SÁCH CỔ VỚI TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI DAO Ở TUYÊN QUANG. BÀN XUÂN TRIỀU
Chủ nhật, ngày 27 tháng 1 năm 2019 - 8:3

Dân tộc Dao Tuyên Quang, có khoảng 100 ngàn người, đứng thứ 3 sau dân tộc Kinh và Tày, đứng thứ 2 dân tộc Dao toàn quốc. Tuyên Quang đất lành chim đậu, hội tụ được 9 ngành Dao: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Mùn, Dao Coóc Ngáng, Dao Ô Gang, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y và Dao Áo Dài, cư trú trên địa bàn 8 huyện, thành phố trong toàn tỉnh.

Dân tộc Dao có nền văn hóa rất đa dạng và phong phú. Theo kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể năm 2015 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong số 400 di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc toàn tỉnh, thì dân tộc Dao có tới 133 di sản văn hóa phi vật thể. Dân tộc Dao ở Tuyên Quang cũng như các tỉnh trong cả nước, có ngôn ngữ và chữ viết riêng, là chữ Nôm Dao. Người Dao Tuyên Quang đã được nhà nước xác minh và phân loại tên gọi và công nhận là 9 ngành Dao. Nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc Dao đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhưng nghiên cứu sâu, toàn diện còn ít, cho nên việc hiểu được bản chất tín ngưỡng người Dao phải từ những nghi lễ diễn ra hằng ngày trong cộng đồng người Dao. Với bài viết này, tôi xin được khái quát về tín ngưỡng của người Dao thông qua nghiên cứu sách cổ chữ Nôm Dao. Nội dung gồm: Khái quát về tín ngưỡng của người Dao; Các thể loại sách cổ; nguồn gốc sách cổ; sự ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo đối với tín ngưỡng của người Dao; Tính nhân văn của sách cổ; Tranh thờ với đại lễ cúng; Sự cần thiết bảo tồn sách cổ người Dao...

Người Dao Tuyên Quang được xác định thành 9 ngành, phân thành 2 nhóm, gọi là nhóm I và nhóm II. Nhóm I, gồm có các ngành Dao (Quần Trắng, Thanh Y và Áo Dài). Nhóm II, gồm có các ngành Dao (Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Mùn, Coóc Ngáng, Ô Gang).

Sách cổ người Dao ở Nhóm I. Theo ông Trần Hải Thanh, Dao Quần Trắng xã Mỹ Bằng và ông Hoàng Văn Bích xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thì sách cổ của Dao Quần Trắng gồm trên 60 cuốn, gồm các thể loại: Ông Trần Hải Thanh có: Sách cúng Tam Nguyên 15 cuốn, Tam Bảo 60 cuốn, ngoài ra còn có sách thơ cổ, dạy học, sách xem ngày, tướng số, phong thủy… Theo ông Hoàng Văn Bích: Sách xem ngày, xem số, sách cúng giải hạn, sách cúng cầu làng, sách cấp sắc: (Tam Cao, Sun Quang), Sách đám chay 25 quyển, sách bùa để chữa bệnh, sách khơi sơn (chỉ được phép đọc trong ngày tết và ngày cúng, sách xem năm lấy gạo để cúng cầu hồn, sách xem tuổi vợ chồng, sách bói, sách kim đơn dùng trong đám chay, sách hát Páo dung, sách cúng Bàn Vương, cầu mùa, kể chuyện Trương Quân, hát giao duyên Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Truyện Bắc Kinh (truyện kể về cây gậy cứu người)…

Sách cổ của người Dao nhóm II: (Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Mùn, Coóc Ngáng, Ô Gang), gồm có những loại sau: Qua thực tế sưu tầm được các thầy tào, thầy cúng cho xem và giới thiệu thấy sách cổ của người Dao nhóm II, có nhiều thể loại sau:

Sách tín ngưỡng, gồm có: Sài dung sâu (sách sư thơ), Chấu đàng sâu (sách đại lễ cúng Bàn Vương): Tồm cháo sâu (đại lộ thư), phìu cháo sâu (tiểu lộ thư); quá tăng sâu (cấp sắc thư), sà ché sâu (cởi trói xua đuổi tà ma thư), khoi kềm hỏ nháng sâu (cúng mừng năm mới thư), Phí nhụn sâu (tiểu lễ cúng Bàn Vương thư), chủ chông sâu (tổ tông thư), phúng quái sâu (tẩy uế thư), chái nạn sâu, ché sết thư (giải hạn thư), chá chiều sâu (cúng cầu thư), chà phin sâu (gia phả tổ tiên thư), thìn tòng sâu (cúng hòa giải vợ chồng mâu thuẫn thư), trừ tà thư; cầu hồn cầu vía thư, gồm có: Chuôi vần, piàng miến, sáng vần pút tồng sâu; sách bói: Bấu quá, bầu táng, tồm bấu, dàng quá, ừ chề quá, nhụt tái quá, sách ma chay, phúng chông sâu, trều mòng sâu, sách cúng thần ruộng, nương, thổ công, thổ địa, lễ kết hôn, sách chiêm tinh tướng số: Thồng sâu, phún mảnh sâu, tạp tẩy sâu, cáp huân hểu tìu phây sâu, họp pùn sâu, sách dạy học: Tồm sú khai, sú khai ton, tồm chàng quáng sâu, chàng quàng ton, sú sồng, khống chú. Sách dạy học mỗi quyển một lớp; Sách thơ ca: Pá dung sâu, cóng phây sâu, dùng cấu; Sách phòng chữa bệnh: Đìa sâu; sách câu đố, câu đối, sách liều súi pẩu sâu (sách gia phả của họ tộc).

Trong các loại sách cúng của người Dao nhóm II, có “Sài dung sâu” là cuốn sách được tổ tiên tổng hợp đầy đủ các bài cúng và nghi lễ cúng được sử dụng trong các đại lễ cúng, coi đây là quyển sách đại cương trong các đại lễ cúng...

Là người làm thầy cúng bao giờ cũng phải có sách để hành lễ phục vụ cho cộng đồng người Dao. Do vậy, người làm thầy cúng phải sưu tầm, sao chép những bài, những cuốn sách cần thiết. Qua tìm hiểu người giữ được nhiều sách nhất, mặc dù chưa đầy đủ nhưng cũng đã có trên 60 đến 70 loại sách. Chưa có điều kiện kiểm kê, nhưng qua gặp gỡ sưu tầm sách cổ của các ngành Dao Tuyên Quang phải có tới hàng nghìn cuốn.

 Nguồn gốc của sách cổ người Dao: Sách Cổ Chữ Nôm Dao đã tồn tại hàng ngàn năm trong lòng dân tộc Dao, các nhà khoa học hiện vẫn chưa xác định được và hầu như các tài liệu cũng không thấy nhắc đến, chỉ biết rằng, từ bao đời trước, người Dao đã coi đây như chữ viết riêng của dân tộc mình. Bởi vì trong các cuốn sách cổ không ghi tên tác giả và niên đại. Chỉ những cuốn sách sao chép lại mới ghi tên người chép và niên đại tháng năm. Thông qua nội dung các loại sách cổ, mới biết được người sáng tạo ra kho tàng tri thức trong sách là người có tâm, tài cao, kiến thức uyên bác trong lĩnh vực tín ngưỡng của người Dao.

 Sách cổ của người Dao là di sản văn hóa quan trọng, là nguồn tư liệu, là “chìa khóa” để mở cánh cửa nghiên cứu văn hóa của dân tộc Dao. Sách cổ của người Dao Tuyên Quang rất phong phú, mỗi làng người Dao có hàng trăm cuốn sách cổ. Người Dao gọi sách cổ là “sâu” có nghĩa là “thư”, “sách”. Sách cổ của người Dao được ghi chép bằng loại chữ viết tượng hình theo kiểu chữ Hán nhưng được đọc theo âm Dao. Sách cổ kể lại quá trình di trú gian nan vất vả của dân tộc cũng như tinh thần đấu tranh bất khuất của họ trong việc chống lại cường quyền, áp bức, bóc lột, trinh phục thiên nhiên. Có những cuốn sách phản ánh lịch sử hình thành phát triển của dân tộc Dao, hay những cuốn sách ghi chép gia phả của từng dòng tộc cụ thể. Qua đó lý giải tục thờ Bàn Vương, vị thủy tổ mà người Dao vẫn gọi là thánh “Piền Hùng sính tía” (Bàn Vương thánh đế), vị thánh lớn nhất của người Dao. Cái đặc trưng của người Dao là thờ ông “Piền Cấu” (Bàn Cổ), người Dao gọi là “Piền Cấu sính nhiền” nghĩa là (Bàn Cổ thánh nhân). Trong nhiều cuốn sách cũng ghi rõ người Dao đã vào các vùng miền ở Việt Nam như thế nào với những hành trình lịch sử của họ trên các mảnh đất khác nhau được ghi trong sách đó. Đặc biệt là quá trình vượt biên đầy sóng gió với 7 ngày bảy đêm lênh đênh trên biển, thuyền không hề di chuyển, đe dọa tính mạng, ngàn cân treo sợi tóc. Trong tình thế nguy cấp ấy, mười hai họ người Dao trên thuyền, không còn cách nào khác, mà chỉ bàn kế khấn mời thánh thần, Bàn Vương và tổ tiên phù hộ. Sau khi khấn và khất nếu vượt qua được hiểm nguy này sẽ làm lễ cúng tạ ơn thánh thần và tổ tiên. Khấn xong, thuyền mới di chuyển vượt qua sóng gió ra đến đất liền an toàn. Sau khi vào đến đất liền các họ Dao phải giữ lời khất trên thuyền. Các họ Dao tìm cách bẫy thú rừng để làm lễ tạ ơn thánh thần, tổ tiên...

Nội dung sách rất phong phú, là kho tàng tri thức khổng lồ. Bên cạnh giá trị hướng dẫn thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, còn có giá trị bảo tồn phong tục tập quán, nghi lễ của người Dao. Qua gặp gỡ trao đổi với hàng chục thầy cúng, thầy tào, nghệ nhân có tiếng của 09 ngành Dao Tuyên Quang và các tỉnh có người Dao, thấy: Sách cổ là những cuốn sách vô cùng quý giá gồm nhiều thể loại trong tín ngưỡng và văn học... Sách xem ngày tháng, ngày tốt lành để làm nhà, chọn ngày làm đám cưới… Sách cổ của người Dao còn là công cụ truyền dạy kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, các kiến thức về thời tiết, chọn đất canh tác, tri thức về dược liệu và cách chữa bệnh của người Dao. Loại sách hướng dẫn các kinh nghiệm ứng xử xã hội, sách giáo huấn răn dạy đạo đức làm người.

Bình hoàng thắng điệp, Quá Sơn Bảng văn, là sách về nguồn gốc và là lệnh chỉ để người Dao đi qua núi để đi đến vùng miền. Hầu như toàn bộ đời sống văn hóa của người Dao được lưu truyền lại trong những cuốn sách cổ. Sách cổ không những để những người con của dân tộc Dao lưu giữ truyền thống của cha ông mình, mà còn góp phần phong phú thêm nền văn hóa đại gia đình các dân tộc Việt  Nam.

Sự ảnh hưởng của ba tôn giáo: Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo.

Tổ tiên người Dao biết kết hợp tư tưởng của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo đối với tín ngưỡng của người Dao trong sách cổ chữ Nôm Dao.

Để hiểu được sự ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo đối với tín ngưỡng của người Dao phải do các nhà khoa học, nhà nghiên cứu mới lý giải được.  Ở đây tôi chỉ là người thực tế qua nghiên cứu tín ngưỡng của 9 ngành Dao. Từ khi thành lập Câu lạc bộ bảo tồn văn hóa dân tộc Dao tỉnh Tuyên Quang mới có dịp gặp gỡ các thầy cúng, sưu tầm các thể loại sách của 9 ngành Dao tỉnh Tuyên Quang. Trong đó sách phục vụ cho các đại lễ cúng. Đặc biệt là nghiên cứu nghi lễ cấp sắc của các ngành Dao mới biết được tín ngưỡng của người Dao là sự kết hợp tư tưởng của Đạo giáo, Phật  giáo và Nho giáo.

Để chứng minh sự ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo đối với tín ngưỡng của người Dao, tôi đã mất nhiều thời gian sưu tầm, nghiên cứu một số tài liệu của một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đặc biệt thông qua thực hiện đề tài “Tranh thờ với đại lễ cúng của người Dao” do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam giao cho Chi Hội văn nghệ dân gian tỉnh Tuyên Quang thực hiện. Trong đó tôi là người trực tiếp tham gia giúp sưu tầm, nghiên cứu. Qua tìm hiểu nhiều thầy cúng là “trí thức” của 9 ngành Dao tỉnh Tuyên Quang, người Dao ở các tỉnh và người Dao một số nước trên thế giới. Thấy rằng, trong 9 ngành Dao tỉnh Tuyên Quang có sự tương đồng nhưng cũng có một số khác biệt về hình thức thể hiện trong các nghi lễ tín ngưỡng. Ở nhóm I gồm có ba ngành: Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y và Dao Áo Dài có phong tục tập quán và tín ngưỡng có sự tương đồng về tiếng nói và hình thức tổ chức trong các đại lễ cấp sắc, khác biệt với hình thức các ngành Dao ở nhóm II, gồm 6 ngành: Dao Đỏ, Dao Đeo Tiền, Dao Coóc Mùn, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Ngáng và Dao Ô Gang. Ở nhóm I, Dao Quần Trắng cấp sắc theo tên Thánh. Mỗi đệ tử cấp cùng một lễ cả 3 tên thánh, mỗi tên thánh được cấp 3 đèn gọi là cấp Tam Nguyên 3 đèn, Tam Bảo 3 đèn và Tam Thanh 3 đèn; ở 2 ngành Dao Thanh Y và Dao Áo Dài thì cấp theo bên Đạo và bên Kinh. Bên Đạo mỗi đệ tử chỉ được cấp 3 đèn, bên Kinh 3 đèn. Ở nhóm II, gồm Dao Đỏ, Dao Đeo Tiền, Dao Coóc Mùn, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Ngáng, Dao Ô Gang cấp theo bậc đèn: 3 đèn (phàm thoi), 7 đèn (siết phinh), 12 đèn (tài lò, phàm cháy phàm tẩu tăng, là bậc cao nhất). Hình thức cấp sắc của hai nhóm cũng có sự khác biệt, thứ nhất nhóm I cấp theo thánh nhưng mỗi đệ tử chỉ được cấp 3 đèn và chỉ qua cấp sắc mới đặt được tên âm, nên bắt buộc là người con trai phải qua cấp sắc. Còn nhóm II, thì việc đặt tên âm không nhất thiết phải qua cấp sắc mà qua lễ kết hôn đã được đặt tên âm, đến khi cấp sắc đã có tên âm từ lúc kết hôn. Riêng Dao Đeo Tiền thuộc nhóm II, nhưng bắt buộc người con trai nào cũng phải cấp sắc mới được đặt tên âm. Ý nghĩa việc đặt tên âm là rất quan trọng đối với đàn ông người Dao. Bởi vì đàn ông người Dao có tên âm mới được Bàn Vương và tổ tiên công nhận là con cháu người Dao.

Thông qua nghi lễ cấp sắc của 9 ngành Dao, thể hiện rất rõ sự kết hợp giữa Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo trong tín ngưỡng của người Dao. Đây là thể hiện niềm tin của người Dao có ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo... Qua nghiên cứu cuốn “Sách cổ người Dao” của tiến sỹ Trần Hữu Sơn có ghi: “… Nội dung của truyện thơ khá phong phú, có loại đề cao giáo lý Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, thuyết giáo dục đạo đức, có loại kể về thân phận tình yêu nam nữ hoặc số phận đứa trẻ mồ côi…” (Sách cổ người Dao, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc - Hà Nội, năm 2009, trang 39, tập 1)…

Tính nhân văn trong sách cổ. Người Dao quan niệm thầy cúng là người “diều hành thin đía diếu chẩu nhiền màn”, có nghĩa là “Vi hành khắp thế gian cứu giúp nhân loại”. Người Dao coi cúng bái là “trị bệnh cứu người”. Ngày xưa chưa có khoa học kỹ thuật, chưa có bệnh viện, chưa có bác sĩ, nên người Dao tin vào thánh thần, tổ tiên là những đấng cứu nhân độ lượng, con người đối xử tốt sẽ được thánh thần, tổ tiên phù hộ. Ngược lại nếu không đối xử tốt sẽ bị thánh thần, tổ tiên quở trách, vì vậy mà tổ tiên người Dao rất sáng suốt sáng tác ra những bài cúng, bài chú để “trị bệnh cứu người”, đó là những nghi lễ cúng từ nhỏ đến to, được thể hiện trong sách cổ của người Dao. Đặc biệt là trong nghi lễ cấp sắc của người Dao được sư phụ dạy cho các đệ tử bằng 10 điều răn dạy phải làm và không được làm trong quá trình hành nghề của thầy cúng.

Mười điều răn dạy mang tính nhân văn rất cao: Một là: Không được chửi trời, chửi đất, chửi mặt trăng; Hai là: Không được vô lễ với bố mẹ; Ba là: Không được sát hại sinh linh; Bốn là: Không được học làm điều xấu; Năm là: Không được dâm ô, hủ hóa; Sáu là: Không được trộm cắp lấy của người khác đem về làm của mình; Bảy là: Không được khinh thường anh em nghèo khổ bơ vơ; Tám là: Dù rắn, hổ, mưa to, bão lớn... mà có người đến nhờ sẵn sàng đi giúp ngay; Chín là: Không tham giàu mà chê người khác nghèo khổ; Mười là: Không được chửi thánh thần, ham danh lợi...

Tính nhân văn và tinh hoa văn hóa, tín ngưỡng của người Dao được kết tinh bởi sự gắn kết niềm tin vào một tương lai tươi sáng mà con người hướng tới. Cầu mong mọi người hãy hướng thiện, nhưng cái thiện ấy không phải dĩ hòa vi quý, mà con người phải trải qua gian khổ mới tôi luyện thành người, biết lẽ phải yêu thương. Vì vậy, người Dao đã dạy bảo con trẻ từ lúc còn trong nôi với lời ru: Tủ su chi lý/Cháo huấn chú xuân/siao niền pú dỏ/diếu hủ kỳ sin/tủ su lán tó/chỏ khí chiều din. Có nghĩa là phải học mới thông lý lẽ, dạy cho con cháu, trẻ mà không học, không có gì phòng thân, học mà lười biếng, có việc phải nhờ người.

Đại lễ cúng của người Dao là đỉnh cao của nét văn hóa đặc trưng của người Dao. Thông qua các đại lễ cúng như là lễ hội quan trọng nhất của gia đình, dòng họ, cộng đồng. Đại lễ cúng là món ăn tinh thần thu hút được bà con gần xa, là dịp đến để thưởng thức. Qua tài nghệ diễn xướng của các thầy cúng, thầy tào và diễn tấu đạo cụ vừa mang tính tâm linh vừa mang tính văn hóa cộng đồng. Với lời hát múa cộng với âm hưởng của đạo cụ là tiếng lòng của người ở dương thế với thánh thần tổ tiên, tri ân sự chở che của thánh thần tổ tiên, cầu mong thánh thần tổ tiên phù hộ cho con người hạnh phúc an lành.

Sự cần thiết bảo tồn: Những tinh hoa quý giá trong sách cổ của người Dao đang mai một dần. Vì vậy, phải có giải pháp thiết thực để bảo tồn. Trong đó việc thành lập các câu lạc bộ bảo tồn văn hóa dân tộc Dao tại tỉnh, các ngành Dao, các bản làng, huyện, xã có người Dao. Tuyên truyền, động viên người Dao phải thấy được tầm quan trọng trong việc bảo tồn kho tàng tri thức của mình, từ đó tự mình biết để chăm lo là rất cần thiết.

Việc học chữ Nôm Dao, bảo tồn bản sắc văn hóa và tín ngưỡng phải cả cộng đồng người Dao tham gia. Để đảm bảo thiết thực trong việc học lý lẽ của chữ Nôm Dao, đòi hỏi các “trí thức của người Dao” phải soạn, dịch nội dung của các bộ sách dạy và học chữ Nôm Dao dạy học cho thế hệ trẻ.

Tháng 11/2018

B.X.T

 

 

Tin mới nhất









Lượt xem: 52 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
63

Lượt truy cập:
378.110