KÍ ỨC THÂN QUEN, GÁNH NẶNG CUỘC ĐỜI TRONG THƠ NGUYỄN HỮU DỰC. TRẦN HUY VÂN
Thứ 2, ngày 7 tháng 1 năm 2019 - 16:14

Nguyễn Hữu Dực làm thơ từ năm 1975, mãi đến năm 2009 in tập thơ đầu tay mang tựa đề “Về miền lau trắng”. Vậy là 34 năm làm thơ mới ra tập thơ khiêm nhường, bốn chục bài thơ, dầy 80 trang. Mất ba năm sau, năm 2012 ra tập thơ thứ hai “Sông Lô gọi về” gồm 57 bài thơ, dầy 103 trang. Lại mất sáu năm sau 2018 ra tập thơ thứ ba “Bổng trầm lời ru” gồm 75 bài thơ, dầy 147 trang.

Số bài thơ, tập thơ, trang thơ tăng dần không nói được gì nhiều. Chỉ biết những năm tháng gần đây nhà thơ Nguyễn Hữu Dực dành nhiều thời gian để làm thơ về những “Kí ức thân quen” đã ghi sâu tận đáy lòng, để trả “Gánh nợ cuộc đời” dẫu biết mình khó có thể trả hết. Bằng những  bài thơ giầu cảm xúc và rất dung dị.

Khi đọc “Về miền lau trắng” tôi nhận ra ngay chất nghệ sĩ trong thơ anh. Một hồn thơ được chắt lọc kỹ càng, tình cảm thơ lắng đọng, được mài rũa cẩn trọng trong từng cây chữ. Trở về bến sông tuổi thơ, soi mình xuống mặt nước nhận ra:

Thấy mình ngày thơ trẻ

Hòn sỏi lăn từ nguồn ra bể

Qua bao truân chuyên đủ tròn trịa dáng hình.

Hòn sỏi của dòng sông, hòn sỏi cũng chính là nhà thơ, nếm trải đủ đầy mọi truân chuyên cuộc đời để được “Tròn trịa dáng hình” gửi gắm những rung động tận sâu thẳm đáy lòng vào trong thơ.

Thơ rất cần cảm xúc, thời gian và sự từng trải, những kỷ niệm vui, buồn cả nỗi đau đến cháy lòng hằn sâu trong kí ức, để dồn nén, chắt lọc vào câu thơ, ý thơ, hình tượng thơ. Chỉ như vậy thơ mới thật sự hàm xúc, mới tự cõi lòng rất riêng của nhà thơ lan tỏa đến mọi cõi lòng người đọc thơ.

Úp mặt xuống dòng sông

Ta gặp thời thơ trẻ

Úp mặt vào lòng mẹ

Gặp những lời hát ru.

Dòng sông và lòng mẹ là biểu tượng đẹp và đầy đủ nhất về hình bóng quê hương trong mỗi con người, để rồi ở bất kỳ đâu, đi bất cứ nơi đâu, không thể nguôi quên, tiếp sức ta trên con đường đi tới:

Dòng sông và người mẹ

Từ đấy bao kiếp người.

Ngàn thu còn tìm lại

Thỏa nỗi lòng đầy vơi.

Nhà thơ Pskin đã từng nói “Làm thơ thì dễ, làm thơ hay thì khó vô cùng”. Thơ để chạm tới nỗi lòng người đọc, rung lên những cung bậc tình cảm cùng nhà thơ thật không dễ chút nào. Khi được hỏi về thơ nhà thơ Nguyễn Hữu Dực tâm sự: “Ngoài sự đam mê tôi làm thơ như một sự trăn trở trong tâm hồn mình vậy. Mỗi chúng ta lớn lên từ tình yêu thương của người mẹ, của quê hương. Gánh nặng cuộc đời ấy làm sao có thể trả nghĩa hết được. Tiếng thơ để cuộc đời luôn nhớ về những kí ức thân quen ấy. Đồng thời nó cũng như một người bạn, một sân chơi trí tuệ, cho cuộc sống thêm ý nghĩa hơn…”.

Rời ghế nhà trường cấp ba năm 1972, cùng bao trang lứa lên đường nhập ngũ. Vào trường lái xe 255, ra trường đúng vào ngày, tháng máy bay B52 của Mỹ bắn phá, ném bom vào Thủ đô Hà Nội. Bao lần cận kề với cái chết, để rồi cất cao lời ca: “Xe tôi băng qua muôn núi ngàn sông/khắp nơi nhân dân đêm ngày ngóng trông,/lửa nhiệt tình cháy trong tim ta… Vượt núi, vượt ngàn khó nguy… Pháo sáng giặc Mỹ đâu sờn lòng ta/Lòng người lái xe vẫn trung kiên… Tôi người lái xe”. Đầy tự hào kiêu hãnh.

Rồi từ đấy trên các nẻo đường của chiến trận, sinh tử, cam go, ác liệt dìu dặt những nhớ thương ùa về, hằn sâu trong kỷ niệm, dệt thành những câu thơ. Chỉ những người vào sinh ra tử thời dữ dội ấy mới cảm nhận hết và viết ra:

Ơi đất mẹ mến thương

Nuôi ta lớn từ những ngày thơ bé

Hãy nhận lấy tâm hồn người lính trẻ

Đêm thâu này thức với quê hương.

      (Viết trong thời gian nhập ngũ)

Người lái xe lấy đêm làm ngày, ngày làm đêm, vượt qua những cung đường chiến trận. Từng bài thơ chất chứa kỷ niệm theo từng vòng bánh xe lăn: “Ta ra đi nhớ mãi/Những nẻo đường Trường Sơn/Trạm giao liên nho nhỏ/Thành bài ca lên đường”.

Những đoạn ngầm đá khô

Những đoạn ngầm đầy nước

Tay lái giằng méo mặt lúc vượt lên…

Ở nơi đó tôi gặp người con gái

Trong mưa bom máy bay Mỹ rải

Đứng chỉ huy cho đoàn xe qua.

Người con gái mảnh mai của bao miền quê, thành bức tượng đài bằng chính da thịt mình, đứng giữa mù trời bom đạn, giữa sống chết dẫn đường cho “Những đoàn quân rầm rập ra tiền tuyến”.

Đoạn ngầm kia và người con gái

Đã trở thành nỗi nhớ trong tôi.

Đọc những bài thơ viết trong thời gian nhập ngũ của Nguyễn Hữu Dực, tôi mới thật sự hiểu câu thơ của Tố Hữu:

Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ

Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Đi đánh kẻ thù, dư thừa bom đạn, tội ác, dư thừa vũ khí tối tân, có cả một bầy quân đội đánh thuê, mà:

Anh giải phóng quân ơi!

Kính chào anh con người đẹp nhất

Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất

Sống hiên ngang bất khuất trên đời

Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi

Một dây ná một cây chông vẫn tiến công giặc Mỹ.

Vũ khí của anh giải phóng quân mang trong mình, chính là lòng yêu nước của một dân tộc “Bốn ngàn năm dồn lại hôm nay”. Đem sức mạnh vô cùng, vô tận ấy đánh lại bom đạn của giặc Mỹ dẫu nhiều đến  bao nhiêu vẫn là thứ hữu hạn, với một niềm tin tất thắng.

Đọc bài thơ “Nhớ mùa khô Trường Sơn” thiếu thốn đủ bề, dư thừa gian khổ, nhưng hình ảnh anh giải phóng quân, thật đẹp, thật hào sảng, đậm chất lãng mạn, bay bổng niềm tin, náo nức như ngày hội:

Nước chỉ còn róc rách dưới lòng khe

Những con bướm vàng khát tìm nơi nhẩy múa…

Mùa khô rồi! Lính xe khắp nẻo bung ra

Chạy ngày lấn đêm bếp quay đầu đã đợi…

Những đêm trăng nghe gió hát thầm thì

Pháo sáng ngăn đường, đạn bom đánh chặn

Súng báo thông đường em dẫn anh qua

Những mùa khô… nỗi nhớ trong ta.

Trong chiến trận mất mát là điều không thể tránh, nhà thơ đã chứng kiến bao lần ra đi của đồng đội vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ là nỗi nhớ, niềm thương đến nhức buốt nữa mà đã trở thành trách nhiệm, nghĩa vụ là “Gánh nặng cuộc đời” nhà thơ mang theo, để rồi thổn thức trong những câu thơ giầu cảm xúc:

Đồng đội ơi!

Tôi gọi các anh

Chiều im lặng tưởng chừng không sợi gió

Tôi miên man trước từng vuông cỏ

Thầm gọi tên trò chuyện với từng người.

Có bao nhiêu người con không thể về với mẹ sau ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975! Bao nhiêu người con hài cốt đã được quy tập vào trong nghĩa trang! Bao nhiêu người con còn nằm lại đây đó trên đất mẹ Việt Nam! Câu đầu tiên trong bài thơ “Gặp mẹ ngày 30/4”,  Nguyễn Hữu Dực chỉ viết một chữ “Mẹ!”. Một tiếng gọi Mẹ trong niềm khát khao của cả một dân tộc: “Khao khát trăm năm mãi đợi chờ/Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ”.

Mẹ!

Ngày Ba mươi tháng Tư

Những giọt nước mắt còn sót lại

Thấm vào vai con

Như giọt sữa cuối cùng.

Vậy là đã có bao nhiêu bà mẹ đã vắt kiệt nước mắt trong những lần tiễn con ra trận! Liệu có thể tính hết. Để ngày toàn thắng chỉ còn “Giọt nước mắt còn sót lại đón con. “Giọt sữa đầu tiên” mẹ chắt lọc từ máu của mình nuôi con lớn khôn, để thành người cầm súng ra trận. “Giọt nước mắt cuối cùng” mẹ chắt lọc từ những năm tháng nhớ nhung, đợi chờ, từ chính cuộc sống để đón con, có thể về hoặc không bao giờ.

Giọt sữa đầu tiên

Giọt nước mắt cuối cùng

Con thấy mình trong lòng mẹ còn nhỏ bé

Khi chặng đường còn dài…

Con có mẹ! Mẹ ơi!

Nguyễn Hữu Dực có nhiều câu thơ viết về mẹ, đều chan chứa tình cảm, mến thương, kính trọng, chân thành, xúc động. Bài thơ “Gặp mẹ ngày 30/4” là một bài thơ như vậy.

Năm 1988, sau 16 năm 8 tháng sống trong quân ngũ, Nguyễn Hữu Dực buông vô lăng trở về đời thường, để làm cái việc “… Trăn trở trong tâm hồn mình, đáp đền tình yêu thương của mẹ, về những kí ức thân quen, xem nó là gánh nặng cuộc đời, bằng thơ”.

Ba tập thơ đã xuất bản, đủ biết sức sáng tạo, sự nỗ lực của nhà thơ đến mức nào trong việc trả nghĩa với cuộc đời bằng thơ.

Nét rất riêng trong thơ Nguyễn Hữu Dực, tiếng thơ không ồn ào, dễ dãi, ngôn ngữ thơ được chắt lọc kỹ, có sức gợi cảm. Trong bài thơ “Lời Then” ngay câu đầu nhà thơ viết: “Em đừng rót mật vào môi”, người đọc đã cảm nhận thấy, lời Then phải ngọt ngào lắm, duyên tình lắm, người hát cũng phải tài năng lắm, để “Lời Then ai buộc” trở thành sợi dây vô hình níu kéo người nghe, để rồi ao ước:

Ước sông Gâm rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho nàng sang chơi

Tình tang say đến mê người

Tôi về vương vấn những lời hát Then.

Trong bài thơ “Tìm về một khúc ca dao” nhà thơ có nhận xét rất tinh, rất đắt: “Lời quê như dải lụa mềm/Áo nâu, chân đất mà nên hỡi người”. Có phải vậy không, muốn tìm về nơi có tình người chân thực, lời nói nhã nhặn, thực lòng với nhau chỉ về các vùng quê, có cây đa, bến nước, sân đình. Một vùng thôn quê đích thực.

Tìm về một khoảng bình yên

Nghe trong đồng vọng gọi niềm tâm tư

Thị thành biết mấy gió mưa

Cơm quê thơm thảo buổi trưa gió đồng.

À ơi… Tiếng của quê hương

Ngàn đời ngân khúc tơ lòng trong ta.

Tôi biết Nguyễn Hữu Dực đã có nhà tầng ở thành Tuyên, đi đâu đã có đầy đủ phương tiện. Dẫu vậy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với quê hương bên dòng Lô, Phong Châu, Phú Thọ. Vùng quê “Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt” cứ đọc thơ anh thì biết.

Cái chất chân quê vẫn đậm đặc trong thơ anh, chân thành, giầu sáng tạo, dạt dào cảm xúc, có nét riêng không lẫn với ai, tạo được mối đồng cảm với người đọc.

Cầu mong nhà thơ tiếp tục trả nợ “gánh nợ đời” còn trĩu nặng trên vai, để còn tiếp tục được đọc thơ anh.

Tháng 10 năm 2018

T.H.V

 

Tin mới nhất









Lượt xem: 38 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
35

Lượt truy cập:
376.912