BIỆT THỰ PHẬT TỔ TỌA THIỀN. TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUY VÂN
Thứ 7, ngày 22 tháng 6 năm 2019 - 7:26

Ngôi biệt thự của lão Cả Phụng tọa giữa quả đồi Thằn Lằn, phần cuối của dãy Ngạo Sơn. Dãy núi chạy men theo con sông có tên đặt theo mầu nước, Thanh Giang. Phía trước ngôi biệt thự là hồ nước rộng, bờ ngoài cùng là con đê, gần sát bờ sông.

Ngày trước, mùa nước lũ, nước sông Thanh Giang lên cao, ngập tràn bờ vào tận chân đồi Thằn Lằn. Từ ngày, nhà máy thủy điện đầu nguồn được xây dựng, không còn cảnh nước ngập nữa. Con đê được tôn cao, lát bê tông, làm đường liên các xã ven sông. Hồ nước bỗng dưng thành nơi nuôi cá, thủy cầm, thả sen rất thuận lợi.

Khi tòa biệt thự được xây dựng xong, dân làng Sầm ai cũng bảo:

- Lão Cả Phụng biết nhìn xa trông rộng. Quả đồi đất cằn cỏ dại, cho không ai lấy, có trồng được gì trên ấy mà lấy. Bố lão làm đơn xin đấu thầu cả quả đồi. Xã đồng ý ngay, cho sử dụng lâu dài, miễn là phải phủ xanh cây trồng lên đấy.

Bố lão phải mất mười năm, thay đổi nhiều loại cây, mới phủ xanh được cả quả đồi, phát quang bãi bềnh. Xem ra Cả Phụng đã tính toán từ trước. Nghỉ hưu, về quê, xây tòa biệt thự lên đấy, làm chỗ hưởng lạc tuổi già, địa thế quá đẹp. Tựa lưng vào thế núi, mặt tiền là đầm sen, xa nữa là dòng sông, lại tách hẳn với khu dân cư, chẳng sợ va chạm với ai, tìm đâu được chốn như thế.

Cả Phụng không biết làm gì ở Hà Nội. Dân thứ quê hễ ai ở Hà Nội đều cho là dân buôn bán lớn, nếu là cán bộ hẳn phải loại tầm cỡ, tiền của vô số. Nhiều người chỉ là dân phu xe, bưng bê vôi vữa, phụ bếp các cửa hàng ăn, trông con cho nhà người ta. Về làng, chưng diện đỏm dáng, khoe: Công tác tận Hà Nội. Đều được dân làng nhìn bằng con mắt nể trọng:

- Bác công tác tận Hà Nội, kinh tế chắc mạnh lắm. Bác về chuyến này, cung tiến cho dân làng tí chút, để làm đường, xây nhà văn hóa, gọi là bớt chút tiền ăn quà vặt ấy mà.

Đưa ít xem chừng xấu mặt, nhiều biết bao nhiêu cho xứng với công người công tác tận Hà Nội đây! Nhiều người đi rồi không dám về làng. Có về cũng chỉ đánh bộ nâu sồng, cái chính là không khoe công tác tận Hà Nội.

Cả Phụng chắc chắn không phải là dân đầu chầy, đít thớt. Ở Hà Nội hắn làm cán bộ hay buôn bán gì, chả ai biết. Mà lão cũng ít khi về làng. Có ai đến hỏi, bố lão chỉ nói:

- Nó chưa bao giờ nói với tôi làm gì, ở đâu, thu nhập ra sao. Tôi bí cần tiền, nó đưa cho người quen mang về. Ông bà tôi chưa một lần về xem chỗ ở, chẳng biết đã có nhà riêng, hay vẫn thuê nhà. Nó có nói đâu mà biết.

Bố con lão kín như bưng, chả như người thứ quê, có mổ con gà cả xóm đều biết.

Thấy Cả Phụng đưa cả đội quân, máy ủi, máy xúc, ô tô tải về san ủi phần giữa quả đồi Thằn Lằn. Đất đổ thành đường quanh đầm sen, rồi xây lên tòa biệt thự. Tự làm đường điện về, xây bể nước lọc, làm vườn hoa cây cảnh. Dân làng Sầm mới biết lão nhiều tiền đến mức nào. Từ con đường chính vào nhà cũng phải trên trăm mét, lão lát gạch đỏ, xây tường hoa hai bên. Cây cảnh không biết lão mua ở đâu, mỗi chậu ít cũng vài triệu, nhiều cả chục, cả trăm triệu, lại còn tòa biệt thự nữa.

Cụ Chánh Bảo giầu có tiếng trong vùng ngày xưa, so với lão bây giờ chỉ như con kiến.

Ngôi biệt thự xây xong, Cả Phụng khoe:

Ngôi biệt thự xây theo thế Phật Tổ tọa thiền. Phần chính giữa xây ba tầng, xem như là phần thân và đầu phật. Hai bên xây hai tầng là phần vai, hai cánh tay khép vào thân Phật. Dưới cùng xây một tầng là phần chân Phật ngồi xếp vàng. Xung quanh là vườn hoa cây cảnh, đặt theo thế Voi chầu, Hổ phục.

Lão nói sao nên vậy, nào ai biết có giống Phật Tổ tọa thiền không!

Lễ khánh thành, lão làm ba ngày liền. Hai ngày đầu dành cho khách xa. Lão mượn sân trai làng thường hay đá bóng làm chỗ để xe. Khách đón về nhà bằng ô tô con. Chẳng biết bao nhiêu xe nữa, đậu kín cả bãi rộng. Phần cỗ tiếp khách lão đặt ở các cửa hàng, khách sạn có tiếng trên tỉnh mang về. Dân làng Sầm từ già tới trẻ chưa bao giờ thấy đám khánh thành nhà nào linh đình đến như thế. Ai cũng tự nhủ:

- Người ta nhiều tiền có khác, chắc làm quan to lắm, nếu là dân buôn, cũng phải loại hàng siêu lợi nhuận, mới lắm tiền đến vậy. Còn chân chỉ hạt bột như người thứ quê lấy đâu, đến mơ cũng không dám.

Đến ngày thứ ba, Lão mời đến dân làng. Thay việc đi, lão viết giấy mời bằng thư đánh máy. Lời lẽ giống nhau, khác chăng là tên người được mời. Thuê bưu điện xã đưa đến từng nhà.

“Tôi là Cả Phụng, rời làng đi từ nhỏ, nay được nghỉ hưu. Nhớ câu: Lá rụng về cội, tôi làm được căn nhà nhỏ. Gọi là lấy mâm cỗ, lòng thành xin mời… đến dự bữa cơm thân mật. Đến với tôi đã là món quà vô giá, không phải mang quà mừng dưới bất kỳ hình thức gì. Hân hạnh được đón tiếp”.

Các cụ trong làng, ai nhận được thư mời cũng thấy gai gợn thế nào. Tìm đến nhau để hỏi: Đi hay thôi!

- Làng quê, làm được căn nhà, làm bữa cơm khánh thành mời nhau đến ăn. Ai có gì mừng nấy, cốt ở tấm lòng. Âu cũng là chút để giữ lấy tình làng nghĩa xóm. Được ngồi với nhau, nói câu chuyện là vui rồi. Đằng này xây tòa biệt thự như thế, lại nói “làm được căn nhà nhỏ, lấy mâm làm cỗ, đến với tôi đã là món quà vô giá”. Mượn lời khiêm nhường, nhã nhặn không thật lòng với nhau là điều giả dối.

- Cụ thế nào, tôi không đi đâu. Ăn đi trước, lội nước theo sau, đến ngày thứ ba mới mời đến dân làng, lòng thành gì.

- Làng xã xây dựng bao nhiêu công trình phúc lợi. Người đi làm ăn xa, cho dù chỉ là đứa đi trông trẻ, còn đóng góp được ít nhiều. Còn lão đến một xu cũng không được.

Mấy cụ già đang mỗi người một câu, Chủ tịch xã Lập, ở tuổi trung niên đến, thấy vậy hỏi ngay:

- Các cụ bàn chuyện đi hay không đi đến nhà Cả Phụng, cháu đến xóm nào cũng thấy bàn tán chuyện này.

- Theo ông chủ tịch nên đi hay thôi.

- Tùy ý các cụ.

- Ông chủ tịch biết gì về Cả Phụng?

- Chỉ biết lão ở Hà Nội. Khi xây dựng các công trình phúc lợi trong xã, vận động dân đóng góp, có nhắc đến lão. Nhưng chẳng biết lão công tác ở cơ quan nào, hay buôn bán gì. Hỏi ông bố đẻ ra lão, cũng không biết. Hỏi ông Căn, bạn chiến đấu thời chống Mỹ. Nghe đến tên Cả Phụng, ông Căn trừng mắt lên quát:

- Hỏi làm gì cái tên bội tình, bạc nghĩa ấy. Tôi bị thương vào đầu, xuýt chết vì cứu nó. Biết tôi đã về làng. Nó có hỏi thăm được câu nào. Các ông còn nhắc đến nó làm gì.

Biết lão không có lòng với quê hương, với bạn sinh tử còn thế. Mình cầu cạnh không được càng thêm tủi, nên chúng tôi không đi. Khi lão đến hỏi mượn sân đá bóng của thanh niên làm chỗ để xe cho khách, tôi hỏi:

- Ông xây ngôi biệt thự bề thế nhất vùng, lại ở vùng quê nghèo, không sợ đám đồ tể ghen ăn, tức ở quậy phá sao?

- Tôi đã tính đến chuyện đó rồi, mất bò mới lo làm chuồng là hỏng. Những chỗ quan trọng tôi đã gắn camera, lại thuê hai tay bảo vệ võ nghệ cao cường ở hai đầu nhà. Lại thêm một chú chó béc giống Đức, trong đêm chỗ nào có động có mặt liền, còn lo gì nữa.

Xem ra lão coi dân mình, đều là loại lưu manh, đề phòng cẩn mật lắm. Về quê, ăn với dân, ở với làng mà như thế, ai dám đến với lão nữa. Làm thế là tự cắt mối giao tình với dân làng rồi.

- Kinh tế thị trường bung ra, thiếu gì mánh lới làm ăn. Bằng con đường chân chính. Bằng các mánh khóe lừa đảo. Bằng mua quan bán tước. Bằng tham nhũng, nhỡn tiền ra đấy, đài, báo, ti vi hôm nào chả nói tới.

- Khánh thành nhà lời lẽ thế, để thử xem, có phải vì miếng ăn không mất tiền mà tới không, tình nghĩa gì.

- Tôi nhất định không đi. Mình nghèo thật cũng phải giữ lấy nhân cách chứ.

*

Đúng ngày, Cả Phụng mời. Đến giờ ăn, đường vào nhà lão vắng lắm. Thi thoảng mới có bóng người, ăn mặc sáng sủa đôi chút, vào cổng lại thấy đi ra ngay. Chắc thấy vắng khách, không thấy dân làng đến, vào biết ngồi với ai, hiểu ý dân làng đành ra về.

Cả Phụng nghĩ: Dân quê, được bữa cỗ mời, không mất tiền mừng, lũ lượt kéo đến, bưng cỗ còn không kịp.

Đã quá giờ mời cỗ cả tiếng đồng hồ, chẳng có khách nào đến, ngoài mấy người anh em, xếp hai mâm không đủ người. Cả Phụng nhìn những mâm cỗ ế bỗng thấy chờn chợn. Hưu, về quê xây tòa nhà hằng mơ ước, để ăn chơi thỏa thích, để hưởng cho hết mọi thứ non tơ, mát mẻ, trong lành vùng quê núi, khiến ai thấy cũng phải thèm. Nay mời cỗ không ai đến, là thế nào đây.

Khánh thành nhà được mấy tháng, tịnh không có người nào đến chơi, điều Cả Phụng không bao giờ ngờ tới. Chỗ lão ở yên lặng như nấm mồ. Ngôi biệt thự tách bạch với dân làng, cách nhau hẳn một quả đồi, nên lại càng vắng vẻ.

Cả Phụng nghĩ, người ta không đến thì mình đi gặp. Mấy bận ra đường gặp người làng, người nào cũng có ý lảng tránh. Lão đon đả chào hỏi, không ai thèm tiếp chuyện. Chỉ có trẻ con, thấy lão đâu là bâu đến, chúng hét lên:

- Ra đây mà xem Phật Tổ tọa thiền này.

- Phật Tổ gì bố mình bảo, lão tham ăn như ngão, cứ nhìn cái bụng phệ kia thì biết.

- Bụng to giống Phật Tổ đấy, chỉ khác không đeo tràng hạt.

Bọn trẻ nhìn lão như nhìn con quái vật. Cả Phụng không dám ra đường nữa.

Chuông điện thoại đặt ngoài cổng réo ngày đêm. Tay bảo vệ vội đi ra, gần đến cổng chuông thôi réo. Mở cổng đi ra ngoài, không một bóng người. Lại quay vào, chưa kịp vào nhà chuông lại réo. Ngày, đêm không biết bao nhiêu bận ra, vào như thế. Mãi sau mới biết trò đùa nghịch của trẻ con. Lão chỉ còn biết cắt bỏ chuông điện thoại.

Ngôi biệt thự rộng thế chỉ có năm người. Hai bảo vệ, một bà già giúp việc cơm nước và Cả Phụng với cô đàn bà trẻ. Không biết có phải vợ bé hay khách làng chơi đem từ Hà Nội về để hưởng lạc thú. Năm thằng người ra trồ, vào chạm chỉ có việc ngồi chơi xơi nước mãi cũng chán.

Hai tay bảo vệ ra đường, gặp thanh niên làng, họ hỏi:

- Hai thằng không đến nỗi nào lại đi làm con chó giữ nhà cho Cả Phụng sao? Lão khoe hai đứa mày giỏi võ lắm, dám thử sức với tụi tao không? Bọn tao định phá nhà Cả Phụng có mười thằng mày cũng không cản nổi. Có biết cái hồ kia, xưa là đầm lầy, nước đọng, cỏ mọc um tùm, đã vùi bao nhiêu xác Tây, Tầu, Việt gian chống phá cách mạng ở đấy không!

- Cả Phụng từ một gia đình nghèo kiết xác, vận may đến, ngoi lên hàng tỷ phú. Hắn kiếm tiền bằng cách nào hai đứa không đoán ra sao? Sống bằng đồng lương chân chính, làm ăn lương thiện, liệu có nhiều tiền như thế không? Nhận những đồng tiền như thế để sống, hai đưa vẫn nuốt được sao?

Bảo vệ gì, chúng tao không thèm đụng đến, có mời cũng không vào. Nhớ lấy! Đừng có ra đường, ở đâu yên đấy. Đừng để bọn tao gặp lại lần nữa, lăn xuống hồ chết mất xác đấy.

Nghe họ nói hai tay bảo vệ thầy chờn. Giang sơn nào, hảo hán ấy. Sức mấy mà đọ được, người nào cũng như đô vật. Đụng phải họ, không nói chơi được, bị dìm xuống hồ chết là cái chắc.

Hết tháng, thanh toán tiền công, chẳng cần xin phép ông chủ, sáng ra, Cả Phụng đã không thấy hai người, chẳng biết đã đi từ lúc nào trong đêm.

Cả Phụng chua chát nghĩ: Người ta bảo có tiền là có tất cả. Xem ra là bậy, mình đang ngồi trên đống tiền đây, cuộc sống như thế này là hạnh phúc sao?

Người ta bảo: Buôn có bạn, bán có phường. Cái phường của mình là ở chốn chín người mười làng, là chỗ mạnh vì gạo, bạo vì tiền. So tài cao thấp, hơn, kém bằng đồng tiền, phân bạc. Tình nghĩa đã là thứ phù phiếm.

Chốn này, cái tình chữ nghĩa được đặt lên hàng đầu. Khốn thay lão lại không quen sống vì cái tình, chữ nghĩa ấy.

Một tối, Cả Phụng thấy chuông điện thoại réo, một giọng nói lạ hoắc: “Cả Phụng à, thời thanh niên mày đã từng kể cho tao nghe giấc mơ. Sau một đêm nhân loại bỗng dưng chết hết, chỉ còn sót ba người. Trong đó có mày, cô người tình và một bà bán bánh. Cầu được ước thấy, mày đang sống trong mơ đấy thôi, gắng mà tận hưởng”.

Cả Phụng không kịp nói, đầu bên kia đã tắt. Không còn nhớ đã kể giấc mơ ấy cho ai nghe. Có kể thật không, hay người điện thoại đã phịa ra, khi thấy hoàn cảnh mình đúng như vậy.

Thế rồi cả người tình và bà bán bánh cũng đi nốt. Kỳ lạ, những người đi không lấy bất cứ thứ gì của lão. Chỉ người tình cuỗm theo chiếc điện thoại di dộng, có lưu đầy đủ số điện thoại của người thân, bạn bè. Bây giờ muốn điện cho ai cũng đành chịu.

Chỉ còn mình lão ở tòa biệt thự quá rộng, quá nguy nga và cũng quá lộng lẫy. Lão thấy mình quá cô đơn, nhỏ bé. Giờ lão mới thật thấm câu: Ăn cơm với chó, nói chuyện với ma. Giá chỉ là cái túi, lão đã xách đi chỗ khác. Đằng này là cả một tòa biệt thự!

Cả Phụng kéo chiếc ghế bành ra ngoài sảnh. Lão ngồi theo thế Phật Tổ tọa thiền, nhìn xuống đầm sen. Đã bước vào mùa hè, sen đang nhú mầm lên khỏi mặt nước. Sáng nào mặt hồ cũng phủ một lớp hơi nước mầu trắng. Chỉ khi mặt trời lên cao, hơi nước mới tan dần, không có gió, mặt hồ phẳng lặng đến kỳ lạ.

Lão ngồi bất động trên ghế hàng buổi, muốn đi biết đi đâu. Ngồi nghiền ngẫm sự đời: Đồng tiền đâu phải là tất cả. Cả bốn người bỏ lão ra đi. Cho dẫu tiền công lão trả rất hậu hĩnh, công việc có nặng nhọc gì. Thế mới biết cuộc sống của con người đâu phải chỉ cần có tiền, còn phải có bao nhiêu thứ khác, không có các thứ ấy, đồng tiền cũng chẳng có ý nghĩa gì hết. Không hiểu vì sao chính lão và bao nhiêu người khác tìm mọi cách, bất kỳ thủ đoạn nào, lừa đảo, gian dối, bất chấp tất cả để chiếm đoạt lấy đồng tiền. Chẳng lẽ người nào càng dễ kiếm, không tốn công sức, mồ hôi, nước mắt đồng tiền đến rồi lại đi, cố níu kéo cũng không được.

Mình ngồi đây, chỉ cần một cơn đột quỵ, thế là hết. Ngồi trên đống tiền cũng chỉ là con ma đói. Có chết rữa ra cũng không ai biết. Có ai đến đây mà biết! Nghĩ vậy Cả Phụng thấy rùng mình, run sợ.

Chuông điện thoại réo, lão vồ lấy máy nghe, vẫn giọng nói của người lạ hoắc: “Định ngồi chết rũ ở đấy à! Định bắt chước Phật Tổ tọa thiền là thành Phật sao? Phật Tổ làm bao nhiêu việc cứu nhân, độ thế. Mày đã làm được gì nào? Hay chỉ là thằng báo hại chúng sinh! Làm những gì  phải biết chứ! Có cần một lời khuyên không. Suy nghĩ kỹ rồi tao điện lại”.

Lão ngó quanh, thầm nghĩ: Người gọi chắc không ở đâu xa. Ngay ngoài bờ hồ kia thì phải. Còn nhìn thấy lão đang ngồi trên ghế bành kia mà. Hay người làng này, được hay là… lão tái mặt, mồ hôi vã ra không dám nghĩ tiếp.

Quen sống có người hầu hạ, nay phải tự nấu nướng mới có thứ bỏ vào mồm, với Cả Phụng đã là điều cực hình rồi.

Minh họa: Lê Cù Thuần

 

Đã cuối thu, trời se lạnh. Lá vàng trên đồi Thằn Lằn theo gió cuốn, phủ dầy các lối đi, trên sân thượng, hành lang nhà, khu vườn hoa, cả ngôi biệt thự chìm trong lá khô. Lão không thèm để ý. Các phòng đều đã khóa, chỉ có phòng lão còn mở cửa. Lá vàng ùa cả vào trong phòng, chả còn sức để quét nữa. Nhìn tầng tầng lá khô, Cả Phụng nghĩ khôn, nghĩ dại: Chỉ một tia lửa nhỏ, cả ngôi biệt thự này chìm trong biển lửa ngay. Ngay cả mình đây, còn biết đường nào để chạy, hay cũng bị ngọn lửa nuốt chửng rồi. Nghĩ vậy lão thấy mình như đang chìm trong lửa thật, kêu trời, mấy lần chống tay đứng dậy, không sao đứng được, như có người níu lại.

Lão chợt nhớ đến lời khuyên của người có giọng nói lạ hoắc:

“Viết chúc thư ghi rõ, khi chết xin hiến toàn bộ những gì có trong và ngoài khu biệt thự cho Hội Người cao tuổi xã, làm Câu lạc bộ dưỡng già, nghỉ ngơi, hội họp. Điểm chỉ, ghi tên mang đến chính quyền xã chứng nhận. Làm xong việc ấy sẽ có người đến chăm nom ngôi biệt thự, cả mày nữa. Còn con đường nào khác đây. Bán ư! Liệu có người dám đến mua, khi dân làng không cho phép, nhớ câu phép vua thua lệ làng chứ. Mày thấy đấy, dân làng cả người thân có ai đến chỗ mày không. Đừng nghĩ có tiền, muốn gì cũng được. Quý hơn cả tiền còn là tình người, mày có thứ đó chưa. Đã nghĩ ra ai điện cho mày rồi chứ, hay vẫn chưa nghĩ ra. Căn đây! Cái người vì cứu mày thoát thết trong trận Đường Chín Nam Lào nên đã bị thương vào đầu, thành người lúc tỉnh, lúc mê cả đời đây.

Cái án khủng khiếp nhất dành cho con người là gì biết không? Là phải sống cô độc giữa đồng loại của mình. Mày đang từng phút, từng giây thực hiện bản án ấy đấy, chưa ngấm chút nào sao!

Quay đầu là bờ, lời Phật Tổ đấy”.

Quay đầu, là trở lại cuộc sống đích thực của con người. Mình còn con đường nào khác đây, khi cái chết đã nhỡn tiền rồi. Không tự xám hối còn chờ đến lúc nào nữa.

Đã lâu rồi, mới thấy Cả Phụng mở cổng đi ra đường. Người đầu tiên gặp lại là người có giọng nói lạ hoắc, đang đứng sừng sững trước cổng, như đang chờ lão. Thấy Cả Phụng khép cổng, người ấy nói giọng từ tốn:

- Không cần khép, nghĩ kỹ rồi chứ?

Cả Phụng nhận ra ông Căn, ôm chầm lấy, nước mắt ràn rụa.

- Tôi có lỗi với ông nhiều quá.

- Lỗi lầm gì, người sống như ông thời nay nhiều lắm. Ông biết nghĩ lại, tôi mừng.

- Vậy là hai lần ông cứu tôi.

- Ai bảo ông là thằng Cả Phụng khôn ngoan, bẻm mép, cái thời lửa đạn đã từng sống chết có nhau. Nay thấy ông thế này lẽ nào tôi không cứu, nhớ câu “Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng” không. Đời người là bể khổ, thiện ác đan chen nhau, loại trừ nhau. Chọn con đường hướng thiện để sống, sẽ thấy thanh thản hơn, kẻo rồi “Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Đã viết xong giấy tờ rồi chứ?

- Xong rồi, đang định đến ủy ban xã.

- Chỉ cần treo trên cổng này tấm biển đề “Câu lạc bộ Người cao tuổi xã Đình Lộng”. Ông sẽ bước vào trang đời khác, rồi ông sẽ thấy, nào tôi với ông vào nhà đã, đến xã sau.

Hai người dìu nhau vào ngôi biệt thự Phật Tổ tọa thiền.

T.H.V









Lượt xem: 76 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
28

Lượt truy cập:
380.406