CỰU PHÁO BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ KỂ CHUYỆN. GHI CHÉP CỦA ĐỖ ANH MỸ
Thứ 5, ngày 4 tháng 7 năm 2019 - 8:53

- Ngày ấy tôi còn trẻ, khỏe, đẹp trai, không lọm khọm già nua thế này đâu. Nhưng nhìn thế này thôi, năm nay tôi chín sáu tuổi rồi, thi thoảng vẫn ngồi xe máy từ Sơn Dương sang thăm cháu bên thành phố được đấy!

Cụ Dương Văn Dư, hai hố mắt sâu nhăn nheo, gật gù. Nhờ lưng chén rượu đám cưới cháu, hôm nay, cụ mới hé hàm răng cái còn cái mất, miệng móm mém, bấy lâu giữ kín bao nhiêu điều huyền thoại về cuộc hành quân thần kỳ của pháo binh ta từ mặt trận Đông Bắc (Lạng Sơn) sang Tây Bắc tham gia chiến dịch Trần Đình. Câu chuyện đã đến độ tự nó tuôn ra từ ký ức:

- Hồi ấy tôi là Trung đội trưởng trung đội một, Tiểu đoàn hai, được đào tạo lớp pháo cao xạ bên kia biên giới. Tiểu đoàn tôi thuộc Trung đoàn 367 Đại đoàn 350. Ngày xưa, tuyển một anh lính pháo binh, khó như bây giờ tuyển phi công lái máy bay đấy, toàn những anh to cây ở các đơn vị đưa về. Trên đường hành quân, các cô dân công mê mải ngắm mấy anh lính pháo, vấp ngã, có cô bị bật cả móng chân đấy!

Chuyện hơi lạ, cụ Dư ở vùng cao, sống giữa dân bản, lại không thích rượu, không nghiện thuốc lào, thuốc lá. Đi thêm chén nước chè, cụ kể:

- Chiều hôm ấy, tôi chỉ nhớ một ngày trời rét cóng tay, trước Tết Giáp Ngọ, đơn vị tôi được gọi lên tiểu đoàn nhận phần thịt trâu về cho bộ đội ăn tươi. Lần nào cũng vậy, lính pháo đã quen, cứ được ăn tươi, y như rằng ngày mai ra trận. Mà liên hoan lần này có thịt trâu, có cả rượu, bộ đội không khỏi bàn tán, nếu mai không phải đánh lớn, thì cũng chiến dịch nào rồi. Nhưng rất bất ngờ, sớm hôm sau, chúng tôi được lệnh tháo súng, đóng đạn vào hòm. Chập tối, khi trong bản thấp thoáng ánh đèn, đơn vị được lệnh tập hợp. Thế là, không ai kịp chia tay bà con nơi đóng quân. Từ đó, cứ lặn mặt trời, con chim đa đa không kêu “bắt tép kho cà” nữa, là bộ đội ăn cơm. Khi các lán dân công lên đèn, bộ đội lại cõng đạn trên lưng, khiêng pháo lên vai xuyên rừng, xuyên bản đi về phía mặt trời lặn. Sáng ra, nghe tiếng gà rừng gáy, bộ đội lại được lệnh ghé vào lán đơn vị dân công nào đó nghỉ chân, ngủ nhờ.

Hồi ấy, cấp trên chỉ có thông báo, đơn vị pháo tôi tham gia chiến dịch Trần Đình. Còn mặt trận ở đâu, vẫn là điều bí mật. Đến ngày nổ súng, bộ đội mới vỡ ra, Trần Đình chính là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ba tháng khiêng pháo trên vai, ngày nghỉ đêm đi, thần tốc từ Lạng Sơn về Đồng Mỏ, về Nhã Nam, theo Quốc lộ 37 đi Thái Nguyên. Từ Thái Nguyên qua Đèo Khế sang đất Đăng Châu, huyện lỵ Sơn Dương. Sơn Dương hồi ấy là Thủ đô Kháng chiến. Đăng Châu cũng là nơi tôi sinh ra. Cũng từ đây, tôi tòng quân vào bộ đội. Hôm hành quân qua làng, tôi bỗng nhớ nhà, nhớ đứa em út, nhớ cả những thửa ruộng ngày xưa tôi cùng bố mẹ ra bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cày thuê, bừa mướn. Mấy năm chiến đấu xa nhà, nay hành quân qua làng, tôi đã là một Trung đội trưởng pháo binh. Tôi mong được gặp cô bạn gái mà hồi còn ở nhà, bạn bè cứ gán ghép tôi với cô ấy, để được hãnh diện. Nhưng vì kỷ luật giữ bí mật, tôi đành nằm trên lán dân công cạnh làng, nhớ nhà muốn khóc!

Từ Đèo Khế, đơn vị hành quân qua bến Bình Ca, theo đường Hiên về Yên Bái, xuống Ba Khe. Ba Khe, có một dấu ấn khó quên, lần đầu pháo binh ta được trang bị pháo 105 và pháo 175 ly. Đơn vị sáp nhập thành trung đoàn, gọi Trung đoàn 367, thuộc Đại đoàn 350. Cũng từ Ba Khe, các khẩu pháo lại được lắp lại hoàn chỉnh, đường hành quân có xe xích (đầu máy cày từ Trung Quốc đưa sang) kéo đi. Pháo thủ số 1, số 2, số 3, số 4 được ngồi trên mâm pháo, trông oai vệ lắm!

Gọi là bộ đội pháo binh, nhưng vũ khí ngày ấy còn thô sơ, nghèo nàn, chủ lực là 12 ly 7. Đơn vị tôi là Trung đội chủ lực, mới có 3 khẩu 105. Cả Đại đội có một khẩu 175 ly. Mở màn chiến dịch, “đồng chí bạn” mới trang bị bổ sung cho ta một số binh khí mới. Ngày ấy, chuyển vũ khí viện trợ qua biên giới cũng là một huyền thoại. Người Da-nã-đại, giám sát viên quốc tế, xuất hiện bất cứ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Súng đã vậy, đạn còn thiếu thốn hơn nhiều. Chỉ tiêu xiết cò pháo thủ 12 ly 7, chỉ được phép bắn 3 - 6 viên mỗi loạt. Xiết cò quá tay, lập tức đem ra kiểm điểm. Nhưng vào chiến dịch, đạn được cung cấp nhiều hơn, bộ đội pháo binh được bắn xả láng.

Cuộc hành quân từ Ba Khe qua Nà Sản, vượt sông Tạ Khoa, qua đèo Pha Đin mới đáng gọi là hành quân ra mặt trận. Trên trời, máy bay bà già do thám, hễ nó nghiêng cánh vào đâu, lập tức máy bay Đa-cô-ta đến bắn như vãi đạn xuống đó. Máy bay khu trục cổ dài như cổ ngỗng, chở hàng tấn bom đổ vô tội vạ xuống những nơi chúng nghi có bộ đội chủ lực. Tạ Khoa là khúc sông yết hầu đường lên chiến dịch. Giặc Pháp không tiếc bom đạn đổ xuống đoạn sông này, hòng phát hiện, ngăn chặn không cho pháo binh ta lên Điện Biên. Đêm đêm, pháo sáng bắn lên sáng rực hai bờ sông, chỉ cần một cái nón qua sông đã bị phát hiện. Hễ thấy động tĩnh, bọn Pháp lập tức huy động hàng chục máy bay đến ném bom. Máy bay Đơ-xanh-xít cái đít cong cong, đến lượn ba vòng rồi thả bom dây san phẳng cả những gò đất. Máy bay bà già do thám ngày đêm. Tình cờ, quân ta phát hiện, giặc Pháp cho một toán thám báo có đủ điện đài nhảy dù xuống thung lũng bên kia bờ sông Tạ Khoa. Đêm đến, chúng liên tục bắn pháo sáng, giương cặp mắt điện tử nhằm phát hiện pháo binh ta vượt sông, kéo pháo lên Điện Biên Phủ.

Minh họa: Lê Cù Thuần

 

Để chọc thủng tai mắt bọn do thám, tôi được lệnh dẫn một tổ sang tiêu diệt bọn thám báo. Nói là tiêu diệt, nhưng cấp trên nhắc đi nhắc lại yêu cầu: - Các cậu phải mưu trí, bắt sống toàn bộ toán thám báo, thu toàn bộ điện đài phục vụ chiến dịch!

Sông Tạ Khoa khúc này vừa rộng vừa sâu; nước sông chảy xiết. Máy bay không ngày nào không đổ bom xuống đoạn sông này. Hàng tấn bom nổ chậm nằm dưới đáy sông khiến con sông hiền hòa thơ mộng giờ chứa đựng đầy thần chết. Tháng Ba, rét Nàng Bân cắt vào da. Chúng tôi cởi trần, ôm súng, đeo lá ngụy trang bơi qua sông để khỏi bị phát hiện. Gần ra đến giữa dòng, tôi nghe phía sau có đồng chí vừa rét run, vừa thở, hỏi:

- Sắp kiệt sức rồi. Liệu có bơi được qua

sông không?

- Bây giờ, cậu có quay lại cũng không đủ sức bơi về đâu! - Tôi cũng đang mệt đứt hơi, động viên đồng đội.

Cái đói, cái rét, cái mệt muốn dìm chúng tôi xuống đáy sông. Chúng tôi hết bơi ếch, lại bơi ngửa, mệt quá thì nằm yên, ngửa mặt lên trời, nghỉ tạm. Cuối cùng, sau gần tiếng đồng hồ vật lộn với dòng nước, tổ tôi cũng qua được bờ bên kia, củng cố đội hình, bí mật áp sát cái lều bạt dã chiến của bọn thám báo. Tôi khép đơn vị vào thế bao vây, lấy tay làm loa gọi:

- Các anh nghe đây! Các anh đã bị bao vây. Bộ đội Cụ Hồ đang mỗi ngày xiết chặt vòng vây Điện Biên Phủ. Các anh muốn trở về với bố mẹ, vợ con thì đầu hàng vô điều kiện, sẽ được khoan hồng. Còn ngoan cố, tôi đếm đến ba không đầu hàng, nhất định sẽ bị tiêu diệt!

Thật không ngờ, tôi vừa đếm đến hai, đã thấy một lá cờ trắng, không biết bọn thám báo đã chuẩn bị từ bao giờ, cắm trước cửa lều bạt. Bọn thám báo có một tên lính da đen cầm đầu, còn lại, là lính khố đỏ. Tù binh được phát mỗi đứa một đoạn cây chuối rừng làm phao, theo chúng tôi vượt sông bơi về bên kia. Cấp trên cho một đơn vị thông tin của ta sang tiếp quản lều bạt, chỉ giữ lại tên điện đài đánh moóc. Từ đó công nhận, các khẩu pháo của ta ung dung vượt sông bằng phà lớn. Từ cái lều bạt bên kia sông, đêm đêm chiến sỹ thông tin ta chỉ huy cho pháo sáng địch bắn soi đường cho bộ đội, dân công ta lần lượt qua phà. Thi thoảng, những tốp máy bay địch vẫn được gọi đến ném bom xuống bến sông như đổ ốc, nhưng chỉ những lúc trên sông không có bộ đội, dân công qua sông thôi!

Bộ đội Pháo binh phải vừa đi vừa nhờ dân công mở đường. Cứ ba bốn mét đường được mở, kéo pháo qua, dân công lại lấp lá ngụy trang, đề phòng máy bay do thám. Đêm chiến dịch, rừng Tây Bắc nhộn nhịp như phố. Gian khổ, nguy hiểm nhưng có thể nói, đường chiến dịch không đêm nào vắng câu hò, tiếng hát. Đường đi, bộ đội kéo pháo đi một bên, dân công gánh gạo, vác đạn đi một bên, chuyện trò, hát ghẹo, hát đối râm ran; người hỏi thăm nhà, thăm quê, thăm bạn bè, tìm người thân. Có nhà, bố đi dân công hỏa tuyến gặp được con là bộ đội Điện Biên. Đường ra mặt trận không lúc nào vắng tiếng cười. Con gái Tây Bắc xinh lắm. Nếu các cô gái Mường có dáng người thon thả, ánh mắt đượm buồn, gợi cảm, con gái Tày - Nùng quê tôi có ánh mắt lanh lợi, thông minh, thì mắt các cô gái Thái Tây - Bắc lại sâu thăm thẳm, cứ như muốn thấu cả tim gan. Có anh bộ đội mới gặp một lần, mà đêm đã nằm mơ. Nhưng nguy hiểm, gian nan, phải nói kéo pháo qua đèo Pha Đin. Rừng hồi ấy, cây to mấy người ôm. Đá tai mèo lởm chởm, dốc đứng, càng mưa càng sắc nhọn. Đoạn thì, có những khoảnh đồi gianh thoai thoải, trời mưa, kéo pháo trơn như đổ mỡ. Có đơn vị sơ sểnh, để pháo lăn xuống vực không kéo lên được. Bộ đội ôm nhau khóc như trẻ con, tiếc súng, tiếc công, sợ thiếu vũ khí cho mặt trận!

Những tháng mưa dầm vùng Tây - Bắc thật khó quên. Mưa thối đất, thối rừng, mưa bộ đội không nấu được cơm ăn. Mà từ Ba Khe trở lên, bộ đội ăn toàn cơm nếp, người ốm mới được ăn cơm tẻ. Ba lạng gạo tẻ, được ba bát mỗi bữa. Nhưng ba lạng gạo nếp, nấu khéo thì được hai lưng. Ấy là chưa kể, nhiều anh nuôi ở nhà chưa nấu cơm nếp bao giờ, nấu nát như cháo, mà hạt gạo vẫn xượng. Bộ đội đói, hái lá rừng, hái rau tầu bay ăn lấy sức kéo pháo. Nhưng khi chiến dịch mở màn, đạn bắn thả phanh, cơm ăn căng bụng. Thịt trâu khô Trung Quốc không bữa nào hết, chỉ tội hơi bị mặn!

Qua đèo Pha Đin, đi thêm hai ngày, chúng tôi được lệnh kéo pháo lên núi, vào trận địa. Mà sao, rừng Điện Biên lắm hoa ban thế, trắng cả đường đi. Những khẩu pháo cỡ lớn nằm trên trận địa, khoác trên mình cành hoa ban ngụy trang, trông thật kiều diễm. Sau này được trở lại Điện Biên dự Lễ kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tôi mới biết, chúng tôi đã kéo pháo lên Mường Phăng, cách căn hầm chỉ huy sở của đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp hơn chục cây số. Mường Phăng, theo cách gọi của người Thái, là mường lạnh. Từ trên trận địa pháo nhìn xuống thung lũng Mường Thanh, lúa đang thì chắc hạt, trông giống như tấm thảm thêu vàng óng. Bao quanh là cánh rừng bạt ngàn hoa ban, tựa một bức khung thêu mượt mà. Không thể có nơi nào đẹp mà êm đềm hơn thế! Chỉ tiếc, bộ đội pháo binh ít anh biết làm thơ. Vậy mà, từ trung tâm tấm thảm thêu hòa bình ấy, ngày ngày những chiếc máy bay địch lên xuống sân bay Mường Thanh đem bom đạn đi, đổ sự chết chóc đến bất cứ nơi nào. Cũng từ trên các trận địa pháo cao xạ, chúng tôi hồi hộp theo dõi từng mũi chiến hào của ta ngày càng dài ra, khép vào nhau như một cái mạng nhện khổng lồ, giăng lưới bắt quân xâm lược.

Ngồi trên mâm pháo cài đầy hoa ban, chúng tôi thường nghe máy bay bà già Pháp gọi loa khích lệ quân lính, rằng pháo binh Việt Nam hiện chưa thể vượt sông Tạ Khoa. Bọn tôi nghe mãi nhàm tai, có anh buồn mồm chửi: “Ông nội bay đã ngồi trên đầu bay từ lâu rồi!”. Nghĩ lại, tôi mới thấy, chúng tôi toàn hành quân đêm, hàng trăm cây số, qua bao nhiêu bản làng, nhưng đến đâu cũng không thấy bà con ra chào đón. Về sau mới biết, đó là kỷ luật giữ bí mật. Nhà nào tò mò, mở cửa xem bộ đội pháo binh hành quân sẽ bị tự vệ đoàn gọi ra nhắc nhở. Rồi cả chuyện chúng tôi bắt sống bọn thám báo ở bến sông Tạ Khoa, bắt làm việc cho mình.

Sau khi đưa pháo vào trận địa, bộ đội được nghỉ ngơi. Sức khỏe trở lại, tinh thần đang hăng. Mỗi lần ngồi trên mâm pháo nhìn những chiếc máy bay  Đa-cô-ta thản nhiên bay trên bầu trời Mường Thanh tiếp tế cho quân địch ở dưới mặt đất, hoặc những chiếc máy bay hai thân ngang nhiên ngóc đầu, trút cả đại đội lính dù xuống trận địa, chúng tôi, ai cũng muốn nổ súng, bắn gãy cổ những tốp máy bay địch đi gieo tội ác, san bằng những cái lô cốt nhấp nhô như những mụn ghẻ mắc trên thung lũng Mường Thanh, rửa hận cho các chiến sỹ công binh ngày đêm đào hầm đã bị chúng sát hại, thì một hôm, chúng tôi được lệnh kéo pháo xuống núi, chuyển đến khu an toàn, cách trận địa mấy chục cây số, chờ đợi. Bộ đội hoang mang. Ai nấy đều tỏ thái độ bất bình với quyết định kéo pháo ra chờ. Lính pháo buồn, cả ngày không ai muốn nói với ai. Hễ có người chọc tức là khùng lên lập tức. Những ngày chờ đợi hết sức nặng nề cũng qua đi. Pháo binh lại được bổ sung thêm cơ số đạn, được trang bị thêm những khẩu pháo cỡ lớn, ai nấy háo hức, tin tưởng vào Ban chỉ huy chiến dịch.

Các bác không thể hiểu nổi cái sung sướng của bộ đội pháo binh ta lần đầu tiên vít cổ được máy bay địch còn chở đầy bom đạn nổ tung trên bầu trời mặt trận, ngay trên sân bay chúng vừa cất cánh như thế nào đâu! Có anh vui sướng quá mà bật khóc đấy. Nếu ngần ấy bom đạn nó chở đi được, bao nhiêu bộ đội ta sẽ phải hy sinh? Bao nhiêu công sự ta đào đêm, đào ngày, dưới đủ các làn đạn của địch sẽ bị bom san phẳng? Những khẩu pháo địch trên các cứ điểm, hễ khạc đạn, lập tức bị pháo ta phản pháo, bắt phải câm họng. Pháo địch phản pháo lợi hại hơn ta. Nhưng những trận địa pháo ta thường đặt đằng sau núi đá, pháo địch chịu cứng. Khi pháo không phản được pháo, bọn địch đâm ra lưu manh, cho bộ binh mò lên đánh úp trận địa pháo ta. Pháo ta cũng đành hạ nòng, đất đối không chán, giờ đất đối đất, hạ nòng pháo bắn thẳng, cũng hay! Bộ đội pháo cũng bị hy sinh, nhưng nói chung không nhiều. Từ bữa 12 ly 7 của ta đẩy được máy bay địch lên cao, pháo cao xạ của ta bình quân mỗi ngày vặt cổ, cho nổ tung hơn một chiếc máy bay địch (năm mươi sáu ngày đêm, hạ được 64 máy bay). Pháo ta làm chủ bầu trời. Từ đó, máy bay Đa-cô-ta bay vào tiếp tế cho quân giặc, cứ vu vơ tít trên cao, thả hàng tiếp tế xuống trận địa của ta. Có đơn vị còn nhặt được cả bông mai phong hàm cấp tướng của tướng Đờ-cát. Thịt hộp của Pháp mới ngon, không mặn như thịt trâu khô Trung Quốc.

Vừa lúc chúng tôi sung sướng ôm nhau nhảy múa, khóc nức nở vì vui mừng khi tận mắt nhìn thấy tướng Đờ-cát cùng toàn bộ Ban chỉ huy tướng giặc và cả dây dài tù binh bị dẫn giải từ hầm Đờ-cát ra sân bay, cũng là lúc chúng tôi nhận lệnh kéo pháo về xuôi. Thầy trò kéo nhau về đến Đèo Khế, Sơn Dương thì nghe tin chiến dịch kết thúc. Đơn vị dừng chân, lại được một bữa liên hoan có rượu, nhưng vẫn không được hò hét, vì lúc bấy giờ, chúng tôi còn phải bí mật kéo pháo về bảo vệ Thủ đô. Hòa bình, bộ đội đã lần lượt trở về làng. Riêng lính pháo binh chưa ai được rời trận địa. Làng tôi đã đồn, tôi bị hy sinh! Bố mẹ tôi âm thầm khóc ngày khóc đêm. Cô gái ngày xưa chế nhau có ý chờ tôi, lâu không thấy tôi về, sợ muộn, đã đi lấy chồng.

Thấm thoát mà sáu mươi lăm năm. Cái lưng tôi còng xuống nhiều rồi. Nhưng tôi may mắn, vinh dự hơn nhiều đồng đội. Giờ, mỗi lần nhớ đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi lại nhớ đồng đội, nước mắt cứ thế ứa ra! Đã hai chục năm nay, Hội Cựu chiến binh huyện Sơn Dương tin tưởng giao cho tôi trông coi phần mộ của các liệt sỹ trong Nghĩa trang. Một trăm linh ba chiến sỹ đã đưa phần mộ về đây, có liệt sỹ hy sinh thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, từ chiến trường miền Nam, miền Bắc, chiến trường Lào, chiến trường Campuchia, biên giới phía Bắc. Vẫn còn những ngôi mộ vô danh. Người thân liệt sỹ từ khắp nơi về thắp hương, chỉ cần hỏi tên, nói hy sinh ở mặt trận nào, tôi dẫn họ đến chỉ tận nơi. Hàng ngày, tôi đến để quét dọn nghĩa trang, quét vôi cho các phần mộ. Mồng Một, ngày Rằm, tôi cũng ra nhặt cỏ, thắp hương cho các anh. Ngày vui, lúc buồn, tôi lên nghĩa trang ngồi đọc thơ của đồng chí Tố Hữu, những bài thơ bộ đội thuộc trên đường ra mặt trận, cho các anh nghe. Mỗi lần lên trò chuyện với các anh em, tôi như được sống với ký ức của mình, người lại thấy khỏe ra.

Tháng 6/2019

Đ.A.M









Lượt xem: 38 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
29

Lượt truy cập:
380.406