CÂY ĐÀO TIÊN. TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUY VÂN
Chủ nhật, ngày 27 tháng 1 năm 2019 - 8:7

Trước đó, Lù Mỉ vẫn viết thư đều đều, bẵng đi có đến hơn bốn năm, tôi mới nhận được thư. Mở ra đọc trong thư Lù Mỉ viết:

“Ông nội em già yếu lắm rồi, muốn được gặp thầy trước khi về núi. Tết này thầy lên chỗ em ăn tết, dù chỉ một lần. Cây Đào Tiên đã sống trở lại, đang rụng lá, đơm nụ hoa. Tết dân bản nô nức đến chỗ cây Đào Tiên làm lễ tế thần rừng, thần núi vui lắm. Thầy cố gắng lên, đến chỗ em đã hẹn, khắc có người đón”.

Đã nghỉ hưu, thời gian rảnh rỗi, tôi muốn trở lại bản Ngỗi của Lù Mỉ, gặp lại già bản Lù Páo, như đã từng hẹn ước.

Người đón tôi tự giới thiệu tên là Châm, ngồi sau xe máy tôi cầm lái, luôn hỏi chuyện. Cứ như để tôi tỉnh táo, vững tay lái, không đưa hai người xuống vực. Con đường đã trải bê tông, có nhiều khúc cua gấp, vòng vèo quanh sườn núi, một bên là vực sâu, một bên là vách núi cao, lơ mơ lao xuống vực thật.

- Rừng ở đây biến đi đâu hết rồi, ngày trước tôi qua đây âm u lắm kia mà? Tôi hỏi Châm.

- Bọn lâm tặc, người dân theo đóm ăn tàn phá hết. Ngày xưa là rừng đại ngàn, toàn gỗ lim. Hồi giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, trường học, các cơ quan sơ tán vào rừng, vừa kín đáo lại an toàn. Giờ trống trơn, ngay cả gốc lim cũng không còn. Mà này, Lù Mỉ dặn tôi xuống núi đón ông, lên Ngỗi có việc gì?

- Ông không thấy chỉ trên đó còn rừng sao, lên gặp già bản Lù Páo.

- Cũng là người yêu rừng đấy, làm sao quen già bản Lù Páo?

- Gặp một lần, cách đây cũng vài chục năm, khi cháu gái ông là Lù Mỉ, theo học trường Sư Phạm cấp một, lớp tôi chủ nhiệm. Cô bé bỏ học, tôi phải lặn ngòi, ngoi nước, băng rừng, lội suối mất mấy ngày, mới đến chỗ lão đón cô bé trở lại trường. Một chuyến đi nhớ đời, nhưng cũng đầy kỷ niệm với ông giáo miền xuôi như tôi. Gặp lần đầu, già bản quý tôi lắm. Ông là thế nào với Lù Mỉ?

- Cứ lên bản khắc biết, đã được nghe kể gì về già bản?

- Trên đường về trường, Lù Mỉ kể cho nghe chút ít.

- Ít là những gì?

- Tài săn bắn thú rừng, huấn luyện đàn chó săn, chỉ ra hiệu bằng tay, đàn chó hiểu ý chủ, tuân lệnh răm rắp, cuộc săn nào cũng thành công. Chó còn biết phân biệt người lạ, người quen, người tốt, kẻ xấu. Người tốt đến đàn chó quẫy đuôi mừng, kẻ xấu nó gầm gừ, nhe nanh, mắt long lên dễ sợ. Lão còn có biệt tài nuôi ong. Nhiều khu rừng trên cao nhờ những đàn ong của Lão đám lâm tặc không đứa nào dám mò đến đẵn gỗ trộm. Dân bản gọi lão là Thần Rừng.

- Còn chuyện, bọn lâm tặc mò lên Ngỗi lừa Lão để đẵn gỗ trên đó.

- Không biết.

- Có thể ngày ông lên Ngỗi chưa có chuyện đó xẩy ra.

- Kể cho nghe đi. Tôi giục Châm.

- Bọn lâm tặc lên Ngỗi mò đến khắp rừng, dự tính lượng gỗ, đường đi, lối lại để khai thác. Vào nhà già bản Lù Páo, đàn chó săn gầm lên dữ dội. Lão biết bọn người này cái bụng không tốt đẹp gì. Chúng biết, Lão được dân bản tin yêu, không được lão giúp đi lại trong bản còn khó nói gì đến khai thác gỗ. Năn nỉ với lão chắc không xong, phải lừa lão bằng lệnh nhà nước may ra mới được.

Họ xuống núi, hẹn Lão:

- Bọn tôi về, mang lệnh cấp trên lên. Lão và dân bản ngăn trở việc khai thác gỗ là chống lại lệnh nhà nước, bắt đi tù đừng trách.

Lão thản nhiên nói: Dám không! Bọn bay cứ lên, ai làm tốt cho dân bản tao giúp ngay, còn không đừng hòng, có thế nào đừng trách, trời cũng không cứu được bọn bay đâu.

- Bọn họ lên không?

- Chắc nghe kể về đàn chó và lũ ong rừng của Lão đã mất vía rồi, có thấy đứa nào ló mặt lên. Có được kể về cây Đào Tiên gần nhà Lão không?

- Lần ấy chỉ ở nhà già bản hai ngày, lại là thời tiết cuối thu, mưa dầm suốt, chưa kịp tìm hiểu gì. Mới đây trong thư Lù Mỉ có nhắc tới cây đào này.

- Trong khu đất của già bản có hòn đá mồ côi cao hơn hẳn những hòn đá khác. Trên đỉnh hòn đá xòe ra như bông hoa Sen mới nở. Đứng từ xa nhìn như một đài Sen bằng đá. Thi thoảng có những dải mây trắng, hồng vờn quanh, rồi tụ lại ở giữa. Ở giữa đài Sen mọc lên một cây Đào, có bốn nhánh đều nhau. Dân bản bảo bốn nhánh ấy tượng trưng cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người bản Ngỗi gọi là cây Đào Tiên. Còn xa nữa, xung quanh, là những bãi đá, đá chồng, đá gối nhau tầng tầng, lớp lớp, tìm được bãi đất phẳng thật quá khó. Dân bản ở ven con suối Mơ, nước chảy từ trên núi về, sống với nhau đã tự bao đời.

 

Minh họa của Mai Hùng

 

Đào Tiên chỉ ra hoa mỗi độ xuân về, không bao giờ đậu quả. Dân bản kể: Muốn biết dân bản làm ăn khó khăn hay thuận lợi trong năm cứ nhìn hoa nở trên cây Đào Tiên là biết. Khi hoa nở nhiều, cành nào cũng rực rỡ hoa, như có lửa là năm ấy làm ăn thuận lợi, dân bản sống hòa thuận, hạnh phúc. Còn năm nào hoa nở ít, nhìn cây hoa xác xơ, là năm ấy làm ăn khó khăn, sống phải chắt chiu, nhặt nhạnh, con người, con của phải cẩn trọng.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng một Tết, cả bản mỗi nhà chuẩn bị một cái lễ, có gì sắm nấy mang đến nhà già bản Lù Páo, làm lễ cúng thần rừng, thần núi dưới bóng cây Đào Tiên. Cầu mong cây Đào mãi mãi xanh tốt, dự báo điều lành dữ, cho dân bản để sống yên vui. Cúng bái xong, dân bản ăn cỗ đầu năm, cùng chung vui múa hát, thực sự là ngày hội, hội mừng xuân, mừng năm mới, mong mọi sự tốt lành.

- Có phải chăm sóc gì cây Đào ấy không? Tôi hỏi Châm.

- Nó là hòn đá thiêng, không ai dám trèo lên, nói gì đến chăm sóc. Già bản bảo, từ đời cụ kị đã thấy cây Đào ấy rồi. Nó có từ thuở khai thiên, lập địa ấy chứ. Biết là cây Đào quý, dự báo được điều lành dữ, nên tất cả những gì có trên hòn đá mồ côi, dân bản không ai dám động tới. Nó tự sinh, tự dưỡng thế từ đời này qua đời khác trở thành chốn tâm linh của cả bản.

Có một dạo rừng dưới thấp bị tàn phá, len cả đến vùng núi cao. Cả một vùng mênh mông trở nên khô cằn, hoang dại. Cây Đào Tiên không còn xanh tốt, héo khô dần. Con người hủy hoại chính nơi mình sinh sống. Ngay cả các loại sơn cầm, giã thú cũng biến đi hết. Người miền núi còn mơ được nghe tiếng Nai tác trong đêm trăng, thèm được nhìn thấy cánh chim bay ngang trời. Con thác, dòng suối đều cạn khô, chỉ đến mùa mưa mới có chút nước để chảy, không còn ào ạt như ngày xưa.

Môi trường sống tự nhiên, thuần khiết không còn, hơn thế còn bị ô nhiễm bao nhiêu khí độc khác. Đời sống của dân các bản, đến các loại cây cỏ vật vã, lụi tàn dần. Cây Đào Tiên sống nhờ khí trời, thiên nhiên, môi trường sống không còn cũng lụi dần. Mùa xuân đến chẳng thể đơm hoa, dự báo điều lành dữ cho dân bản. Cứ nhìn cây Đào Tiên thì biết, cuộc sống dân bản bi ai đến như thế nào rồi. Cây Đào Tiên không chết đã là sự nhiệm mầu.

Chỉ mấy năm gần đây, cây rừng được trồng lại. Dân các bản trong vùng khấm khá dần lên, đã nghe thấy ngân nga tiếng hát, tiếng đàn, sáo, tiếng trẻ thơ học bài. Mầu xanh trở lại với vùng núi này, cây Đào Tiên hồi sinh thật sự. Dân bản mừng lắm, nói với nhau:

- Đổi đời thật rồi! Sống rồi!

- Hàng năm đến mồng một Tết lại tế lễ chứ?

- Chứ sao! Người miền núi bản nào cũng có lệ  cúng thần rừng, thần núi để cầu mong bốn mùa mãi mãi xanh tươi, cuộc sống đủ đầy hạnh phúc mãi lên, một nét sống đẹp phải giữ chứ.

- Già bản Lù Páo còn khỏe không?

- Gần trăm tuổi, lẫn nhiều, lúc tỉnh, lúc mê. Vừa ăn đấy, hỏi: Cụ đã ăn gì chưa?

- Từ sáng đến giờ nó đã cho ăn miếng nào. Vui đáo để.

- Sao ông biết nhiều về già bản Lù Páo thế?

- Không đoán ra sao, tôi chính là chồng của Lù Mỉ.

- Trời đất! Sao không nói cho biết.

- Lù Mỉ không kể với ông về tôi sao?

- Chỉ nói đã lấy chồng, có hai con, một đứa đã vào đại học.

- Giờ vợ chồng tôi đã về ở với già bản, để chăm sóc cụ, cái chính là giữ cây Đào Tiên. Tiếng lành đồn xa, nhiều người từ khắp nơi đến thăm cây Đào Tiên. Nghe tiếng chó sủa khi có khách đến, già bản bảo: Nhiều người có cái bụng không tốt, có ý muốn chiếm lấy cây Đào Tiên. Cháu phải chú ý khi có người đến.

Hôm có một tay vào loại anh chị, lắm tiền, nhiều của, ăn chơi có hạng  trong vùng. Hắn đến gặp tôi, hỏi: Có bán cây Đào Tiên không? Bao nhiêu đây cũng mua. Một cây Đào lạ, quý hiếm, sao lại để ở nơi sơn cùng, thủy tận này. Phải phô ra chốn phồn hoa đô thị, mới thấy hết giá trị của nó, còn thu được nhiều tiền đấy.

- Ông mang đi được sao? Tôi hỏi hắn.

- Bây giờ thiếu gì phương tiện, có bê cả khối đá ấy đi vẫn xong.

- Ông biết dưới chân khối đá ấy, ông cụ cách đây bốn đời, nổi tiếng hay chữ trong vùng, đến thăm cây Đào Tiên. Được nghe kể về cây Đào, đã đề tặng bốn chữ, khắc vào ngay dưới chân hòn đá, bây giờ vẫn đọc được. Ông biết là bốn chữ gì không? Nhiều người như ông, đến hỏi mua, khi đọc bốn chữ ấy, lặng lặng đứng vái rồi ra về. Cả không dám ngoái đầu lại ấy.

- Tầm bậy, bốn chữ ấy là gì, ông đọc lên, đây không tin vào quỷ thần.

- Chắc không! Bốn chữ ấy là: “Phúc, Họa, Vô, Thường”, ông biết nghĩa là gì không?

- Ông nói cho nghe đi.

- Người như ông sao không hiểu. Cây Đào Tiên có từ thuở hồng hoang, trời đất ban cho sống ở chốn này, để tạo phúc cho dân bản, chúng sinh. Biết trân trọng, tôn thờ, biết sống lương thiện, tránh xa điều ác thì được phúc. Người nào có tâm địa tàn bạo, làm nhiều điều ác, muốn chiếm nó thành của riêng sẽ bị họa đến mười đời, không thể ngóc đầu lên được.

Tất cả những lời ông vừa nói với tôi, đã mang họa rồi đấy, liệu mà giữ lấy thân. Nghe tôi nói mặt hắn tái dại hẳn đi, lùi lũi đi, mặt cắm gằm xuống đất.

Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, xem thường cả thần linh, sống yên ổn sao được!

***

Lần ấy, tôi ở nhà già bản Lù Páo ba ngày. Những ngày giáp Tết, vừa qua cơn rét đậm, rét hại, thời tiết ấm dần lên. Dân bản đang tấp nập dọn nương, chuẩn bị ra Tết buông hạt. Đêm đến, âm vang tiếng khèn, sáo, lời hát chuẩn bị mâm cỗ cho lễ tế thần rừng, thần núi ở chỗ cây Đào Tiên.

Già bản Lù Páo đưa tôi ra thăm cây Đào Tiên, kể nhiều chuyện li kì về cây đào này: Lão đã gần trăm tuổi mà không thấy cây đào có thay đổi gì, từ thuở xưa thế nào nay vẫn vậy. Bốn nhánh đều nhau tỏa ra bốn hướng, như để thụ hưởng đầy đủ khí trời của bốn hướng, mười phương. Không ai biết gốc của nó to đến đâu, rễ buông vào trong lòng đá, bền chặt. Khi nở hoa mầu đỏ rực, rồi nhạt dần, đến rằm tháng Giêng trở thành mầu trắng tinh khiết. Qua đêm Nguyên Tiêu, trên cây không còn bông hoa nào nữa. Kì lạ không thấy bất kì cánh hoa nào rơi xuống đất, cứ như có phép mầu vậy. Hoa đã bay về trời, nếu còn ở với đất, thể nào chả tìm thấy cánh hoa còn vương vào bãi đá.

Cứ nhìn vào cây Đào Tiên vào ngày lễ tế thần rừng, thần núi là biết vận hạn, đìều lành dữ của dân bản trong năm.

Giờ cây đào đã rụng hết lá, cành tua tủa ra bốn hướng, nụ hoa nhiều lắm, chen nhau. Tôi mường tượng khi tất cả những nụ hoa kia đều bùng nở trên đỉnh trụ đá xòe ra như đóa hoa Sen, rực rỡ mầu đỏ tươi, giữa nền xanh của rừng, của trời đất, vào ngày đầu năm mới quả là một vẻ đẹp kì vĩ, nhiệm mầu, không nơi nào có.

Vợ chồng Lù Mỉ muốn giữ tôi ở lại, già bản bảo: Để nó về, tao biết cái bụng của nó muốn ở lại lắm đấy nhưng còn vợ con, ông bà, bố mẹ vắng mặt sao được vào ngày Tết.

Khi chia tay già bản nói với tôi:

- Mày là người tốt, ngày ấy về tận đây đón cháu Lù Mỉ trở lại trường học để được làm cô giáo. Hẹn có ngày gặp lại, gặp lại thật, tao già rồi, không dám hẹn gì. Tao đi rồi, cây Đào Tiên vẫn còn đó. Cái gì trời đất ban cho, ông bà mình đã gìn giữ đất đai, cây cỏ, rừng núi, sông suối, biển khơi phải giữ lấy, đừng làm bậy, phúc họa đan nhau không biết đâu mà lường.

Lên xe, ra về trong lòng tôi vẳng lên lời dặn của già bản Lù Páo.

 

Những ngày cuối năm 2018

T.H.V

 

 









Lượt xem: 32 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
11

Lượt truy cập:
376.248