THƠ TUYÊN QUANG QUA MỘT TRẠI SÁNG TÁC.NHÀ THƠ MAI LIỄU
Thứ 5, ngày 4 tháng 7 năm 2019 - 8:53

Đầu tháng 6 - 2019, Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang mở Trại sáng tác văn học tại thành phố Tuyên Quang. 26 tác giả thơ và văn xuôi của tỉnh đã về dự. Sau lễ khai mạc, Hội tổ chức chuyến đi thực tế đến Điện Biên Phủ - nơi 65 năm về trước quân đội ta mở chiến dịch bao vây, tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và giành chiến thắng vẻ vang, chấn động địa cầu, đánh tan ý chí xâm lược lâu dài đất nước ta của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký kết hiệp định Giơnevơ, mang lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương. Các tác giả cũng được đến tham quan bảo tàng nhà ngục Sơn La, trên đồi Khau Cả thuộc thành phố Sơn La, nơi thực dân Pháp giam cầm các chiến sỹ yêu nước và cách mạng tiền bối của Đảng và của dân tộc ta trước năm 1945... Sau gần 1 tuần đi thực tế, các tác giả về nhà mình hoàn chỉnh bản thảo và nộp cho ban tổ chức trại sáng tác theo lịch của Hội.

Cách làm sáng tạo đó vừa tiết kiệm chi phí cho Hội, vừa tỏ ra có hiệu suất cao. Riêng về thơ, các tác giả đã hoàn thành 100 bài thơ nộp cho ban tổ chức. Đương nhiên, chuyến đi "Qua miền Tây Bắc" là đề tài được các tác giả ưu tiên và dành nhiều tâm huyết cho việc sáng tạo tác phẩm. Nêu bật sự hy sinh, gian khổ và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, Phạm Văn Vui khắc họa chiến công của chiến sỹ Điện Biên Phủ năm xưa qua âm vang tiếng hò kéo pháo vào trận địa:

"Chân các anh cắm sâu vào đất/ Núi cao dựng đứng câu hò/Cuồn cuộn cánh tay trần căng cáp/ Tướp máu giây tời, bỏng rát tiếng hô"... (Âm vang tiếng hò kéo pháo - Phạm Văn Vui).

Sự hy sinh quả cảm của các chiến sỹ Điện Biên năm xưa vẫn có sức động viên, cổ vũ lớn lao các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau:

"Tôi lặng thầm thắp một nén nhang/ Tự thấy lòng mình còn có lỗi/ Hoa phượng viết lên trời những dòng đỏ chói..." (Hoa phượng đỏ trên đồi A1 - Trần Xuân Việt).

Các tác giả: Nguyễn Bình, Nguyễn Kim Thanh, Nguyễn Hữu Dực, Bàn Thị Loan, Nguyễn Mạnh Tữ, Nguyễn Đức Chuyên... cũng tiếp cận đề tài chiến thắng Điện Biên Phủ với góc nhìn khác nhau thể hiện lòng tự hào truyền thống vẻ vang và sự tri ân các anh hùng liệt sỹ đã xả thân vì nước để làm nên chiến công chói lọi làm nức lòng quân dân cả nước và bè bạn năm châu. Tuy nhiên các tác giả cũng cần tìm tòi phát hiện những ý tưởng mới mẻ, bất ngờ để câu thơ, bài thơ có chiều sâu cảm xúc và có tầm tư tưởng sâu sắc. Bên cạnh đó, có tác giả hướng cảm xúc sáng tạo thông qua góc nhìn đương đại về lịch sử:

"Mưa rơi trên nắng ngập ngừng/ Khăn xanh áo cóm thơm lừng Mường Phăng/ ...

"Vô danh bia dựng dưới trời/

Còn như vọng mãi một lời Điện Biên..."

(Cơn mưa tằng cẩu - Lê Na).

Vương Huyền Nhung chú ý đến nét đẹp văn hóa và không gian thanh bình của bản Thái       hôm nay:

"Ngày mây bay trên rẻo cao/ Tang chan dệt vải em đợi/ Cạn đên tiếng pí nỉ non/ Chái nhà vạch thêm tuổi mới..."

(Về miền rẻo cao - Vương Huyền Nhung)

Trong bài viết ngắn này, tôi không có điều kiện nhắc lại những gì đã có dịp trao đổi với các tác giả thơ buổi gặp gỡ trao đổi ở trại sáng tác. Chỉ xin lưu ý một điều: Đề tài cách mạng và kháng chiến đã, đang và còn đồng hành với các tác giả thơ Tuyên Quang. Nhưng thế hệ sau cần đứng trên vai thế hệ đi trước, hôm nay viết về đề tài này phải khác hôm qua, ngày mai phải viết khác hôm nay. Nghĩa là phải mới mẻ hơn về ý tưởng; xúc cảm phải mạnh mẽ và thăng hoa hơn, có như vậy mới hấp dẫn được bạn đọc.

Thơ Tuyên Quang một thời gian dài theo lối viết ngợi ca nên không tránh khỏi cũ mòn và sáo rỗng. Trong khi thơ cả nước đã có những thể nghiệm khác nhau. Nhiều thành công và nhiều vỡ vạc. Hiện nay còn không ít tác giả Tuyên Quang vẫn theo đuổi lối viết cũ, quan niệm sáng tác cũ...

"Toàn dân xây dựng nông thôn mới/ Tiếng hát câu cười vang khắp nơi..." Câu thơ đó không phải chỉ của một người mà là đóng vai trò đại diện cho lối tư duy thơ của một số tác giả dự trại lần này, tuy mức độ có khác nhau nhưng sự sáo mòn vẫn còn khá phổ biến, nhất là các tác giả cao tuổi. Tuy vần điệu được vận dụng nói chung khá nhuần nhuyễn nhưng câu thơ, bài thơ không tạo được cảm xúc, không có bất ngờ nào trong cấu tứ và ngữ nghĩa. Điều đó càng chứng tỏ vần điệu không phải là cái quyết định cho sự thành công của mỗi bài thơ.

Lê Na cũng nhuần nhuyễn trong thể thơ lục bát nhưng tác giả biết nâng tầm cảm xúc nhờ khai thác sự đối lập trong đề tài của bài thơ:

"Nhà chùa vô ngã vị tha/ Nhà nghỉ đếm phút vào ra thu tiền".

(Nhà chùa - nhà nghỉ. Lê Na)

Nguyễn Bình không để lại nhiều ấn tượng trong những bài thơ ca ngợi nhưng có 2 bài "Bình minh" và "Rì sọt" khá ấn tượng bởi ông đề cập đến những phận người nghèo khổ trong cơ chế thị trường nhiều bất trắc hiện nay. Tiếc rằng những đoạn kết câu chữ vẫn bằng phẳng và thô vụng, chưa đủ làm nên một bài thơ hay và độc đáo.

Ngược lại, Vương Huyền Nhung với các bài thơ: "Tôi đi qua tôi", "Độc thoại", "Đôi khi", "Một giấc mơ" đã đi sâu vào nội tâm để nhìn về phía cuộc đời mà trăn trở, nghĩ suy và day dứt... Biết bao xô đập, bão lốc, thờ ơ, lãnh đạm, yêu thương... đều có, đều phải nghĩ suy và lựa chọn cho mình một thái độ sống mà nhiều khi cũng đắng đót vô ngần:

"Ngày mai về với bẽ bàng

Cỏ xanh ngút phía địa đàng hóa tôi".

(Độc thoại - Vương Huyền Nhung)

Tôi không có điều kiện nhắc đến thơ của từng tác giả, chỉ nêu mấy đại diện của các xu hướng thơ tiêu biểu của các tác giả Tuyên Quang qua một trại sáng tác này. Nhưng sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến hai tác giả dân tộc Dao: Bàn Xuân Triều và Bàn Thị Loan. Bàn Thị Loan lẫn vào các tác giả khác trong chùm thơ viết về Điện Biên nhưng chị chứng tỏ ưu thế của mình trong chùm thơ viết cho thiếu nhi. Là một cô giáo vùng cao, chị thấu hiểu nỗi gian truân nghèo khó của các em học sinh dân tộc thiểu số qua lên lớp và tiếp xúc mỗi ngày. Đồng cảm với các em, chị có những bài thơ cảm động, sẻ chia với các em nghèo khó; chia sẻ những ước mơ, khát vọng, tình yêu thương cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo bằng những câu thơ hồn nhiên, trong trẻo như tâm hồn trẻ thơ vùng cao vậy.

Bàn Xuân Triều tâm huyết với mảng văn hóa dân tộc mình. Ông sưu tầm và dịch thuật những bài dân ca Dao.

"Đôi ta mãi mãi được bên nhau/ Bông hoa khác đẹp lòng không ngả/ Cho dù tùng bách già khô héo/ Đến đá ra hoa vẫn chờ nhau..."

(Lời tỏ tình của người Dao - Bàn Xuân Triều st và dịch)

"Thời trẻ mong tết sao lâu thế/ Có tuổi lại mong tết thưa ra..."

(Thời gian và đời người - Bàn Xuân Triều)

"Loại cây cứng thường mọc trên đá/ Người thành tâm thường trận mạc xông pha..."

(Sức mạnh niềm tin - Bàn Xuân Triều)

Cũng giống như cố nhà thơ Bàn Tài Đoàn, trong mấy đoạn trích trên đây, một là thơ dân gian người Dao, hai câu sau là sáng tác của ông. Ông kế thừa lối viết của thơ ca dân gian dân tộc Dao và của nhà thơ lớn người Dao Bàn Tài Đoàn. Thơ Dao nhiều hình ảnh đẹp và lạ. Thơ Bàn Xuân Triều cũng nhiều hình ảnh, câu thơ cô đọng như thành ngữ vậy. Thật đáng mừng. Lâu lắm rồi, từ sau tập thơ mỏng "Vuôm nhuồn dung" (Tiếng hát bên nguồn nước) tập hợp các cây bút người Dao làm thơ viết về đề tài định canh định cư của bà con người Dao Tuyên Quang do Ty Văn hóa thông tin Tuyên Quang xuất bản (có cả truyện thơ dài "Kể chuyện Hồng Tiên" của nhà thơ Bàn Tài Đoàn trong tập này) đến nay tôi mới lại được đọc thơ của người Dao Tuyên Quang đích thực. Rất mừng cho Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang vì sự góp mặt của hai tác giả dân tộc Dao: Bàn Xuân Triều và Bàn Thị Loan.

       Hà Nội, ngày 20/6/2019

M.L









Lượt xem: 92 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
30

Lượt truy cập:
380.403