GÁI XUÂN HÒA. TRUYỆN NGẮN CỦA PHÍ VĂN CHIẾN
Thứ 2, ngày 6 tháng 5 năm 2019 - 8:9

Nằm một tháng không viết lách, mà muốn viết cũng chẳng viết nổi vì trời không cho viết. Nhưng hôm nay ông em Tuyên Vũ, dân Xuân Hòa chính hiệu con nai vàng xuất hiện bên bàn rượu. Thấy rượu tỉnh cả người, tôi dậy chép tặng các ông ấy mấy câu thơ mà tôi đã đọc trong đời của ai đó. Thơ thế này:

“Ra đường thì gặp rượu

Về nhà gặp mắt em

Bạn ơi hai thứ ấy

Làm lòng ta say mềm”.

Vừa đưa lên Fb, lại một cô gái Xuân Hòa thứ thiệt đang ở một chân trời xa lắc xa lơ nào cũng vào và xin chữa lại:

“Ra đường gặp bạn rượu. Về nhà bạn là em. Người ơi hai bạn ấy. Làm lòng ta say mềm”.

Tôi nói “không được, đổi thế thì lên cây số 8 đấy cô ơi”!

Ông Tuyên Vũ ngọt ngào: “Gái Xuân Hòa, trai Tuyên Quang mà anh”! Tôi trả lời “nói cho ngay: “Trai Tam Cờ chứ không phải là trai Tuyên Quang đâu nhé”!  

Cô gái viết cứng rắn hơn: “Em bảo anh đi đi. Sao anh không đứng lại? Em bảo anh hãy nói. Sao anh cứ lặng im?”.

Biết thế quái nào được chuyện con gái, vì họ nói ghét là yêu, nói không là có? thôi đành làm bò đội nón vậy!

Ông quái Tuyên Vũ lại đá xoáy: “Chị Thủy và chị Thỏa nhà em có lọt vào vòng ngắm của anh trai Tam Cờ không anh?”.

Đoạn thơ của cô gái và câu hỏi của ông Tuyên Vũ khiến tôi giật mình và lật đật giở lại trang sách đã úa vàng, quăn hết mép, thủng lỗ chỗ vì con nhậy nó nhấm, để tìm lại câu chuyện của một cô gái Xuân Hòa với một chàng trai Tam Cờ bên Bãi Quánh cát trắng phau phau, rồi tìm được luôn bài thơ của chàng mà tôi túm được khi chàng đang say, say rượu và say tình.

Chuyện thế này.

Phố Xuân Hòa có lẽ ra đời cùng phố Tam Cờ từ những năm đầu thế kỷ 19, sách Đại Nam nhất thống chí viết thế! Mỗi thời kỳ lịch sử Xuân Hòa có những tên khác nhau, xưa là phố Tàu, lúc là phố Tây, những năm 60 của thế kỷ trước là phố Cót - Cát - Củi - Phên.

Nhưng có một Xuân Hòa khác không ồn ào hoa mỹ như Tam Cờ, mà là Xuân Hòa duyên dáng, thầm lặng. Có khá nhiều cô gái đẹp, nhà nằm rải rác ở các đường ngang ngõ tắt của phố cổ đầy cây cổ thụ. Những cô gái Tùng Lâm, Thục Lâm, Thu, Hà, Trang, Hương, Hoa, Ngọc, Mai, Phúc, Hòa, Thanh, Thủy, Thìn, Dậu, Huyền, Diệu, Hồng… dẫu không nghiêng nước nghiêng thành, nhưng đẹp, dịu dàng, thanh lịch mà không đài các, làm cho bao chàng trai si tình chết mê, chết mệt. Họ đã góp thêm vào danh tiếng “Miền Gái đẹp” Tuyên Quang ngay trước cả khi có các cuộc thi hoa hậu trong nước xuất hiện, trong đó có hai cô Thủy - Thỏa mà anh chàng Tuyên Vũ đã nhắc đến. Trong hai cô nàng ấy, có một cô gái mà năm mươi năm trước, bạn tôi phải lòng cho đến tận bây giờ.

Nhà Thủy ở một con đường ngang, vuông góc với đường bờ sông. Đầu đường phía trong nhà nàng gần Ty Công an là những cây hoa di lăng, cây hoa của hò hẹn, vào mùa hoa nở vàng, đêm đêm cánh rơi đầy phủ kín mặt đường, thơm ngát quyện vào mái tóc thề chớm ngang vai của các thiếu nữ Thành Tuyên. Đầu đường phía bờ sông là một cây muồng, vào một hôm sau tết nắng ráo bỗng nở bung bên bến xuống sông Lô, ấy là con đường xuống Bến Đợi của chàng và nàng.

Người con trai Tam Cờ quen cô gái Xuân Hòa ấy trong một lần đi lấy củi trên núi Tràng Đà. Chàng là con một người thợ, nàng là con một viên chức, cả hai nhà đều nghèo rớt mồng tơi, nên hàng ngày, sau khi đi học về hai người phải qua con đò ông Mít đầu bãi Quánh, lên xóm vườn đào, qua suối chảy từ thác Đát xuống, rồi vượt Dốc Đứng vào suối một, suối hai lấy củi, lấy nứa về bán. Hai người biết nhau khi một hôm đói quá, không gánh nổi gánh củi cành ấy nữa, nàng ngồi bệt xuống bên suối mà khóc. Chàng thấy vậy, giở mấy củ sắn luộc, gói muối vừng mời nàng ăn. Ăn xong, chàng chặt một cây nứa cụt ngọn, trong óc ách nước, cắt từng ống nước ngọt lừ, trong vắt đưa nàng, rồi gánh gánh củi của nàng về tận nhà nàng. Cảm cái nghĩa cử ấy, từ đấy hẹn nhau cứ ngày ấy hàng tuần cùng lên Ba Hang lấy củi, lấy nứa. Ở đây bao câu chuyện trẻ thơ quanh Bãi Quánh, Tổng kho, Cần Cẩu, cầu Chả, chợ Tam Cờ, bến ô tô, núi Thổ Sơn, rồi chuyện ông già Khốt ta bít hai bên cứ nổ như pháo rang. Nàng hát cho chàng nghe bài ca “Quê em miền trung du”, “Làng tôi xanh bóng tre” về vùng quê Quan Tử - Lập Thạch dọc sông Lô dập dìu thuyền chở đồ gốm đi các miền rừng núi. Nửa năm hương lửa đương nồng, chuyện đến tai bố nàng. Là gia đình gia giáo, ông liền ngăn cô gái tuổi cập kê, không cho nàng đi lấy củi. Quyết không cho nàng gặp chàng nữa mà mang tiếng gia đình ông.

Nhà nàng có mấy chị em gái, và đứa út là thằng con trai ngang ngược được chiều như cậu ấm quý tử trong nhà, nàng là con thứ ba trong gia đình ấy. Hàng ngày ngoài việc học hành, củi đuốc, việc gánh nước dòng Lô để nấu cơm, tắm giặt, tưới rau thường đè lên vai hai bà chị. Mỗi ngày một người phải gánh hàng chục gánh nước, qua bãi cát, lại ngược dốc trơn toài, rồi đổ vào cái bể xi măng to đùng khiến các chị thở dốc, ruột gan các chị cứ quặn lại. Thấy cô em không phải đi lấy củi lại hăng hái gánh nước, hai chị khoái ra mặt, có ai biết ai ngờ, gốc gạo, bến nước Bãi Quánh lại là nơi chàng và nàng hò hẹn nhau đi gánh nước mỗi khi chiếc còi tầm hú lên báo hiệu giờ tan tầm.

Những ngày đầu cái trò nàng gánh được gánh nước từ dưới sông lên bờ, bị chàng bỏ vào một vốc cát trắng phau, khiến nàng bị bà chị mắng te tát mà nàng không biết, khiến nàng cáu. Sau thấy chàng nói rằng: Em ơi, thùng nước của em có cát. Rồi chàng bảo nàng nghỉ, đổ bỏ thùng nước đi, cả hai lại xuống sông khiêng một thùng nước lên bờ, thì nàng hiểu rằng đó là bài ca tỏ tình của chàng. Nàng, miệng thì nói như quát, nhưng bụng bảo dạ, anh chàng này đáng yêu thế! Còn chàng chỉ cười!

Cách gánh nước của cô em gái kéo dài nửa năm trời khiến bà chị sinh nghi, họ theo dõi và ra mặt dạy dỗ em cẩn thận. Nhưng “lòng vả cũng như lòng sung” bà chị cả cũng bén duyên với con ông thợ nhuộm ở phố Tam Cờ, khiến chị nhớ lời người xưa dặn “Xưa kia ai cấm duyên bà, bây giờ bà già bà cấm duyên tôi”. Chị dặn cô em gái tuổi trăng tròn cẩn thận kẻo bố bắt được thì chết cả lũ.

Thế rồi chuyện gì đến cũng khác đến. Hôm ấy, chưa tan tầm, ông già Khốt ta bít nhà nàng, từ sở về sớm hơn giờ còi tan tầm. Ông lấy xe đạp ra khỏi cơ quan, đi qua Chợ Con, rồi cứ thế theo đường bờ sông về nhà để bớt đi cái bức bối trong công việc. Vừa đến cây gạo giữa phố, ông nhìn thấy đôi thùng gánh nước, cái đòn gánh đặt lên hai miệng thùng ngăn cách hai đứa trai và gái đang ngồi bệt xuống đất, thằng con trai đầu húi cua, hai tay đang múa may huyên thuyên cái gì đó. Thôi chết rồi! Ông bóp cả hai phanh, chiếc xe cà tàng của ông đứng phắt lại. Nhảy ra khỏi xe, ông hét tướng:

- Thủy, mày về nhà ngay!

Tiếng hét của thần sấm, át tiếng sét của ái tình. Cả hai sững sờ, luống cuống. Nàng lẩy bẩy đứng dậy, đã thế cái móc xích lại loằng ngoằng kéo mãi không thẳng, khiến nàng không đặt nổi chiếc đòn gánh lên vai. Ông già càng ngứa mắt hơn, ông hét toáng lên ầm cả phố:

- Mày có về không?

Rồi ông vứt oạch cái xe xuống vệ đường. Thấy vậy, chàng trai, chặn ngay con đường đi tới của ông già, nhưng chàng không tránh nổi cái bạt tai như trời giáng vào mặt của ông.

Vừa về đến nhà, một trận mưa roi tới tấp giáng xuống người nàng, nhưng Thủy không khóc lóc van xin. Điên tiết, ông lôi cả hai chị nàng ra đánh vì cái tội bao che cho em gái, ông chửi nàng “Mới nứt mắt đã...”. Ông bắt con gái phải gọi thằng con trai ấy đến để hỏi lý lịch gia đình xem nhà nó có theo tây đánh ta không? Nó có xứng đáng để ông cho vào nhà không? Đứng bên kia đường nghe bố già quát tháo, đánh đập nàng, vừa xót thương, vừa ngượng vì bạn gái của mình bị mắng chửi, lại tự ty vì ông coi gia đình mình không môn đăng hộ đối, chàng nghiến răng lẩm bẩm:

“Người ơi, ta xấu với người

Yêu nhau rồi lại bằng mười phụ nhau”!

Chàng muốn nhảy vào nhà nàng để can ngăn và nhận lỗi với cha nàng, nhưng chàng lại không dám, sợ “lửa cháy đổ thêm dầu”, rồi nghiến răng lẳng lặng bỏ đi.

Chính khi chàng vừa quay lưng vì sợ nhìn thấy trận đòn nữa giáng lên người nàng, thì như một dũng sỹ, nàng đứng thẳng, không xoay người để tránh đòn của cha nữa, mắt nàng nhìn như xoáy vào mắt cha, không nói, không rằng, nhưng cái nhìn ấy như một lời tuyên chiến: Con cứ yêu người con trai ấy đấy!

Thấy con nhìn mình trừng trừng không chớp mắt, ông hiểu và buông tay roi rồi nấc lên gọi bà. Nhưng bà đang vân du nơi đâu trên trời không cứu nổi được ông.

Chàng nhập ngũ, nàng biết, nhưng không thể xuống chia tay chàng vì cha nàng cấm ngặt. Chàng đi, mang theo bài hát mà nàng hay hát về mẹ cho chàng nghe những ngày củi đuốc và gánh nước ở Bến Đợi - Bãi Quánh Xuân Hòa.

Chàng đi, đi xa mãi đến chân trời góc bể, nơi “miền Nam em dừa nhiều, miền Nam em dứa nhiều, miền Nam em xoài thơm” mà nàng hay hát. Còn nàng năm cuối cấp 3, và sau này nhiều năm học đại học, dù xa Bãi Quánh, nhưng những ngày nghỉ, những ngày hè, chiều thứ năm nào nàng cũng về Bến Đợi, và nàng hát:

“Có sông thời có bến, có kẻ đợi người chờ, cho lòng thương nỗi nhớ, cho buồn trong câu thơ. Nhớ, nhớ chiều ấy anh đi, xa nhau rồi xa mãi, người đi chưa trở lại, người đợi nay về đâu, chỉ có con sông sâu mới hiểu lòng người đợi, chỉ tình thương vời vợi mới hiểu người đi xa... đâu rồi tà áo trắng một thời anh say mê... đâu rồi đôi mắt ấy một thời em say mê...”.

Minh họa: Tân Hà

 

Phải hàng chục năm chờ đợi không thấy tin chàng trở về, nàng đành lỡ bước sang ngang. Mấy năm sau ngày nàng đi lấy chồng, người dân ở phố ngõ ngang ấy thấy một anh bộ đội chống nạng, vai vác chiếc ba lô bạc màu đến đầu phố ngồi nhìn ra bến nước. Những người phụ nữ bạn với nàng thuở trước nhận ra chàng. Chị nàng cũng nhận ra chàng, họ ứa nước mắt. Còn chàng, chàng ngồi đó mắt đăm đắm nhìn ra bờ sông. Tợp một chén rượu cho mềm môi, bất thần chàng viết nên bài thơ này:

 

“Có một người em gái

Nhà nàng ở phố trong

Chiều sông Lô gánh nước

Mắt sóng sánh nghiêng lòng.

 

Tôi là người lữ khách

Đi bên em mỗi chiều

Bỏ cát ngoài Bãi Quánh

Tỏ một lời: Tôi yêu.

 

“Em bảo anh đi đi

Sao anh không dừng lại?”

...

 

Mấy mươi năm có lẻ

Câu hát chẳng bay đi

Khiến tôi kẻ tình si

Trở thành người ngây dại.

 

Hôm nay chàng trở lại

Gốc gạo giờ đâu rồi

Bãi Quánh xưa ngày ấy

Người cùng bến chơi vơi.

 

Hỡi em bên gánh nước

Giờ này em nơi đâu?

Có biết người xưa ấy

Đang lặng lẽ ôm sầu”

Tháng 3 - Mùa hoa gạo

P.V.C

 









Lượt xem: 97 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
65

Lượt truy cập:
378.725