VƯỜN XUÂN. TRUYỆN KÝ CỦA HOÀNG KIM YẾN
Chủ nhật, ngày 27 tháng 1 năm 2019 - 8:5

Thế rồi vạn vật cũng tự biến chuyển sau quãng thời gian không chính kiến rõ ràng. Sự thay đổi không gọi là đột ngột, là bất ngờ bởi nhẽ vũ trụ vô biên, thế giới hữu biên.

Lời nói của con người mô tả sự vật  chỉ có giá trị tương đối, bởi tầm nhìn xa cuối cùng của con mắt tạo nên biên giới trong không gian.

Mùa đông lúc nào cũng vậy, co ro chậm rãi giấu trong sâu thẳm những háo hức sinh lực tràn đầy, để đến cuối ngày dồn hết sức bung ra, tạo tiếng  thơm cho một mùa mới không mang tên mình.

Những chuỗi ngày mệt toài với cả đống cây cối các loại, nhẩm đi tính lại trừ các khoản đầu tư cây giống, phân bón, thuốc diệt trừ sâu, phí vận chuyển trong một năm, thì vườn đào, cúc, hồng, thược dược đồng tiền, của vợ chồng Xuân, kẻ chỉ căng đét cũng thu về tiền lãi khoảng dăm chục triệu.

Chẳng đáng là bao, nhưng so với những năm chín mươi, thời hai vợ chồng Xuân còng lưng đạp xe đi các chợ xa buôn ngô, khoai sắn, thì đó cũng là một điều đáng nể.

Hàng năm mỗi khi đông tàn, xuân về trên từng nẻo đường góc phố. Tôi hẹn người bạn, đi chọn cho mình cành đào để mang về trang trí trong nhà chuẩn bị đón tết. Chỉ riêng trong khu vực phường Nông Tiến thôi mà hai đứa đi suốt từ hôm hai mươi tư tháng Chạp, đến tận hai chín Tết mới mua được cành đào cho cả hai nhà.

Không phải hiếm hoi hay tại giá cả, vấn đề là có cả một khoảng thời gian được phép nhàn rỗi lang thang, mà không phải tất tả, lo nghĩ này nọ.

Những vườn cây muôn màu khoe sắc, người, ong, bướm, mùi hương hoa các loại va vào nhau trong những miệng cười xinh, mắt biếc long lanh đầy quyến rũ.

Bạn tôi bảo:

- Muốn mua lay giơn thì phải lên Trung Môn, còn đào cúc đồng tiền thì nhất định phải sang Nông Tiến.

- Thế ông biết xóm nào, người nào có thâm niên trồng đào ở đấy không? Trước năm hai nghìn khi tôi chưa về định cư bên ấy, thì đó là nơi nổi tiếng trồng hoa đồng tiền và lay giơn đỏ.

Những năm tám mươi, thời còn những chuyến phà dào dạt, đêm trăng buông thả đầy cánh hoa di lăng vào tóc vào vai áo người sang sông trên bến đợi chờ nhau, thì sớm ra những thúng hoa đồng tiền, lay giơn gánh trên vai các bà, những thùng hoa buộc sau xe đạp các chị, được chở sang chợ thị xã, hồng đỏ cả một góc sông Lô. Ngày ấy vẫn còn lưu trú trong ký ức học trò của tôi, mỗi lần trốn học ra triền sông bên này ngóng về bên kia sông và mơ mộng, lẩm nhẩm trong miệng mãi câu thơ: Anh cùng em sang bên kia cầu. Nơi có những miền quê yên ả. Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá… Trong bài thơ Lửa đèn. Của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Lòng tôi ước ao, làm sao đến một ngày có một cây cầu bắc qua sông để sang bên đấy, để không khỏi lo sợ mỗi khi bố mẹ đi làm qua sông sợ đò, phà đứt pu ly cáp trôi dạt về tận đẩu đâu.

- Thời cởi truồng chân đất nhắc làm gì, giờ bạn đã là dân Nông Tiến rồi, cầu cũng đi qua lại mòn chân, nhàn rỗi hai đứa mình đi khai quật xem ông nào khai sáng nên những vườn đào này.

Bạn tôi nêu lên ý tưởng, thế là cũng có việc để làm, dù việc đó chẳng có gì là mới, và cũng chẳng cho hai chúng tôi thêm chút tiền tiêu tết. Chỉ là thích, phởn lên cùng sắc màu thế thôi.

Bỏ qua những lời mời gọi say mềm lòng, những bàn tay ấm áp nắm chặt dẫn dụ hấp dẫn của các ông chủ vườn cây cảnh muôn loài. Chúng tôi leo qua con dốc nhỏ, một người đàn ông dáng dấp, khuôn mặt trông khắc khổ nặng ưu tư đang lom khom trong vườn cây với vài gốc đào già, lưa thưa lá và những cành chi chít nụ non.

- Mua đào tết đi cô, chú.

- Sao vườn nhà mình rộng mà có ít cây thế ạ?

Nhìn người chủ vườn này có nét gì đó quen quen mà tôi chưa nhớ ra. Anh ta cũng nhìn tôi như thể lần đầu trong đời thấy một sinh vật lạ ngoài trái đất. Có điều gì đó bất thường chăng?

- Cô không biết tôi, chứ tôi chẳng lạ gì cô. Tôi nhập ngũ và ở cùng đơn vị với anh trai cô năm một chín tám tư, ở mặt trận Vị Xuyên, tiếc là hắn đã hy sinh…

 Thì ra là vậy! Thế là câu chuyện có phần cởi mở bên bàn nước chè trong vườn đào cạnh những gốc đào già bung nụ non mơn mởn. Anh Xuân kể.

Những năm tám mươi đổ về trước đúng là đất Nông Tiến nổi tiếng trồng hoa đồng tiền, thược dược, lay giơn… Năm chín mươi, chín mốt các ông Chu Liên, ông Hào, anh Lưu và một vài người nữa mạnh dạn phá bỏ những vườn hoa đó, họ rủ nhau về Phú Thọ mua giống và học cách trồng chăm sóc đào.

Tổ 14 xã Nông Tiến là tổ trọng tâm trong việc trồng đào, ông Chu Liên, ông Hào cũng mất từ lâu.

Năm 1990 anh Xuân xuất ngũ trở về địa phương, kết hôn và mua một mảnh đất đồi gần hai nghìn mét vuông ở tổ 14. Từ nhỏ vốn yêu thích việc làm vườn, vả lại gia cảnh cũng khó khăn, nhà lại đông con, nên bố mẹ anh Xuân cũng chỉ có thể cho chín người con của mình học hết cấp hai trường làng là cũng đủ để đi lại hãnh diện với bà con chòm xóm rồi.

Muốn khai thác, mở rộng mô hình vườn hoa cây cảnh, thì phải đi học cách ươm giống, kỹ thuật trồng, ghép, uốn… Và điều quan trọng là phải có tiền để đầu tư. Mới cưới nhau, tiền mua đất làm nhà còn chịu một nửa. Có thực mới vực được đạo.

Hai vợ chồng anh Xuân đành phải cặm cụi đạp xe đi các chợ xa, thu mua từng cân ngô, sắn, chục trứng gà, vịt… Thôi thì có ít tiền gặp gì mà cảm thấy đem về mang bán kiếm được tí lãi là hai vợ chồng cũng cố, bất chấp thời tiết mưa nắng thất thường, ốm cũng không nghỉ.

Tích tiểu thành đại sau hai năm bươn chải chạy chợ đường xa, vợ chồng anh cũng có được chút tiền, mua được dăm gốc đào và hơn chục cành đào chiết dưới Phú Thọ. Mừng vui, lo nghĩ còn hơn cả khi chạy chợ, của bỏ ra một đống tiền ki cóp dành dụm chứ có ít đâu.

Hai vợ chồng lụi hụi san vườn được hơn hai sào đất để ươm trồng đào, một sào để trồng cúc. Vì chưa có kinh nghiệm nên những ngày tháng đầu vợ chồng anh chạy xuôi chạy ngược hết nhà này đến nhà khác, những người đi tiên phong trong xóm để học hỏi cách chăm sóc, bón phân và nuôi dưỡng bảo vệ cây.

Làm nghề gì vất vả nghề đó, cứ tưởng ngon ăn nào ngờ nó lại phát sinh ra bao nhiêu vấn đề, nào là thời tiết nắng mưa, khi đang nóng như hun lại dồn dập rét mướt sương muối, nào là sâu đục thân, nhện đỏ, rệp, bọ trĩ  cắn nụ kén lá… Có năm chưa đến hai mươi ba Tết mà đào bung hết hoa, rồi có năm đến rằm tháng Giêng đào mới hé nụ nở hoa rực rỡ.

 Cả ngày hì hục đun ước ấm để tưới cây, rồi đến đêm lại quây lưới thắp điện, vừa tốn công lại tốn của. Ông trời cứ thản nhiên như không, thử thách sự chịu đựng của con người thật là quá đáng.

Vợ chồng anh Xuân chỉ biết ngậm ngùi ôm nhau thở dài, và đũa cơm lên miệng mặn chát nước mắt.

- Vậy sau đó nhà anh phát triển lên đến tận giờ được bao nhiêu gốc đào mà em thấy trong vườn thưa thớt thế này.

Tôi là người không quan tâm đến quá trình mà chỉ chú ý đến kết quả nên sốt ruột hỏi luôn.

Anh Xuân cho biết, vườn đào gia đình anh có trên ba mươi gốc, có những gốc tuổi thọ trên mười lăm năm, số cây tuổi thọ cao có ít chiếm khoảng 30 phần trăm, còn lại chỉ từ bốn đến bảy năm, cố gắng chăm sóc lắm cũng không hơn được, cây tự bệnh mà mục chết.

Cuối năm thu nhập chính của gia đình là cho thuê đào chơi tết, cây nào uốn ghép được nhiều dáng, thế, lộc hoa mập mạp trừ chi phí vận chuyển cũng thu về được bốn triệu đồng, cây thấp nhất khoảng một triệu. Chủ yếu là các doanh nghiệp và khách sạn nhà hàng lớn mới dám chịu chi ra từng đấy tiền chơi tết chục ngày rồi lại mang trả cây về vườn cho chủ.

Các cơ quan nhà nước có thuê thì cũng chỉ một đến hai triệu đồng, còn nhà dân thì chủ yếu họ chơi cành, mà mỗi cành giá cao nhất cũng chỉ hai trăm ngàn là đỉnh.

- Gốc kia bác tạo dáng đẹp thế, có phải đi học không đấy ạ?

Bạn tôi chỉ tay về góc vườn, sau một hồi ngọ nguậy cái đầu nghiêng ngó.

- Sao lại không! Năm chín lăm tôi phải khăn gói quả mướp về Phú Thọ xin làm việc không công cho một ông chủ vườn đào mất nửa năm để học cách ghép và tạo dáng cho cây, rồi năn nỉ gạ mãi mới mua được một cây đào bé, được uốn sẵn với giá hai trăm ngàn để mang về Tuyên đấy.

Công việc nhà vườn nói chung cũng không đến nỗi vất vả như một số nghề tự do khác. Một năm chăm bón thu hoạch hai vụ hoa cúc, đào thì bắt đầu từ tháng mười âm lịch vặt lá chia làm hai lần cách tết từ năm mươi đến sáu lăm ngày, từ búp xuống hai mươi phân để đào ra nụ, hoa đúng dịp tết.

Năm sáu năm nay, người dân chủ yếu thích chơi đào phai, đào rừng. Đào bích, đào đỏ đã lỗi mốt. Thế là các nhà vườn lại hò nhau đi săn lùng tận trong làng bản sâu xa để thu mua về cấy ghép phục vụ thị trường.

Chục năm trở lại đây một số gia đình các tổ lân cận cũng phá bỏ hết vườn táo, cam, ngô… Để trồng đào, nên lợi nhuận thu về cho gia đình anh Xuân và những người có thâm niên trồng đào trong tổ 14 cũng giảm đi nhiều. Họ cũng phải gồng vai với công việc đồng áng soi bãi, nhà nào cũng có ít nhất hai, ba sào ruộng lúa và ba, bốn sào soi bãi trồng ngô, mía… Nhưng thu nhập chính vẫn là từ vườn đào.

Minh họa của Tân Hà

 

Hàng năm mỗi hộ trong vùng được vay vốn từ quỹ Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, trên dưới ba mươi triệu một hộ.

Không còn cảnh đói nghèo, không có đất trồng cấy chăn nuôi, vấn đề không phải ở đất mà là do con người, là sự chịu khó tảo tần, vượt lên trên mưa nắng bão giông thất thường thời tiết, vượt qua mọi hoàn cảnh số phận để cứu rỗi chính cuộc sống của mình, biến sỏi đá núi đồi thành bát cơm dẻo thơm, chén nước mát lành tinh khiết.

Có 102 hộ dân cư trong tổ 14 thì đến bảy mươi hộ làm nông nghiệp, nhưng hầu như từ đầu tổ đến cuổi tổ nhà nào cũng có hai, ba sào đất vườn trồng đào, cúc, hồng…

Nhà ông Trần Văn Trí, tổ trưởng kiêm Bí thư Chi bộ tổ 14 ít đất nhất mà cũng có ba sào đất trồng đào, một sào trồng hoa cúc, kinh tế gia đình cũng khá lên nhờ vườn cây.

- Vườn nhà anh còn đào không, em muốn mua một hai cành về cắm chơi mấy ngày cho có không khí tết?

- Gốc thì cho thuê hết rồi, cành còn khoảng dăm chục ở vườn sau nhà. Cô, chú cứ uống nước rồi thong thả ra xem ưng cành nào tôi cắt, to thì to tiền, tùy theo mức độ.

- Năm nào bọn em cũng vào mấy xóm trong này mua đào nhưng không biết nhà anh, mấy vườn đào ở tổ 13, 12, tổ 5 chắc thành lập sau nên cây, cành nhỏ lắm. Có những gốc nhìn như vừa đào ở rừng về.

Gần hết cả buổi sáng, ba người chúng tôi cứ xoay quanh câu chuyện về đào mà không thấy mỏi mệt. Những cánh đào tưởng như mong manh nhưng mãnh liệt sức sống, mặc kệ ngoài kia đời xô bồ bon chen, nếu đủ đầy nước, nắng và sự nâng niu trân trọng của con người, thì dù là thân gốc già nua sắp chuyển kiếp cũng kịp bung ra trước ánh xuân những lộc non nụ thắm.

Buông xả hết ưu phiền bước vào vườn đào xuân, sao thấy lòng nhẹ nhàng yêu thêm cuộc sống đến thế, lúc này mọi tầm nhìn của tôi và người bạn cũng không thể vượt ra khỏi những cánh hoa đào. Mùa xuân mềm như tơ đang no tròn màu sắc rung rinh cười duyên trong gió, báo hiệu một ngày không tên cho vạn sự hồi sinh tiền định.

 

H.K.Y

 









Lượt xem: 42 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
17

Lượt truy cập:
376.250