TÔI LÀ TUYÊN QUANG ANH LÀ BÌNH THUẬN. PHÍ VĂN CHIẾN
Thứ 4, ngày 20 tháng 3 năm 2019 - 9:48

Dễ có đến gần 60 năm sau khi đã gần 70 tuổi, tôi mới tìm lại được thầy giáo Đỗ Tất Ứng, người dạy lũ trẻ con chúng tôi học lớp 3 ở trường cấp I thị xã Tuyên Quang, sau đổi thành trường cấp I Bình Thuận như ngày nay. Hồi đó là lũ oắt con chúng tôi ngoan chỉ đứng thứ hai sau lũ quỷ, chúng tôi là nhì ma.

Thầy vẫn thế, dù tuổi đã gần 80 đi lại có khó khăn hơn ngày thầy vẫn đi qua phố Tam Cờ của tôi đi dạy học, nhưng dáng đi của thầy vẫn ung dung, tự tại, giọng nói vẫn nhẹ nhàng mà trầm tĩnh lắng sâu như trước. Tôi kể thầy nghe chuyện gần 60 năm qua hình ảnh thầy với chiếc mũ cát két, bộ com lê trắng may ở nhà Cậu Duyệt, chân đi đôi giày da và chiếc ca táp đựng sách vở, ngày ngày thầy cùng đồng nghiệp đến trường. Tan trường, các thầy cô lại cùng nhau qua Cổng Lấp, đầu Nhà Đoan, qua chợ cũ Tam Cờ, qua đầu nhà cụ Cả Thập lối xuống bến Nguyên Xương, rồi mới chia tay nhau, làm cả dãy phố trầm trồ, khen ngợi. Tôi kể thầy nghe cái lứa học sinh của thầy ngày ấy nay đã trưởng thành, chúng nhớ về thầy cùng với nỗi nhớ đường phố Tam Cờ, Xã Tắc đến khôn nguôi.

Tôi cũng kể thầy nghe chuyện một chiến binh vốn là học trò của thầy đã mang bài thơ “Tôi là Tuyên Quang - Anh là Bình Thuận” của thầy vào cuộc chiến tranh đẫm máu và nước mắt để bảo vệ Tổ quốc để có ngày chiến thắng hôm nay.

Vâng ngày ấy, ngày mà đồng bào miền Nam vùng dậy đồng khởi để giành chính quyền về tay nhân dân, ngày mà “tiền tuyến gọi, hậu phương đáp lời” ấy, từ tỉnh miền núi Tuyên Quang quê tôi ở phía Bắc Tổ quốc đã gửi quân, lương vào tỉnh Bình Thuận kết nghĩa ở cực Nam Trung Bộ. Trai làng Ỷ La, Tam Cờ, Xã Tắc, Quang Trung, Xuân Hòa, Canh Nông của thị xã bên dòng sông Lô êm đềm lẳng lặng nhập ngũ, rồi bí mật lên đường vào Tam Giác Sắt Bình Thuận chia lửa. Sau thế hệ các anh ấy, đến thế hệ chúng tôi, nhiều người vào Bình Thuận có người cũng mang bài thơ với nỗi nhớ hai quê của thầy vào trận.

Để vào Bình Thuận, đơn vị của anh phải hành quân qua Khu 5. Vào đến rừng Trà My Quảng Nam núi ngút ngàn đường xa, là rừng Quế, rừng Khộp, rừng Xà Nu, là đói, rét, không thể đi nổi nữa, đồng đội anh treo võng liền nhau để chết, chứ nhất định không chịu rời nhau, sau mối đùn lên thành những nấm mồ vô danh. Đêm ấy, bên dòng suối nước Oa, chúng tôi đón anh Thành, cán bộ phòng địch vận của Quân khu 5, anh hỏi trong đoàn có ai là người Tuyên Quang không? Một người lính đứng dậy. Anh Thành đã ôm chặt người lính đó vào lòng. Bằng giọng nói nặng chịch của người cực Nam Trung Bộ anh hỏi: Em là Tuyên Quang đấy ư? Anh là người Bình Thuận đây!

Trong ánh trăng mờ, cả đoàn chiến sỹ quân giải phóng đang nghỉ tạm trên đường hành quân đứng bật cả dậy, họ tạo thành vòng tròn xung quanh hai anh em đồng hương kỳ lạ này của hai  miền, hai cực của đất nước như để chở che, bao bọc. Ai đã một thời là lính chiến, chắc khó lòng quên được, diễn tả được tình cảm của đồng hương gặp nhau trên chiến trường đầy bom rơi đạn lạc như lúc này!

Ngày cùng đại quân tiến vào Sài Gòn, người lính ấy đã cùng đoàn cán bộ dừng lại tiếp thu tỉnh Bình Thuận vừa giải phóng còn đầy khói lửa. Chiến tranh, mọi sự đều được tính bằng chiếc kim giây trên chiếc đồng hồ của vị lãnh đạo, nhưng trưởng đoàn là một người lính già tóc đã pha sương vì trận mạc vẫn đứng lên giới thiệu với Ban Chỉ huy  tiền phương tỉnh Bình Thuận một người lính, ông đề nghị anh ấy đọc một bài thơ mà ông đã được nghe trước trận đánh vào Minh Long - Giá Vụt trên chiến trường Nam Ngãi để Ban Chỉ huy tỉnh đội Bình Thuận cùng nghe.

Anh lính ấy đứng dậy giọng

hào sảng:

“Tôi là Tuyên Quang,

Anh là Bình Thuận.

Tôi có dòng Lô Giang,

Anh có bờ biển rộng.

Tôi có cây đa Tân Trào lịch sử  

Ghi lại giờ phút thiêng liêng

Lệnh xuất quân cờ đỏ bay lên

Tung trong gió gọi mùa thu Tháng Tám.

Tôi có bến Bình Ca nổi sóng

Kéo chìm tầu giặc Pháp trên sông.

Tôi có cây số bảy oai hùng

Chớp giật tan trăm thằng đế quốc.

Bình Thuận ơi!

Đau thương qua những trận càn

                                đẫm máu

Thiếu thốn đủ thứ gạo, rau

Vẫn anh hùng lập vạn chiến công

Và hòa bình tuy cách núi ngăn sông

Anh vẫn bền gan kiên cường

                             chiến đấu...

Mới chỉ đến đó, cả Ban Chỉ huy Tiền phương của tỉnh đội Bình Thuận đứng cả dậy, họ ôm chặt người anh em Tuyên Quang vào lòng mà hô “Tuyên Quang - Bình Thuận, Tuyên Quang - Bình Thuận” nhiều lần, làm cả căn hầm chìm sâu trong lòng đất như rung chuyển.

Cười và khóc. Khóc rồi cười! Cười vì sung sướng đã sống qua đạn bom để sum họp trong ngày chiến thắng quân thù. Khóc vì mười mấy năm sau cuộc chiến gian lao bây giờ mới được biết những hạt gạo của làng Ỷ La, Làng Dao, Giếng Tanh (Yên Sơn); Tam Đa, Đông Lợi (Sơn Dương); Đồng Vàng, Yên Nguyên (Chiêm Hóa) tỉnh Tuyên Quang mang vào cuộc chiến ở Tam Đa, Bắc Bình của Bình Thuận, một hạt gạo ấy đã cõng 10 giọt máu của biết bao con người? Khóc vì biết được bài thơ của thầy giáo Đỗ Tất Ứng đã thúc giục các chiến sỹ: Hãy kiên cường chiến đấu cho quê hương Bình Thuận và cả miền Nam anh hùng!

Ngay đêm, đoàn quân ấy lại lên đường với sức mạnh vô bờ của cả hậu phương lớn thân yêu!

 

P.V.C

 

Tin mới nhất









Lượt xem: 38 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
54

Lượt truy cập:
378.109