CỤ HOÁT. TRUYỆN NGẮN CỦA THÙY DUNG
Chủ nhật, ngày 21 tháng 7 năm 2019 - 14:3

Con đường đầy ổ gà với đá hộc đã bao nhiêu năm tồn tại, nó tồn tại như một cái áo cũ nhưng chưa rách nên vẫn còn mặc. Cuối đường này là ngõ cụt không liên thông với đường quốc lộ nên cứ để đấy đã. Ngày nắng bụi mù, xóc đến long ruột. Ngày mưa từng vũng nước ngập hết bánh xe nhoen nhoét bùn. Trong làng, trên xe của mỗi người đều chuẩn bị một chiếc que tre bằng hai ngón tay chẻ dẹt được miết cạnh cẩn thận, để có thể chọc vào bất kỳ chỗ nào trên bánh xe dính đất. Kêu thấu không tới trời, làng đành bỏ công sức tự đào đất, đá thuê công nông chở đến từng ổ gà vá lại. Một thời gian sau thì những chiếc ổ ấy trở về như cũ, lại bụi mù, lại xóc lộn ruột và bùn lại ngập bánh xe, dân làng lại… vá!

Ngôi nhà của cụ Hoát nằm chon von lưng lửng quả đồi, ngôi nhà sàn bằng gỗ lợp lá cọ duy nhất còn sót lại. Ngày hè khi mở toang hết cửa gió tứ bề lồng lộng, phảng phất mùi hương tự nhiên từ những loài hoa dại, loại quả chín trong vườn, gió mang hơi mát từ lá xanh nguyên và cả tiếng líu lo của đàn chim rừng ăn quả chín. Phía trước nhà là dòng suối, quanh năm nước đầy ăm ắp, hai bên bờ um tùm cây cỏ, những cây vối tự nhiên chờm từng cành là là mặt nước, chỗ nước tĩnh này là chỗ trú của nhiều loài cá, ngày hè nóng nực cá bơi về phía gốc cây tránh nắng dưới làn nước trong veo chúng giương đôi mắt tròn vo lơ đễnh đớp đớp không khí. Những chú rô phi mẹ nhởn nhơ nhả đàn con ra khỏi miệng, rồi lại há miệng cho đàn con chui vào. Những con bống ngoan ngoãn, hiền lành nằm tận đáy lim dim… Ngay trên bờ suối, rau cụ trồng xanh mơn mởn, mỗi loại theo từng luống ngọn vươn chi chít, loại này bấu víu vào loại kia, những loại rau hoang cũng chen chúc với rau trồng.

Thằng May bê mâm cơm đặt giữa nhà, nó ngoan ngoãn:

- Ông ơi! Con mời ông ăn cơm!

Đặt chiếc quạt nan đang phe phẩy, ông đứng dậy:

- Ừ, mày lấy ớt cho ông chưa?

- Con lấy rồi nhưng hết quả xanh chỉ còn quả chín thôi ông ạ!

Thằng May biết ông nghiện ớt nên trong bữa ăn bao giờ món ớt cũng là món mà thằng May làm cẩn thận nhất, nó lấy thìa muối đổ vào chiếc bát con rồi nhặt những viên than hồng nhất trong bếp thả vào, vừa khuấy vừa thổi cho than hồng đều, từng hạt muối chín dần nổ lách tách khi thấy muối trong bát trắng đều thì nhặt những viên than ra, thổi sạch bụi than trong bát. Ớt xanh nướng xém vỏ rồi cạo lớp ngoài, một nhánh gừng cũng lùi trong than bếp lấy ra cạo sạch, cả ba thứ trộn vào nhau giã nhuyễn, chỉ cần vậy là bữa cơm của ông coi như tươm tất rồi.

Ngồi ăn cơm, ông hỏi thằng May:

- Sáng nay mày ra đồng lúa thế nào rồi, sao về không nói gì với ông? Thằng May vừa đưa cái bát lên miệng, nó vội đặt xuống:

- Ông ơi! Con kể với ông chuyện này ông đừng buồn nhá!

- Thì mày cứ kể đi, đã biết chuyện gì đâu mà buồn với chả không?

- Lúc ngoài ruộng, con nghe mấy bà đi chợ về nói với nhau, cô Thuận chuẩn bị lấy chồng ông ạ, hôm nay hai người đi chợ sắm đồ  - Vừa nói nó vừa nhìn ông ra vẻ như bí hiểm và dò xét.

Ông cười ùng ục, gõ ngón chỏ vào đầu nó:

- Cô ấy lấy chồng thì liên quan gì đến ông cháu mình mà buồn hay không chứ?

- Con tưởng ông cũng thích lấy cô ấy?

Ông cười - Cha bố nhà anh, ăn cơm đi.

Nhưng suốt nửa bữa ăn còn lại khi nghe tin “cô Thuận lấy chồng”  lòng ông chùng xuống, buồn buồn. Người đàn bà ngoài năm mươi tuổi không chồng, có cô con gái nghe dân làng đồn là con của ông đóng cối, khi biết cô mang thai thì ông ấy ra đi và không bao giờ quay trở lại. Bây giờ cô con gái đã lấy chồng ngoài thành phố có một cửa hàng buôn bán nội thất rất khá giả. Hôm nào thấy cô Thuận diện váy mới đi khắp làng vừa đi vừa cười nói hớn hở, gặp ai cũng chào to thậm chí chào cả người ở trong nhà là biết ngay hôm đó con gái về chơi.

Từ ngày bà mất cũng đôi ba lần ông trốn thằng May tòm tem với cô ấy. Thế mà nó cũng biết, thằng này tinh thật!

Minh họa: Tân Hà

 

Nhà cụ Hoát thuộc hàng khá giả trong làng, hoa quả mùa nào loại đấy trĩu trịt, người mua vào tự hái, tự cân rồi tự trả tiền. Gà, vịt đầy sân mỗi tuần lái buôn vào nhặt cả sọt trứng, gà cân từng lồng từ gà thiến, gà một lứa cho đến gà choai. Lợn mỗi năm xuất chuồng vài tấn, cá mỗi năm quét ao một lần. Lái buôn bảo “Mua hàng nhà ông bà bán dễ vì tính ông bà sởi lởi”. Mỗi lần gom tiền được một món, ông bà lại đưa nhau lên ngân hàng. Anh nhân viên đối với ông bà như người thân thiết, tư vấn “con gộp các sổ của ông bà lại thành một sổ, số tiền lớn hơn và lãi suất cũng cao hơn có được không ạ?”. Ông bảo: “Quý hóa quá, cảm ơn anh! Cũng vẫn như mọi lần, tôi xin ký gửi sổ lại trong ngân hàng” - “Vâng ạ!”.

Ông bà có ba người con, hai trai một gái đều lập gia đình và lập nghiệp xa, mỗi năm các con ông về thăm bố mẹ được một lần vào dịp bọn trẻ nghỉ hè, sau đó chúng đi hết vì ngày hè các cháu còn phải học. Ông biết chúng không dám để con ở lại vì vùng này là nông thôn lại là nơi rừng rú.

Ngày anh San - anh lớn đưa người yêu về ra mắt bố mẹ. Ông gọi con trai ra một góc, rồi bảo: “Mày lấy ai là do mày lựa chọn nhưng tao nhìn con bé này không có hậu”.

Anh San tròn mắt nghĩ ông muốn anh lấy vợ rồi ở quê làm ruộng và trông nom ông bà khi về già. Đã có lần ông nói vậy. Nhưng ở quê thì làm sao mà kiếm nổi mỗi ngày vài trăm nghìn? Nhất là vùng quê này, nơi “khỉ ho, cò gáy” cả ngày không có nổi một chiếc ô tô lăn bánh qua đường. Anh khảng khái nói với ông: “Con không về đâu, con sẽ lập nghiệp nơi khác”. Ông bảo: “Ừ nhưng cái ngữ tồ tồ như mày có ra ngoài cũng chỉ bị người ta ăn hiếp thôi con ạ!”.

Đám cưới của anh được tổ chức, ngày thứ tư con dâu về nhà chồng đã đòi bố mẹ chồng cho xem “sổ đỏ”, xem diện tích đất là bao nhiêu và sẽ thế chấp vay được bao nhiêu tiền trong ngân hàng. Ông cười ùng ục “Sổ đỏ tao cắm trong ngân hàng lâu rồi làm gì có ở nhà mà xem - Rồi ông quay sang anh San - Cái ngày mày bảo gửi cho mày mười lăm triệu làm vốn ấy! Sao đến giờ còn chưa giả cho tao?”.

Nếu ngày hôm nay, con dâu không hỏi đến “sổ đỏ” thì ông cũng quên béng món tiền ấy. Ông nhìn con dâu mới bằng con mắt dò xét “Mày vừa chân ướt, chân ráo về đây muốn làm bá chủ à? cứ đợi đấy!” rồi ông cười khẩy:

- Anh chị làm được bao nhiêu thì hưởng chứ vợ chồng già chúng tôi còn tự lo được.

- Nhưng vợ chồng con là cả nên phải lo cho bố mẹ sau này và cũng còn phải lo thờ cúng nữa chứ? - Con dâu lên tiếng.

- Ừa... ừa... đúng rồi... nhưng khi ấy hẵng hay... nhá... nhá!

Vừa nói ông vừa rảo bước về phía cuối nhà và xuống thang. Con Vá chạy lại, lè lưỡi ấm ấm liếm vào chân ông, quẫy đuôi tít mù - Cái thứ dâu với con trơ trẽn, xấc xược, là cái giống gì không biết nữa? Phụ thuộc vào mày chắc vợ chồng tao ra chợ liếm lá bánh lắm, loại đàn bà “mặt sứa gan lim”. Không hiểu sao thằng chết dẫm nó lại chết mê chết mệt mới tài?

Cậu con trai thứ hai của ông tên Sẻ, anh này tính nóng nảy, hấp tấp làm việc gì cũng không thành công, nhưng bù lại vợ lại ngoan hiền, hiếu thảo với bố mẹ và biết chiều chồng. Cuộc sống bó gọn trong hơn chục triệu tiền lương của hai vợ chồng mỗi tháng, vợ tằn tiện và biết vun quén nên không làm phiền đến bố mẹ. Những ngày nghỉ đều đưa con về chơi với ông bà. Ông bảo “Quả đúng, thế gian được vợ hỏng chồng”.

Người con thứ ba là cô con gái - tên Sang theo học ngành Y, khi ra trường lấy anh chồng cùng ngành rồi về quê chồng, tít tắp tận Lai Châu. Sang ít nói nhưng khi đã quyết tâm làm việc gì thì làm cho kỳ được. Chu đáo, có kiến thức biết học hỏi và nhường nhịn nên Sang tiến bộ rất nhanh, bây giờ đã làm đến chức trưởng hay phó gì rồi đấy.

Quan điểm của ông bà với con cái rất rõ ràng, khi đã lớn có gia đình thì tự lo lấy cuộc sống. Chỉ khi thất bại không thể gượng dậy thì quay về mỗi đứa đều có một cánh cửa lúc nào cũng sẵn sàng mở toang để đón chúng.

Cuộc sống đang êm đềm thì bà đã đột ngột ra đi. Không thể nào ông quên được buổi sáng hôm ấy. Như thường lệ, bà dậy sớm đặt lên bếp hông cơm xôi rồi xuống quét gầm sàn, mở cửa chuồng cho gà vịt ra sân, vừa quãi thóc bà vừa gọi: “Cúc... cúc... cúc... cùng... cục...” gà vịt chen chúc ra khỏi chuồng, tiếng của chúng tạo thành một âm thanh rộn rã. Thế rồi bặt đi một khoảng thời gian, mười phút, hai mươi phút không nghe thấy tiếng bà, ông mới bước ra khỏi giường xuống bãi. Trước mắt ông, bà nằm sõng soài trên mặt đất chân tay mềm nhũn, lay gọi nhưng dường như bà không còn biết gì nữa.  Ông vội vã bế bà lên nhà đặt vào giường rồi lấy hai quả trứng cho lên bếp. Ông quay vào giường đặt bà trên cánh tay, đôi môi nhợt nhạt mấp máy, hình như bà muốn nói gì đó nhưng không thành tiếng, đôi mắt khép hờ rồi dần dần nhắm lại… Không bao giờ bà còn mở ra được nữa!

Bỏ lại ông, khiến trong ông là một khoảng trống vắng, buồn đau đến tột cùng. Nhiều đêm sau đó ông vẫn không thể nào ngủ được, đôi mắt hoắm sâu luôn ầng ậc nước, mái tóc nhanh chóng chuyển màu. Ông bắt đầu hoang mang về lằn ranh giữa sự sống và cái chết. Hơn nửa đời người sự tồn tại của đói nghèo loanh quanh đeo bám, dai dẳng như đỉa bám da trâu, bàn tay chai sạm bốc những mảng nắng khắp những quả đồi và từng vuông ruộng. Mồ hôi thấm xuống đất, đất còn vị mặn. Vài năm trở lại đây khấm khá, đủ đầy, cuộc sống của ông bà tiến lên một bậc mới, an nhàn thì bà lại ra đi.

Hết bốn mươi chín ngày, cũng là ngày các con ông phải về đi làm, trong ngôi nhà thênh thang, trống trải chỉ còn ông với chiếc ti vi. Chiếc ti vi màn hình to như màn hình chiếu phim ngoài sân kho thời bao cấp mỗi mùa bóng cả làng kéo đến xem nhờ vì nó thật như những cầu thủ đang di chuyển ngay trước mắt. Mỗi tối các cụ trong làng lại rủ nhau đến nhà ông đánh cờ, uống nước chè và hút thuốc lào vặt. Mỗi cụ một câu chuyện về thời chiến tranh, loạn lạc, thời đói đến mờ mắt, củ sắn còn chia nửa nấu với rau tàu bay húp tạm sống qua ngày, những câu chuyện nham nhở cảnh bần hàn vá víu bằng những tiếng cười chua chát. Những câu chuyện mà đến nay mỗi khi nhắc lại, con người ai cũng không khỏi giật mình bàng hoàng là tại sao trong những thời khắc như vậy con người vẫn còn tồn tại để sống đến ngày hôm nay. Rồi những câu chuyện ấy cũng hết, những câu chuyện cười đan xen chuyện chính trị từ thế giới đến ta cũng hết. Các cụ chuyển đề tài, nối tơ duyên cho cụ Hoát. Thôi thì có người bầu bạn đỡ buồn, bữa cơm sắp lên có hai cái bát cũng còn muốn gắp thêm miếng thịt… Cụ Hoát chỉ cười, cái cười như mếu: Sau đoạn tang vợ, tôi sẽ tính chứ bây giờ thì dấu chân của bà ấy vẫn còn nóng nguyên khắp trong ngôi nhà này, làm vậy sao được.

Khi còn lại một mình trong ngôi nhà trống hơ trống hoác, ông thấy trái tim mình yếu đuối như một đứa trẻ, ôm chiếc áo của bà trong lòng, ước được gặp bà trong giấc mơ nhưng đêm nào cũng không gặp. Ký ức xa xưa về người con gái tuổi mười tám e lê, cầm chiếc nón khép nép bước về nhà ông. Nàng trong trẻo như nước suối đầu nguồn, mỏng manh như làn sương chờn vờn trên mặt nước. Non nớt làm dâu, nàng chịu đựng sự khó tính đến khắt khe của mẹ chồng mà chưa một lần dám cãi lại. Đêm xuống ôm vợ trong lòng cả hai cùng khóc. Ông khóc vì bất lực đã không bảo vệ, che chở được cho người mình yêu. Bởi, chỉ cần ông làm hộ bà một việc là mẹ ông đã tru tréo, bắc ghế chửi cho ba làng bảy tổng cùng nghe. Bà khóc, những giọt nước mắt đắng và ngọt hòa quyện vào nhau, bà thì thầm với ông gọi đó là hạnh phúc.

Giờ nghĩ lại, ông đã khóc thành tiếng, méo mó ông gọi tên bà!

***

Kể từ hôm bà mất,  hôm nay ông mới đi chợ phiên, vừa ngồi xuống hàng thuốc lào Vĩnh Bảo thì cuối chợ nhốn nháo, họ kháo nhau bắt được thằng ăn cắp. Vòng trong, vòng ngoài người lớn, trẻ con những tiếng chửi rủa và cả những tiếng xót xa. Lách vòng người ông bước vào xem thằng ăn cắp mặt mũi nó ra sao, thì trước mặt ông là thằng bé tầm sáu, bẩy tuổi, tay cầm hai cái bánh chưng rán, người thanh niên cao lớn vừa tát bôm bốp mặt nó vừa bắt nó phải nhét cả hai cái bánh vào mồm. Thằng bé mặt sưng đỏ vì đòn vừa khóc vừa xin, mỗi câu nó xin thì người thanh niên lại giáng cho nó một cái tát. Cụ xán lại lôi thằng bé ra, cụ bảo: “Dẫu nó có ăn cắp thì nó bé thế này mày cũng không được đánh nó như thế?”.

Cụ dẫn nó ra hàng bánh trả tiền hai cái bánh mà nó trót lấy, bà lão bán bánh quệt tay qua miệng nhả miếng trầu xuống đất:

- Thằng này nó ăn cắp của tôi nhiều lần lắm rồi, hôm nay mới bắt được đấy. Bé thế này đã ăn cắp, ăn cắp là phải đánh cho chết.

- Con lấy của bà mấy lần rồi - Ông nghiêm mặt nhìn thằng bé!

- Hôm nay con mới đến chợ này là lần đầu tiên - Nó nhìn ông bằng ánh mắt chân thật.

- Mày còn cãi à? - Vừa nói bà vừa giơ bàn tay hộ pháp dọa nó.

- Con nói thật, hôm nay con mới đến đây lần đầu tiên.

Ông chen ngang - Bà thôi đi, tôi tin thằng bé này nó không nói dối.

Nói rồi cụ dắt nó ra ngoài, cụ hỏi:

- Nhà con ở đâu? Bố mẹ con ở nhà không?

- Mẹ con chết rồi! Nhà con họ đốt trồng cây rồi - Nó trả lời tỉnh queo, trên gương mặt không gợn chút đau buồn hay oán thán, ngây ngô như hạt cơm - nó lại cười.

- Bố con đâu?

- Con không biết, con không có bố!

Ông mang thằng bé về nuôi, đặt tên nó là May. Đêm đầu tiên, nó được nằm trên chiếc giường tử tế có gối êm, quạt mát, nó trằn trọc. Đang nằm nó ngồi bật dậy nhìn ông, rồi nó hỏi: “Ông ơi! Ông nuôi con thật à?” - “Không nuôi mày ông mang mày về làm gì? ở với ông phải ngoan nghe chưa?”. Nó nằm xuống, hai tay nó giữ chặt tay ông rồi chỉ một phút sau hơi thở đã đều đều.

Hôm sau ông thịt con gà, cắt dành cho nó hai cái đùi như hai khẩu súng lục, nhìn đĩa thịt gà mắt nó hau háu, nuốt nước miếng ừng ực. Nó cầm đưa ngang lên mắt ngắm nghía “Ông ơi! Con được ăn cái đùi gà này à? Con được ăn không ông?” - “Được, con ăn đi, cả cái kia nữa, cả trong đĩa nữa con muốn ăn bao nhiêu cũng được, con ăn đi!”. Nó sung sướng gặm từng miếng thịt vừa ăn vừa cười vừa khen ngon. Nhìn thằng bé ăn ngon lành như thể từ nhỏ tới giờ nó chưa bao giờ được ăn một bữa ngon, được ăn thoải mái lòng ông trào lên một nỗi xót xa.

Đối với nó mọi thứ trong ngôi nhà đều lạ lẫm, mỗi khi ông đưa cho nó cái gì nó đều hỏi: Cái này con được dùng không? Con được ăn không? Con ngồi đây được không?... Hình như nó vẫn không thể tin nó lại được sống trong một ngôi nhà đàng hoàng như thế, nó đã là thành viên trong gia đình ông. Đầu năm học, ông xin cho nó vào lớp một, học hết cả năm nó không biết chữ nào, gặp ông cô giáo ngán ngẩm “Cháu học kém lắm ông ạ, cả năm cháu viết và đọc được đúng ba chữ Ông, May và Cô” - “Thôi thì trăm sự nhờ cô cố dạy cho cháu tôi biết đọc, biết viết là được rồi”. Năm sau tiến bộ hơn là nhận được mặt 24 chữ cái, năm sau nữa biết ghép vần và đến năm thứ tư thành công vượt bậc là biết đọc và biết viết thì nó quyết không đi học. Ông xoa đầu cười hì hì - Thế là con đã giỏi lắm rồi.

Cuộc sống của hai ông con nương tựa vào nhau, thấm thoát thằng May đã về nhà ông được mười năm, phổng phao là một thanh niên mười bảy tuổi, thay ông làm tất thảy mọi việc trong nhà để ông nghỉ ngơi. Nghĩ đến khi nó trưởng thành, xa xăm ông lo lo về tương lai của nó. Thằng bé học thì mãi không biết chữ nhưng tính nhẩm nhanh hơn cả máy tính. Ông bảo “Thật, trời không nỡ lấy hết của ai cái gì?”.

Sáng sớm hôm ấy, ông bảo: “Hôm nay ông đi có việc cả ngày, con ở nhà tự sắp xếp công việc chiều ông về”.

Đến ngân hàng, gặp cậu nhân viên ông bảo:

- Anh xem số tiền tôi có là bao nhiêu? Tôi muốn chia đều số tiền này thành năm sổ, cho bốn đứa con của tôi và tôi, mỗi sổ đứng tên chính chủ, anh có làm cho tôi được không?

- Được ông ạ! - Cậu nhân viên nhanh nhảu.

- Làm xong tôi muốn ký gửi tại ngân hàng, tôi cũng nhờ các anh sau này khi tôi chết thì các anh chuyển các sổ này về cho các con tôi.

Anh nhân viên hiểu ra ý của cụ - “Vâng, vậy để con dẫn ông lên gặp lãnh đạo”.

Buổi chiều, ông quay về Ủy ban xã. Gặp Chủ tịch, ông trình bày di nguyện - Toàn bộ đất đai vườn tược ông không thừa kế đứng tên con nào, cũng không cắt đất chia sổ. Sau này, đứa nào ở với ông, trông nom khi ông đau yếu và lo hương khói thì được hưởng ngôi nhà ông đang ở, còn ruộng, vườn, nương đồi đứa nào làm được bao nhiêu thì hưởng, tuyệt đối một tấc không được bán - Có tuổi rồi anh ạ, cũng phải tính!

Chủ tịch xã hướng dẫn và giúp ông làm thủ tục, xong việc ông lại bảo: “Anh cho tôi ký gửi tại đây, sau này khi tôi chết thì cũng nhờ các anh công bố với các con của tôi như vậy”.

Ông coi như đã làm xong bổn phận của người cha. Thâm tâm ông cảm thấy thanh thản, yên tâm, lạc quan đánh cờ cùng các cụ mỗi tối.

***

Đúng như ông dự tính, cuối tuần ấy vợ chồng anh San về nhà, nói với ông việc thừa kế cho con cả. Đôi mắt con dâu gườm gườm nhìn thằng May.

- Bây giờ còn minh mẫn, bố làm thừa kế kẻo sau này khó lắm bố ạ!

Ông cười ùng ục: - Tao còn sống lâu, chúng mày không phải lo không được thừa kế.

Nói rồi ông cầm con dao quắm lên đồi, lũ chim kéo đàn, gọi bầy ăn hồng chín nghe tiếng chân người chúng xao xác bay, cuối thu những cây hồng còn trơ quả đỏ như những chùm hoa gạo tháng Ba. Gom những chiếc lá quế, ông nằm xuống, nhìn xuyên qua những kẽ lá dải mây màu trắng vắt trên nền trời xanh, gió mơn man, du dương, mùi quế thơm cay lẫn trong không khí, ông nghe trong lòng thư thái đến lạ thường.

Nông Tiến, tháng 6/2019

T.D

 

Tin mới nhất









Lượt xem: 52 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
8

Lượt truy cập:
381.077