê ấy, không mấy khó khăn tìm được người thân của bố. Bác cả nhìn thấy tôi, mừng rỡ, nói như reo:

- Thằng Hiếu, vẫn còn sống, sao bây giờ mới về.

- Dạ! Cháu là con bố Hiếu tên là Chiến.

- Vậy sao, cháu giống bố quá, không thể lẫn được với ai, quê Thái Bình. Hồi bố cháu về đi bộ đội, xin phép anh chị về dưới đó thăm bạn gái. Cái phúc của nhà này còn lớn lắm. Mừng rồi, cháu ở lại chơi mấy ngày, rồi về đón mẹ và cả nhà lên đây, tổ chức lễ đoàn viên, nhận anh em, dòng tộc.

- Để cháu điện cho mẹ cháu mừng. Mẹ cháu đang lo, chưa cưới xin, chưa một lần hai nhà gặp mặt, tự động đến với nhau. Không biết nói thế nào cho các bác, các bá tin và thông cảm, ngoài mấy bức thư bố cháu viết cho mẹ, làm bằng chứng. Bác để cháu về ngay, đón mẹ và gia đình cháu lên.

- Cháu là bằng chứng sống để tin rồi, còn nghi ngờ gì nữa, còn cần bằng chứng gì khác sao. Cháu giống hệt bố cháu, nhìn thấy cháu bác tưởng là bố cháu ngay.

Bác vào nhà, thắp hương, đứng trước bàn thờ tổ tiên, chấp tay vái, rồi nói:

- Hiếu ơi! Con em đã tìm được đường về quê rồi, tới đây đưa vợ em và các cháu về. Em nằm ở phương trời nào, mảnh đất nào hãy yên lòng an nghỉ. Được gặp con em, cả nhà mừng lắm.

Bác bảo tôi vào thắp hương, vái cho tổ tiên nhận mặt.

Ở lại chơi thăm anh em, chú bác, nội, ngoại một ngày, tôi xin phép về. Về đến nhà, mẹ ra tận cổng đón, nói ngay:

- Mẹ đã bảo vợ con thuê chiếc xe bảy chỗ, đưa cả nhà về. Nghe điện thoại của con, mẹ vừa mừng, vừa tủi, vừa xót xa, nước mắt cứ tự dưng tuôn ra. Ngày đầu tiên về nhà chồng, cũng là lần đầu tiên thắp nén hương kính tổ tiên, kính hương hồn chồng mình về chứng dám. Mẹ đã thầm gọi bố con: Anh Hiếu ơi, có khôn thiêng về đón em cùng con cháu về nhà anh đi. Mẹ biết thế nào bố con cũng cùng về, khi mẹ cầu xin như vậy.

- Mẹ! Bố con đi bộ đội hy sinh, con đã tìm được gia đình bố con rồi, liệu gia đình mình có được là gia đình liệt sỹ không?

- Mẹ chẳng bao giờ muốn điều đó xảy ra. Từng phút, từng giây bố như vẫn đang sống bên cạnh mẹ. Với mẹ bố con chưa bao giờ hy sinh cả, nhớ lấy!

Mẹ nói, giọng không vui, tôi chưa bao giờ thấy mẹ như thế. Rồi mẹ ngậm ngùi như nói với chính mình:

- Không biết, trên thế gian này còn có bao nhiêu người mẹ rơi vào cảnh ngộ như tôi!

T.H.V

 









Lượt xem: 43 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
27

Lượt truy cập:
380.403