SỨC SỐNG LÀNG NGHỀ GHI CHÉP CỦA TẠ BÁ HƯƠNG
Thứ 7, ngày 22 tháng 6 năm 2019 - 7:25
Vĩnh Tân là cụm từ được viết tắt của hai địa danh: Vĩnh Bảo và Tân Trào. Vĩnh Bảo là một huyện của thành phố Hải Phòng. Những người đầu tiên từ địa danh này lên Tân Trào khai mở đất đai đã đặt tên cho làng. Từ đây, cả một vùng rừng thiêng, nước độc trước kia đã có một cái tên mới, với mong ước cuộc sống sẽ đổi thay. Trải qua mấy chục năm đoàn kết lao động sản xuất, vóc dáng Vĩnh Tân hôm nay đã thực sự khác xưa. Nhưng ký ức về những năm tháng gian khổ khi đặt chân lên quê mới vẫn còn được nhiều người già trong thôn kể lại, như một kỷ niệm khó quên.

Tân Trào, những ngày nắng hạ.

Hoa nở dọc triền Phó Đáy.

Phó Đáy - một dòng sông lịch sử, nơi này in dấu chân Bác đi qua.

Cả một vùng quê cách mạng rộng lớn, gợi nhớ về những năm dài kháng chiến gian khổ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Cuộc sống nay đã thay da đổi thịt. Sức vóc làng quê bừng thức dưới chân núi Hồng. Song, lòng người nơi Chiến khu cách mạng vẫn thủy chung, son sắt với Đảng, Bác Hồ.

Từ trung tâm xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi ngược vào thôn Vĩnh Tân. Đây là khu dân cư sinh sống của những hộ gia đình ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng lên khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới từ năm 1977. Bốn mươi hai năm khai mở một vùng đất khó, thời gian đủ lớn để tạo nên vóc dáng cho miền quê mới. Những thế hệ người dân Vĩnh Tân hôm nay không chỉ tự hào vì được sống trên mảnh đất thấm đẫm những giá trị lịch sử, mà còn tự hào vì đã góp sức biến nơi rừng thiêng, nước độc xưa kia thành một làng nghề đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang.

Ông Nguyễn Bá Thệ, năm nay 70 tuổi. Ông là những người đầu tiên trong đoàn người từ huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đặt chân lên vùng đất Vĩnh Tân này. Ký ức đọng lại trong ông là hành trình chinh phục đất đai, biến nơi rừng thiêng, nước độc thành những bờ xôi, ruộng mật. Chỉ có tình yêu trong lao động và niềm tin vào tương lai tươi sáng mới giúp những người đầu tiên đặt chân lên rẻo đất này như ông yên tâm gắn bó lâu dài.

Tôi hỏi ông Thệ:

- Bác ơi, ký ức trước đây của bác về vùng đất này thế nào?

Ông Thệ trầm ngâm một lát rồi bảo:

- Anh không tưởng tượng được đâu. Toàn bộ khu vực này trước đây đều để hoang hóa, không có người bản địa ở. Khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ là phong tục, tập quán. Nết ăn, nết ở của đồng bào thiểu số nơi đây cũng khác. Vậy, làm thế nào để hòa nhịp với cuộc sống mới. Đó là vấn đề mà chúng tôi đặt ra và tự đi tìm câu trả lời từ nỗ lực của mỗi con người cụ thể trong thôn.

- Với những khó khăn trước mắt như vậy, làm thế nào để những hộ gia đình từ huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng yên tâm gắn bó với quê mới?

- Lên đây, chúng tôi có những thuận lợi nhất định. Điều đầu tiên là sự giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương để bà con chúng tôi ổn định đời sống và sản xuất. Thêm nữa là đồng bào dân tộc thiểu số ở Tân Trào có truyền thống cách mạng và tình nghĩa thủy chung. Họ giúp đỡ chúng tôi rất nhiều thứ. Rồi, bà con chúng tôi cũng tự động viên nhau thi đua sản xuất, làm ra của cải vật chất để nuôi sống mấy chục con người lúc bấy giờ. Chính những điều này mà số hộ đầu tiên lên Vĩnh Tân đã dần yên tâm gắn bó với vùng đất mới anh ạ.

- Vâng, cuộc sống đi lên từ sự nhọc nhằn và khát vọng của con người. Ông thấy cuộc sống hiện tại ở Vĩnh Tân giờ ra sao?

- Thay đổi nhiều lắm anh ạ. Trước đây, mỗi lần ra xã hay ra huyện, chúng tôi đều phải đi bộ đấy. Tất cả đều nghèo. Nhà nào có tiền muốn sắm cái xe đạp cũng chỉ để ở nhà ngắm thôi, chứ đường mòn thế làm sao mà đi được. Nay thì toàn bộ đường từ trung tâm xã dẫn vào thôn đều đã nhựa hóa. Hàng hóa làm ra đều tiêu thụ dễ dàng. Đám trẻ con trong thôn đi học cũng thuận lợi. Tôi chỉ đơn cử vài nét thế để anh thấy có một Vĩnh Tân khác xưa nhiều lắm.

Dẫn chúng tôi đi dạo trên những con đường bê tông ở Vĩnh Tân, ông Thệ tự hào khoe về vóc dáng làng quê có được từ sự chung sức, đồng lòng của những thế hệ người con Hải Phòng lên xây dựng vùng kinh tế mới. Quả thật, toàn bộ các tuyến đường trong thôn đều đã được bê tông hóa nhờ phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cả khu dân cư giờ 100% là nhà xây kiên cố. Vùng sản xuất hàng hóa được hình thành. Mỗi con người cụ thể nơi đây đang từng ngày đánh thức đất đai, tạo lập một cuộc sống ấm no và tốt đẹp hơn trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Làng quê đang khoác trên mình tấm áo mới, tấm áo của niềm tin về sự đổi thay của một vùng đất khó.

Ở Vĩnh Tân, chè là cây trồng chủ lực. Cây chè theo bước chân người Vĩnh Tân từ những ngày lập làng. Hơn 40 năm đi qua, bà con trong thôn vẫn luôn “duyên nợ” với loại cây trồng này. Từ diện tích nhỏ lẻ, chỉ vài hộ tham gia trồng, với mục đích là tạo ra sản phẩm chè búp khô, phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân, giờ đây cây chè đã có cơ hội phát triển, trở thành loại sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Đi qua những nhọc nhằn và cả sự thăng trầm của đời người, Vĩnh Tân đã có vùng sản xuất chè tập trung, với diện tích trên 128 ha. Cả thôn có 111 hộ dân, thì có tới 98% hộ tham gia sản xuất chè. Thu nhập thực tế của người dân vùng chè nguyên liệu Vĩnh Tân đã đạt bình quân đầu người từ 40 - 45 triệu đồng/người trong năm 2019 này. 

Nhớ lại hôm trước chúng tôi có vào làm việc với anh Phạm Ngọc Thảnh, Trưởng thôn Vĩnh Tân. Anh Thảnh là người sinh ra ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, song lớn lên ở vùng Chiến khu cách mạng Tân Trào. Những ngày gian khó trên hành trình đến miền quê mới, anh chỉ được nghe người già trong thôn kể lại. Với anh, đó là chất liệu quý giá trong cuộc sống, giúp thế hệ trẻ như anh tiếp thêm ngọn lửa để chinh phục và làm giàu trên đất đai quê mới. Với sự nhiệt huyết và uy tín trong cộng đồng ở khu dân cư, anh đã đảm nhiệm vai trò “người vác tù và hàng tổng” từ hàng chục năm nay.

Anh Thảnh không nói về mình, mà chỉ nói về việc lựa chọn hướng đi trong phát triển kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Tân. Tuy nhiên, để có được một vùng chè nguyên liệu lớn nhất xã Tân Trào thì không thể không kể đến vai trò của người trưởng thôn. Anh đã cùng với chi bộ và các tổ chức đoàn thể đi học hỏi kinh nghiệm ở những nơi khác để có thêm kiến thức, giúp người dân trong thôn tập trung đầu tư nâng cao chất lượng và sản lượng chè. Rồi, anh lại cùng với chính quyền địa phương xây dựng đề án thành lập HTX sản xuất chè, gắn với xây dựng làng nghề. Nhờ đó, năm 2014, Vĩnh Tân là thôn đầu tiên của tỉnh được công nhận làng nghề sản xuất chè. Từ đó đến nay, chè Vĩnh Tân không những tìm được chỗ đứng trên thị trường xuất khẩu mà còn trở thành một trong những sản phẩm chè có tiếng, được khách hàng ưa chuộng.

Anh Thảnh bảo:

- Những năm trước đây, hầu hết diện tích chè ở Vĩnh Tân đều trồng bằng giống chè hạt Trung do. Do đó, chất lượng và sản lượng không cao. Từ nguồn vốn lồng ghép các chương trình, dự án, trong những năm qua, Vĩnh Tân được đầu tư cải tạo hơn 40 ha giống chè già cỗi sang các giống chè đặc sản. Đó là những giống chè có năng suất cao, như: Chè 025, Ngọc Thúy, Bát Tiên… Những giống chè này có nhiều ưu điểm vượt trội về năng suất, chất lượng so với những giống chè cũ ở địa phương và đang tiếp tục được người dân đầu tư mở rộng diện tích trong những năm tới đây.

Tôi hỏi anh Thảnh:

- Sản phẩm chè búp ở làng nghề Vĩnh Tân từ lâu đã nổi tiếng trong nước về chất lượng. Vậy, điều đó phụ thuộc vào chất đất hay do bí quyết trong quá trình sản xuất, chế biến chè của người dân trong thôn?

Anh Thảnh nói ngay:

- Cả hai yếu tố tạo thành thương hiệu cho chè ở làng nghề Vĩnh Tân. Chúng tôi đã lấy mẫu đất đi kiểm nghiệm thì thấy rằng, đất này rất phù hợp với cây chè và cho chất lượng hơn hẳn so với những vùng chè khác. Chúng tôi hướng bà con thực hiện quy trình sản xuất an toàn vệ sinh thực phẩm. Đặc biệt là trong quá trình chế biến, người Vĩnh Tân luôn tuân thủ những cách thức để làm sao giữ được hương vị, màu nước của chè, chứ không chạy theo lợi nhuận mà làm ẩu.

Trồng, chăm sóc, thu hoạch và sản xuất, chế biến, đóng gói chè tại chỗ. Đó là cách thức mà người Vĩnh Tân đã làm từ nhiều năm nay. Vào mùa thu hoạch, cả vùng chè Vĩnh Tân như bừng thức trong tiếng nói cười rộn ràng, xen lẫn tiếng máy phát ra từ các dây chuyền sản xuất của người dân. Với phương thức sản xuất theo quy trình sạch, nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm, năm 2014, làng nghề chè Vĩnh Tân được Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu hàng hóa. Nhờ đó sản phẩm chè đã có giá trị gấp ba lần so với trước đây. Với giá bán trung bình 200.000 - 250.000 đồng/kg chè thành phẩm, đã cao gấp 3 lần so với năm 2013, và cao gấp đôi so với sản phẩm chè cùng loại không có thương hiệu hiện đang bán ngoài thị trường. Đặc biệt, đây cũng là sản phẩm của tỉnh Tuyên Quang tham gia Liên hoan Festival Trà Thái Nguyên và đoạt Cúp “Búp chè vàng”.  

Trao đổi với chúng tôi về mục tiêu đưa sản phẩm chè từ làng nghề Vĩnh Tân - một làng nghề đầu tiên của tỉnh tiếp tục vươn xa, được nhiều khách hàng biết đến, ông Hoàng Cao Khải, Chủ tịch UBND xã Tân Trào, huyện Sơn Dương cho biết: - Xã cũng đã và đang tích cực đưa sản phẩm của làng nghề tham gia các hội chợ thương mại trong cũng như ngoài tỉnh. Mục đích là nhằm quảng bá sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế từ vùng chè nguyên liệu cho người dân trong thôn. Cùng với đó, chính quyền địa phương cũng phối hợp để mở các tua, tuyến du lịch sinh thái tại làng nghề cho du khách đến thăm quan, tìm hiểu về đất và người Vĩnh Tân trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

Từ trong lao động sản xuất, người dân làng nghề Vĩnh Tân đã mang khát vọng của mình để chinh phục vùng đất khó. Đất không phụ công người. Những bờ xôi ruộng mật giờ đây đều được tận dụng tối đa vào việc canh tác những cây trồng chủ lực, tạo ra vùng sản xuất hàng hóa có quy mô và giá trị kinh tế cao. Một làng nghề đang thay da đổi thịt. Đó là câu chuyện có được từ chính tình yêu trong lao động sản xuất, tình yêu từ sự gắn bó thủy chung của mỗi người dân hôm nay trên vùng đất xứ sở mà các thế hệ ở Vĩnh Tân đã tạo dựng. Trong tiếng rộn ràng của nhịp sống đời thường, làng nghề Vĩnh Tân đang hình thành một vóc dáng mới.

T.B.H









Lượt xem: 38 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
39

Lượt truy cập:
380.403