NHỮNG KỶ NIỆM GĂM SÂU TRONG KÍ ỨC Ở TẬP THƠ MIỀN KÍ ỨC CỦA PHẠM NGỌC KHUÊ. TRẦN HUY
Chủ nhật, ngày 27 tháng 1 năm 2019 - 8:6

Người làm thơ, thường có nguồn lạch khơi dậy cảm xúc, rung động đến tận đáy lòng để cất lên thành thơ, với nhà thơ Phạm Ngọc Khuê nguồn lạch ấy đã được nói rõ trong mấy câu thơ đề tựa cho tập thơ “Miền kí ức” của mình:

… Thời gian dù có phôi pha

Trong ta kí ức quê nhà vẹn nguyên...

Dù đi khắp bốn phương trời

Con tim vẫn hướng về nơi cổng làng...

Nguồn lạch ấy với Phạm Ngọc Khuê, chính là quê hương nhà thơ, Phong Triều, Nam Triều, Phú Xuyên, nay thuộc Hà Nội. Nơi dẫu nhà thơ ở đâu, đi đâu, đến phương trời nào, lúc vui, lúc buồn vẫn luôn nhớ về nguồn cội của mình: “Trở về tìm lại núm nhau/Thầy chôn bên cạnh giàn trầu cuối sân”. Nỗi nhớ thật dìu dặt, chân thành, bằng hồn thơ trong sáng, giầu cảm xúc, ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ được chọn lọc kỹ có sức gợi cảm.

Biểu tượng đẹp nhất của quê hương chính là người mẹ. Bà mẹ nghèo, lam lũ, tần tảo, hy sinh tất cả dành tình thương cho chồng, cho con nhận về mình phần cát lũy. Đọc bài thơ “U tôi” tôi bỗng nhớ đến bài thơ “Mẹ” của nhà thơ Chế Lan Viên:

Xa mẹ mười năm đi khắp nước

Trăm quê chưa dễ thực quê nhà

Sáng nay mới được về quê nhỉ

Bóng mẹ già ai giống mẹ ta.

Đi mọi miền đất nước, gặp trăm quê vẫn không sao có tình cảm về quê hương. Bất chợt như được về quê hương yêu dấu, hằng nhớ mong khi nhìn thấy “Bóng mẹ già ai giống mẹ ta”. Chỉ được nhìn thấy mẹ, cho dẫu chỉ là hình bóng thôi như thấy đã được về quê hương thật rồi. Đủ biết, quê hương gợi nhớ, gợi thương đến nhường nào.

Đây cũng là cảm xúc chung của bất kỳ nhà thơ nào khi viết về mẹ. Điều đáng trân trọng trong thơ Phạm Ngọc Khuê là tình cảm chân thành, kính trọng, lời thơ dung dị làm rung động nỗi lòng người đọc thơ bởi sự chân thực, thành kính của người con khi viết về mẹ. Bẩy cặp đôi, câu thơ lục bát, mười bốn câu thơ, mười bốn tiếng nấc nghẹn ngào, rung động tận sâu thẳm tâm can người đọc. Mười bốn câu thơ không có câu nào nói về niềm vui và hạnh phúc. Tất cả là những đói nghèo, cơ cực, lam lũ, tần tảo, đau thương, mất mát, là những hy sinh thầm lặng của mẹ, chỉ một khát vọng: “Mong con nên người”:

U tôi người của nhà quê

Năm mười sáu tuổi đã về làm dâu.

Hiếm con, Nghèo của. Cơ cầu...

Tuổi ba bẩy, giọt máu đầu sinh tôi...

Tôi vừa chập chững đầy năm

Thầy tôi lâm bệnh, hạc bay về trời.

Một mất mát quá lớn, để lại cho mẹ: Xác xơ mẹ góa, con côi/Thân cò bạc phận, lẻ loi tảo tần. “Bạc phận” chứ không phải là “lặn lội”. “Tảo tần” cũng không phải là “Một mình” như lẽ thường người đời thường viết. Tạo nên câu thơ có sức nặng, níu kéo lòng người đến rưng rưng lệ. Mẹ ở vậy nuôi con:

Nén lòng rào lấp đường xuân

Thắt lưng, buộc nỗi nhớ thầm thương con.

Đã “nén” rồi còn “rào”, lại cả “lấp”, “đường xuân”. Đã “thắt” rồi còn “buộc” nỗi nhớ thầm người chồng đã quá cố, tất cả chỉ để “thương con”. Không một mảy may nghĩ về mình, cho mình, với một ý chí đã thành lẽ sống, nén nỗi thương chồng, dành tất cả cho con. Còn có lời nào hơn thế khi người con hiểu thấu tấm lòng mẹ, biết mẹ dâng hiến cả “đường xuân” của cuộc đời mình cho con. Những bài thơ viết về mẹ nhiều lắm, nhưng đạt đến độ dung dị, cảm động đến nhường ấy, không có nhiều đâu.

Cần lắm tính chân thực trong văn chương, đặc biệt là thơ. Mọi lời dối trá, cho dẫu được che đậy bằng ngôn từ mỹ miều đến đâu, cũng không thể tạo nên sự đồng cảm với người đọc thơ. Không chân thực cũng không thể có thiện và mỹ được.

“Miền kí ức” có bốn mươi bốn bài thơ, nhà thơ dành phần lớn bài thơ viết về những kí ức quê hương. Về những kỷ niệm đã găm sâu vào trong kí ức. Dẫu có “Lang thang chìm nổi nơi gần nẻo xa” viết về quê người nhưng vẫn thấy bóng dáng quê hương nhà thơ. Nhớ về những kỷ niệm đã đằm sâu trong kí ức, đã gắn chặt vào cuộc đời, đến không thể nguôi quên:

Giếng làng mắt biếc ngày xưa

Hoàng hôn gánh nước bỏ bùa nước sâu

Nốt ruồi duyên, mắt bồ câu

Găm vào kí ức bạc đầu không quên.

Đã “găm” vào trong kí ức làm sao phôi pha được. Đọc những câu thơ ấy, tôi hiểu vì sao nhà thơ Phạm Ngọc Khuê nặng lòng với quê hương đến vậy.

Ăn tết ở quê người, người ta vui như tết, còn nhà thơ lại: “Giao thừa anh khóc chào xuân mới/Lòng buồn càng nhớ tới quê hương. Đứng “Giữa đồi hoa sim” tím rực mầu hoa dại trên đồi mà nỗi lòng nhà thơ bảng lảng ở cõi xa vời:

 Ngày xưa thơ mộng đâu rồi

 Tôi về nghẹn đắng giữa đồi hoa sim.

Gặp bến nước, đủ làm cái cớ để kí ức xưa ùa về, đau đáu một nỗi niềm:

Bến đây, người ấy xa rồi…

Người xưa ơi! Hỡi ngày xưa

Có còn nhớ đến người đưa đón mình.

Cuộc đời như dòng chảy không ngừng nghỉ, người làm thơ luôn chắt lọc cảm xúc, viết lên câu thơ bằng sự rung động tận sâu thẳm trái tim mình. Để từ đó tạo nên tình cảm rung động, đồng cảm với người đọc thơ. Thơ không chấp nhận sự hời hợt, dễ dãi, giả tạo, nhàm chán. Có nhẽ không ở đâu câu “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” lại được thể hiện rõ như trong thơ.

Khi đọc cả tập thơ, từ dăm chục bài, đến cả trăm bài, người đọc có điều kiện để lựa chọn, tìm những bài mình yêu thích nhất. Đọc “Miền kí ức” của nhà thơ Phạm Ngọc Khuê cả tập có bốn mươi bốn bài thơ. Tôi biết thi sĩ đã chọn lựa rất kỹ trong số rất nhiều bài thơ đã viết ra. Ngôn ngữ thơ được sàng lọc cẩn trọng, tạo nên hình tượng thơ thật sự “Ý tại ngôn ngoại” (Ý ở ngoài câu thơ) có tính hàm xúc cao. Đặc biệt là những câu thơ kết bài trong thơ Phạm Ngọc Khuê, tạo nên nỗi bâng khuâng, day dứt trong lòng người đọc.

Tháng ba ở các miền quê: “Hoa gạo đỏ trời/Chim kêu ríu rít/Hoa rơi quay tít/Lửa hồng gốc cây” gắn liền với trò chơi trẻ nhỏ: “Xâu hoa thành chuỗi/Làm đèn rước dâu”. Để rồi, khi lớn lên, mỗi người một ngả, tháng ba lại về, nhìn hoa gạo nở chói lói, bồi hồi nhớ thương người xưa đến nao lòng:

“Tháng ba còn đó/Em giờ… nơi đâu?

  Sông và trăng, gắn liền với sự xoay vần của tạo hóa còn mãi với trần gian. Nó chỉ thật sự có hồn, làm chứng nhân cho nỗi niềm của con người khi: “Tôi và em với bời bời ánh trăng”. Để thành nỗi đau in đậm mãi trong lòng người đến xót xa, luyến tiếc, không gì bù đắp được:

Thế rồi lỡ chuyện trầu cau  

Sông trôi ngơ ngác em… dâu nhà người

Bãi soi còn lại mình tôi

Trăng côi ngơ ngẩn. Lở bồi lòng ai…

Con Sáo đã sang sông, để lại nhớ thương đến vời vợi cho người ở lại.

Ở Mèo Vạc, Hà Giang có phiên chợ tình ở Khau Vai. Phiên chợ vào ngày 27 tháng 3 hàng năm, khi cái rét Nàng Bân vẫn còn vương vấn. Chợ chỉ là nơi gặp gỡ cho những ai có mối tình đầu dang dở, là chính: “Tự thuở nào đôi Từ Quy lỡ dở”, có dịp gặp lại nhau. Điều kỳ thú, vợ chồng đưa nhau đến đây, người chồng đi tìm người bạn tình thuở xưa của vợ, cho hai người gặp nhau, rồi mới đi tìm người bạn tình của mình. Họ nghỉ với nhau một đêm ở khu rừng sau chợ, cùng hàn huyên, ôn lại những kỷ niệm xưa của một thời yêu thương, gắn bó, đến sáng hôm sau chia tay, hẹn ngày này năm sau gặp lại.

Tình đời là thế, thật đậm đặc tính nhân văn, và cũng thật độc nhất vô nhị trên thế gian này: “Bạc thời gian, bạc cả mái đầu/Tìm chốn xưa buổi đầu gặp gỡ”. Nhưng không phải ai cũng gặp lại được tình xưa nghĩa cũ, không gặp được, chỉ còn biết ngậm ngùi, luyến tiếc, nhớ thương:

Mượn tiếng Khèn nói lời thương nhớ

Mắt em cười... đau đáu cả đời tôi.

Không ít thi sĩ viết về cảnh ngộ bi ai của những mối tình khi đã rơi vào cảnh ngộ: “Ai về hỏi liễu Chương Đài/ Tình chung đã bẻ cho người truyền tay” (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Viết về nỗi đau đến quặn lòng, giống như chàng Kim Trọng về thăm vườn Thúy, nơi đã hẹn ước với Thúy Kiều, bàng hoàng trước cảnh:

Vội sang vườn Thúy dò la

Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

                    (Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Phạm Ngọc Khuê có bài thơ rất hay viết về cảnh ngộ này, bài “Ngày xưa”, “Bất ngờ gặp lại… ngày xưa”. Gặp lại người con gái nhà thơ đã có một thời: “Bóng ai vương vấn một thời ngóng trông”. Giờ cảnh ngộ hoàn toàn khác, nàng đã là người của cửa Phật: “Ai giờ sắc sắc… không không/Cửa thiền khâu nắng nâu sồng đoan trang”. Nàng đã rũ sạch cát bụi trần ai, trở về cõi hư vô, trở về chốn lấy:

Kệ, kinh, tiếng mõ làm vui

Cho tâm thanh thản, quên đời, quên xưa.

Điều bất lực lớn nhất của con người là có nỗi đau, điều tâm sự muốn được giãi bầy với người thương mà không thể nói ra, không còn cơ hội để nói  “lực bất tòng tâm” mất rồi. Bởi lẽ, một người ở cõi Phật, một người ở chốn phàm trần. Hai thế giới cách biệt, đôi bên đã: “Người ta phúc phận đàng hoàng/Còn ai duyên mỏng bẽ bàng lẻ loi”, chỉ còn biết:

Chiều tà nhặt sợi nắng rơi

Kết thành hoa gửi tặng người ngày xưa.

Một câu thơ kết thật bất ngờ, và đáng trân trọng lắm lắm. “Nhặt sợi nắng, kết thành hoa tặng người ngày xưa” liệu có làm được việc đó không! Cầu mong nhà thơ Phạm Ngọc Khuê tiếp tục “nhặt sợi nắng” để kết thành những câu thơ, bài thơ để lại cho bạn đọc, cho đời nhiều hơn nữa.

 

Tháng 9 năm 2018

T.H

 

 

 









Lượt xem: 92 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
14

Lượt truy cập:
380.438