ĐÔI ĐIỀU TRAO ĐỔI VỀ VẤN ĐỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THAM GIA XÂY DỰNG NIỀM TIN, ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI. TRẦN KHOÁI
Thứ 4, ngày 20 tháng 3 năm 2019 - 9:48

Như chúng ta đã biết: Văn học nghệ thuật (VHNT) là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc. Khi nhân loại có mặt trên hành tinh này với nhu cầu kiếm sống bằng thực phẩm cũng là lúc con người có nhu cầu về đời sống tinh thần. Do vậy sự ra đời của VHNT là do nhu cầu tự thân. Nhu cầu đòi hỏi của con người - vì con người. Từ đây ta thấy, lịch sử VHNT gắn liền với lịch sử nhân loại qua những tồn vong, thăng trầm của nó.

Như vậy rõ ràng nhân loại sinh thành ra VHNT là để giao lưu, giãi bày, bộc lộ tâm hồn mình với những yêu thương, khát vọng… Đó là sự mong mỏi vươn tới một đời sống yên lành, no đủ. Những hạnh phúc cho cộng đồng và mỗi cá nhân. VHNT cho con người niềm tin vào cuộc sống. Giúp con người cùng lúc được sống nhiều cuộc đời trong quá khứ, hiện tại và tương lai. VHNT là sự kết nối các dân tộc trên hành tinh này gần gũi, chia sẻ và trân trọng đối với nhau qua những tác phẩm văn chương bất hủ.

Nói tất cả những điều trên, để chúng ta cùng nhau đến với một nhận thức: VHNT có mặt trong cuộc sống chính là làm nhiệm vụ tạo niềm tin cho con người đối với cộng đồng xã hội dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bản thể của VHNT là xây dựng niềm tin, đạo đức xã hội. Bởi vì chúng ta biết: Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (đó là nói tổng quát). Còn đạo đức cụ thể ở mỗi người đó là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những chuẩn đạo đức xã hội mà có.

Trong khái niệm về đạo đức, chúng ta thấy một điều rất quan trọng đó là những “tiêu chuẩn, nguyên tắc…” về đạo đức đặt ra phải được xã hội thừa nhận. Khi mỗi người có sự thừa nhận thì các “tiêu chuẩn, nguyên tắc” ấy mới trở thành chuẩn mực để mọi người phấn đấu vươn tới.

Chính vì vậy, sinh thời Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở và đòi hỏi đối với Đảng ta khi lãnh đạo đất nước phải luôn ý thức xây dựng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh…”. Bởi vì, khi những nhà lãnh đạo “vừa hồng, vừa chuyên” nhân dân sẽ tôn trọng, tin tưởng. “Đạo đức và văn minh…” không phải ở lời nói mà phải được thể hiện bằng hành động khi ứng xử với toàn xã hội.

Từ đây có thể thấy: Niềm tin, đạo đức xã hội là do toàn xã hội xây dựng nên. Do vậy, người làm VHNT phải thể hiện được những ước mơ, khát vọng của nhân dân. Đứng trên tầm cao của trí tuệ nhân dân để đấu tranh với những gì đi ngược lại với những quan điểm của nhân dân - nguyện vọng của nhân dân.

Có thể khẳng định: Mọi nền VHNT chân chính bao giờ cũng thuộc về nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và gìn giữ. Nó là nguồn sống bất diệt về mặt tinh thần của mỗi dân tộc.

Thực tế này ta thấy rất rõ trong tiến trình lịch sử VHNT nước nhà. Không có điều kiện đi sâu vào toàn diện nhưng có thể dẫn ra một số dẫn chứng giàu sức thuyết phục để làm sáng tỏ những vấn đề trên.

Ví như dưới triều đại nhà Lý (thời kỳ Trung đại), khi quân Tống xâm lược nước ta. Trước vận mệnh Tổ quốc lâm nguy. Đây là lúc niềm tự hào về núi sông bờ cõi, về chủ quyền, chính nghĩa phải được thức tỉnh để nhân lên thành ý chí, niềm tin, sức mạnh nhấn chìm quân xâm lược. Ở thời điểm ấy bài thơ “Nam quốc sơn hà” tương truyền của Lý Thường Kiệt đã vang lên bên bờ sông Như Nguyệt như lời tuyên ngôn của toàn dân tộc.

(Nước Nam là của vua Nam, dân Nam làm chủ - đây là lẽ phải của trời đất, của lòng người. Do vậy, bất cứ kẻ thù nào xâm lược sẽ bị đánh “tơi bời”. Vì chúng là phi nghĩa, đi ngược lại đạo lý của trời đất và lòng dân). Bài thơ đã vượt qua cái nghĩa thông thường của một tác phẩm văn chương để trở thành lời sấm truyền, lời thánh thần trao niềm tin chiến thắng, trao nghĩa vụ “Thế thiên hành đạo” cho dân tộc ta. Chính ý nghĩa to lớn ấy mà bài thơ còn được gọi là: Thơ thần.

Trong dòng chảy của lịch sử phong kiến thời kỳ Trung đại, có thể nói các triều đại Lý - Trần - Lê là thời kỳ hùng mạnh nhất. Sức sống của các triều đại này, được khẳng định bằng những chiến thắng võ công oanh liệt. Đó là phá Tống, bình Nguyên Mông, diệt giặc Minh. Những chiến công của ông cha ta trong công cuộc giữ nước đã đánh cho kẻ thù “tim đập, chân run”.

Đây là thời kỳ mà niềm tin, đạo đức xã hội không còn là một khái niệm mà nó trở thành nghĩ suy, hành động trong mỗi con người để tạo thành sức mạnh toàn dân tộc.

Khi triều Trần đứng trước họa giặc Nguyên Mông “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn đâu chỉ là lời nói với tướng sĩ mà là lời hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Bởi chúng ta biết, dân tộc ta vốn có truyền thống “toàn dân vi binh” (toàn dân là binh sĩ) mỗi khi đất nước lâm nguy.

Có thể nói “Hào khí Đông A”, ý chí “sát thát” (giết giặc Nguyên) đã tạo nên một “Hịch tướng sĩ văn” bất hủ của Trần Quốc Tuấn.

Bước sang thời kỳ nhà Lê. “Cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi đó là khúc khải hoàn sau 10 năm chống quân Minh thắng lợi.

Văn học Lý, Trần, Lê thực sự là những “Thiên cổ hùng văn” suốt mấy thế kỷ đánh giặc giữ nước và dựng nước của các triều đại phong kiến Việt Nam. Ngoài những áng văn chương tràn ngập hào khí võ công, văn học thời kỳ này còn là sự ngợi ca cuộc sống thanh bình, no đủ của đất nước sau những tháng năm binh lửa. Điều này được ghi lại bằng thời kỳ Hồng Đức dưới triều đại vua Lê Thánh Tông với một tao đàn thơ phong phú…

Đánh giá về sự rực rỡ của VHNT thời Lý, Trần, Lê các nhà nghiên cứu cho rằng: “Riêng trong giai đoạn gần 6 thế kỷ này, thì quyền lợi của giai cấp thống trị và quyền lợi của nhân dân, quyền lợi của dân tộc về cơ bản là thống nhất…”.

Nhà bác học Lê Quý Đôn từng nói: “Trông xưa thấy nay…”. Từ chỗ thấy được vai trò to lớn của VHNT trong việc xây dựng niềm tin, đạo đức xã hội của ông cha, Đảng và Bác Hồ khi lãnh đạo cách mạng luôn đề cao vai trò của VHNT.

Ngay từ những năm còn hoạt động bí mật, các lãnh tụ cách mạng đã nhận thấy, VHNT là một vũ khí không thể thiếu trong tuyên truyền, đấu tranh cách mạng. Điều này thể hiện rất rõ bằng sự ra đời của bản luận cương văn hóa, 1943 của Đảng ta. Đảng đã coi VHNT là một mặt trận và người cầm bút là những chiến sỹ trên mặt trận ấy.

Thực tế này được thể hiện qua bộ phận thơ ca nhà tù trước cách mạng.

Những sáng tác của các chiến sỹ, các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Tố Hữu đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, vào những người cộng sản sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước.

Niềm tin ấy đã trở thành hiện thực của đất nước trong ngày tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

 Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do. Nhưng thực dân Pháp đã gây hấn, quay lại xâm lược nước ta.

Đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp bằng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ. Cả dân tộc với lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Tổ quốc trên hết”, “Quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ…”. Tinh thần ấy, ý chí ấy trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc để VHNT tạo nên các tác phẩm giá trị. Có thể kể ra hàng loạt các tác phẩm của ngày đầu cuộc kháng chiến: Bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng chí” của Chính Hữu, “Cá nước” của Tố Hữu, “Tây Tiến” của Quang Dũng, “Viếng bạn” của Hoàng Lộc, “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Lá quốc kỳ” của Xuân Diệu, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Lên Cấm Sơn” của Thôi Hữu…

VHNT thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã xây dựng được những mẫu người lý tưởng của thời đại. Đó là hình tượng lãnh tụ, hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ, hình tượng người mẹ Việt Nam

Tiếp nối cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lẽ sống và niềm tin của dân tộc với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đất nước phải vẹn toàn thống nhất. 

Hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ - Anh giải phóng quân, những thanh niên xung phong… trở thành những nhân vật trung tâm của đất nước; để từ đó “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

VHNT thời kỳ chống Pháp cũng như chống Mỹ là văn học của những người vừa cầm súng đánh giặc, vừa cầm bút sáng tác. Chính điều này đã tạo nên sức sống mãnh liệt trong từng trang viết của họ. Đội ngũ những người lính vừa cầm súng, vừa cầm bút với ý thức trách nhiệm cao cả: “Không có sách chúng tôi làm ra sách/Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình…” (Hữu Thỉnh). Vì thế, các tác phẩm của họ thực sự đã góp phần tạo niềm tin cùng dân tộc làm nên chiến thắng ngày 30/4/1975 của đất nước.

Gần nửa thế kỷ trong cuộc trường chinh đánh giặc. Non sông liền một dải. Cả dân tộc bước vào công cuộc tái thiết đất nước. Trong chiến tranh, chúng ta cũng có lúc “Bước run, bước ngã, bước lầy, bước trơn” (Tố Hữu). Trong công cuộc xây dựng đổi mới, chúng ta cũng gặp không ít những thành công, vấp váp đan xen…

Đặc biệt thời kỳ kinh tế thị trường. Không thể nói là không có sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng trong các tầng lớp xã hội. Bên cạnh đó là sự bàn giao thế hệ. Lớp cha anh thì già đi, lớp trẻ kế cận học được gì, tiếp nối được gì ở lớp người đi trước. Đất nước hội nhập. “Nhìn ra thế giới”, mặc cảm hay quyết liệt tiến tới để sánh vai bè bạn năm châu.

Cơ hội thật nhiều nhưng thách thức cũng thật khắc nghiệt. Trong cơ chế thị trường, đồng tiền là sức mạnh, là uy quyền… vì thế, không ít người đã để đồng tiền chi phối và điều khiển mình trong suy nghĩ và hành động… hệ quy chiếu đây đó đã coi đồng tiền, vật chất là trung tâm. Điều này đã đi ngược lại tinh thần nhân văn, truyền thống của dân tộc. Dân tộc ta luôn coi con người mới là tài sản vô giá. Sinh thời, Bác Hồ luôn nhắc nhở: “Vì lợi ích mười năm trồng cây/Vì lợi ích trăm năm trồng người…”.

Có một thực tế: VHNT hôm nay đang đứng trước rất nhiều thách thức.

Ví như việc tiếp cận đề tài ở thời kỳ đổi mới với cơ chế thị trường đầy sự phức tạp. Nhiều chuẩn mực cũ tưởng như ổn định thì hôm nay lại thấy như phải xem xét lại.

Đời sống công nghệ đang có sức hút toàn xã hội. Những điện thoại thông minh, ti vi với màn hình thông minh. Cùng với nó là hàng trăm kênh hình hoạt động 24/24 tiếng…

Các phương tiện sinh hoạt thường ngày như điều hòa, tủ lạnh, xe máy, ô tô và còn bao sự hấp dẫn khác…

Người chưa có thì cố để có. Người có rồi thì lo đổi mới, lên đời cao hơn, sang trọng hơn…

Ai cũng biết, VHNT sự sống còn của nó là bạn đọc. Nói khác đi đó là sự tiếp nhận của toàn xã hội. Trong khi ấy, văn hóa đọc đang có xu thế xuống cấp. Lực lượng bạn đọc như giai cấp công nhân thì cuốn vào các doanh nghiệp tư nhân, các công ty nước ngoài. Học sinh, sinh viên ngập đầu với giáo trình, bài vở, học thêm… Sự quan tâm đến bồi dưỡng tâm hồn, đến những rung động mang tính nhân văn, nếu không cẩn thận sẽ như một thứ sa sỉ. Phu Xích trong tác phẩm “Viết dưới giá treo cổ”, đã từng thốt lên: “Con người! Hãy cảnh giác”.

Đại văn hào Gorơki của nước Nga trong cuốn “Tôi đã học tập như thế nào”, cũng từng nhấn mạnh: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ, khi bước lên tôi tách khỏi con thú để gần con người hơn…”.

Dẫn ra những điều trên để thấy tầm quan trọng của VHNT trong việc xây dựng niềm tin, đạo đức xã hội.

Đây là lúc người làm VHNT phải ý thức sâu sắc vai trò công dân, vai trò chiến sỹ trong sáng tạo của mình. Cái xứ mệnh thiêng liêng mà Đảng và nhân dân tin cậy, giao phó ngay từ những ngày đầu cách mạng.

Nhà văn Nam Cao từng tâm niệm: “Sống đã rồi hãy viết”. Để làm tốt nhiệm vụ của mình, VHNT phải nhận thức rõ ràng đâu là những hiện tượng xã hội, đâu là bản chất của xã hội. Từ đó bằng tài năng, tâm huyết tạo nên những hình tượng nghệ thuật giá trị, làm rung động nhận thức người đọc…

Xin nhắc lại một lần nữa: Bản thể của VHNT là vì con người, cho con người!

 

T.K

 

 









Lượt xem: 51 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
27

Lượt truy cập:
379.373