CHUYỆN TÌNH KHUỔI MU. TRUYỆN NGẮN CỦA HỒNG GIANG
Thứ 4, ngày 28 tháng 11 năm 2018 - 8:5

Chúng tôi ngồi quây quần trên chiếc chiếu trải giữa sàn nhà Thành Xăm, nhắm rượu với cá nướng. Trông ra cửa sổ là cái ao sâu, trắm, chép đua nhau vùng vẫy, đớp mồi. Rặng hồng ngâm trồng quanh ao, quả sai trĩu cành. Xa chút nữa, ngoài kia là đám ruộng đang lên sữa như bức thảm dày gợn lên từng đợt sóng mỗi khi gió thổi.

Rượu vào thì lời ra. Tháng bảy mưa ngâu. Năm nay không như mọi năm. Mưa hình như ít hơn vì tháng sáu mưa đã nhiều, thời tiết như có chút lệch lạc. Vì thế mà câu chuyện khó đồng nhất ý kiến.

Ngày tháng cũ, mỗi người hiểu riêng từng quãng đời một phách. Người gọi tháng này là “tháng cô hồn”, kẻ bảo: “Tháng xá tội vong nhân, nên ngày nay hay có lệnh đặc xá”, người lại bảo: “Anh em nhầm cả, để tôi kể cho mà nghe tích “Mục Kiền Liên cứu mẹ”. Thôi thì mỗi người một vẻ, không ai nhường ai.

Thấy vậy Nồng, anh vợ Thành Xăm lên tiếng:

- Ý mọi người đúng cả, không ai sai. Gọi thế nào là cách của mỗi người. Nhưng theo tôi thì văn kỳ thanh, kiến kỳ hình... sao toàn nói chuyện tận đẩu đâu. Sao không nói chuyện của làng mình, anh em mình? Anh em lâu ngày gặp nhau, chả lẽ không có chuyện để nói?

Tất cả thấy đúng quá, lắng đi một hồi.

Nồng vừa đưa vợ con từ Đắc Nông ra. Đời người “Qua cơn bĩ cực, tới tuần thái lai”, giờ thì gia cảnh của anh đã khác. Từ ngày đi Nam, anh bỏ cờ bạc, chăm chỉ làm ăn. Đất chuộng người mới, Nồng làm ăn mỗi ngày mỗi khá. Mua được con bốn chỗ bạc tỷ, đưa vợ con về thăm quê, không cần nói, mọi người cũng ngầm hiểu, giờ này cuộc đời anh đã khác, không bệ rạc, khốn khó, thiếu trước, hụt sau như hồi còn ở quê nhà.

Chuyện đời cái gì đáng quên là phải quên, đáng nhớ thì nhớ. Nhưng bắt đầu câu chuyện từ chỗ nào thì chưa ai nghĩ ra.

Lại là Nồng cất tiếng:

- Chú Thành có nhớ hôm tôi cõng chú từ tảng đá về không?

Thành Xăm ớ người, một lúc mới gật gù:

- Làm sao em quên được, nếu không có hôm đó em làm sao được làm em của các bác, có được đàn cháu như bây giờ?

Nghe chồng nói thế, Lựu đang ngồi bên bếp đun lại nồi canh cho nóng, thấy như lửa chàm bên má.

Ngày tháng cũ trở về, hiển hiện như vừa xảy ra, rất gần...

 

Minh họa: Tân Hà

 

Thủa ấy nước Khuổi Mu trong và đầy. Hai bên bờ suối rậm rạp, chằng chịt dây leo. Những chùm dâu da lúc lỉu đỏ mọng, vấn vít ong rừng. Tiếng chim hót ríu ran từ lúc hừng đông cho tới lúc hoàng hôn tắt dần sau đỉnh Mười.

Dọc đôi bờ duối, bồ công anh mọc dày từng đám, Lựu thường ra đây lấy về làm canh sau khi đã câu được mớ tôm kha khá. Câu tôm ở suối Mu này cũng thật đơn giản. Cô bẻ một cành trúc gần bờ, sau đấy buộc vào sợi chỉ là đã có cái cần câu ưng ý. Đầu sợi chỉ buộc con cào cào hay con châu chấu, thả xuống chỗ hủm sâu đến ngang ngực. Nước trong vắt, nhìn thấu tận đáy. Thấy cả những hòn sỏi trắng tinh bên những viên sỏi màu hồng, màu ngọc bích... Chỉ lát sau, không phải đợi lâu, cô đã nhìn thấy các chú tôm từ trong hốc đá bò ra. Có lúc hai ba con tranh nhau đớp mồi. Cô nhè nhẹ nâng cần câu lên, có khi được cả hai con một lúc. Cũng có khi câu được chú bống Tân Sơn, to bằng ngón tay cái, có sọc vằn như sọc áo phạm của trại Tân Sơn. Đấy là nghe người ta bảo thế, chứ cô đâu biết trại Tân Sơn là trại nào, áo phạm mặc ra sao đâu?

Cô là con gái út ông Sáu So, nhà ở bên lản nước từ Khuổi Mu đổ ra. Không rõ biến động địa chất đứt gãy từ bao giờ, đến chỗ gần nhà cô, dòng nước bị hẫng, làm thành con thác cao chừng hơn chục mét. Suốt ngày nước đổ ầm ào, tung bọt trắng xóa. Nước đổ xuống ngày đêm, làm cái cọn làm bằng gỗ quay không ngừng, chảy vào máng nước, dẫn về cánh đồng trước cửa nhà cô.

Ngôi nhà sàn của nhà cô nhìn từ xa đã thấy nó như phụ họa thêm cho bức tranh thủy mặc mà họa sĩ thiên nhiên tô vẽ nên một cách tài tình. Khung cảnh vừa vắng lặng, vừa lung linh, lại giản dị như tuổi thiếu nữ trong trắng, ngập ngừng của cô gái sinh ra ở đất Khuổi Mu này.

Ông Sáu So có bốn người con. Một gái đầu lòng, hai trai ở giữa và gái út là cô. Người chị gái đậm người, đằm tính. Chồng chị là anh Tuất người bản Bắc Cụp, cán bộ xã, hơn chị năm tuổi. Tính chị bạo dạn, mạnh mẽ như đàn ông. Tuy cùng bố mẹ sinh ra nhưng tính nết Lựu khác với chị mình. Cô ít nói và hay cả thẹn. Nhất là khi gặp người lạ cô hay đỏ bừng cả mặt, chân tay cứ lúng túng như không phải của mình.

Hai người anh đã có vợ con. Anh Thấc, bên trên cô thì lầm lì ít nói. Suốt ngày hì hục khoan nòng súng kíp, làm bẫy thú rừng. Phải công nhận anh ấy khéo tay và có tính kiên trì. Khoan nòng súng bằng tay, chẳng có máy móc gì, hàng chục ngày mồ hôi vã ra như tắm mà nòng súng không lệch một ly. Người không đủ kiên nhẫn và thiếu hoa tay không thể nào làm được như anh ấy. Mãi về sau này, có lệnh cấm súng kíp, anh mới chịu bỏ cái tài lẻ này của mình.

Anh trai trên anh Thấc tên là Nồng thì tính tình ngược lại. Anh Nồng chả chịu ngồi yên bao giờ. Tính nhanh nhẹn, phải cái ẩu đoảng, thích gì làm ngay, ít chịu đắn đo, bố mẹ không ưa, thường hay bị pá mế chửi nhiều nhất trong bốn anh chị em của nhà này. Nếu nhà việc xong, là nhảy phắt lên lưng ngựa, giao du bạn hữu tứ phương. Có kỳ anh đi vài ngày, không về nhà, khiến chị dâu tốn không ít nước mắt.

Người già bảo “Có tài hay có tật” quả không sai. Nếu anh chỉ chơi bời bạn bầu không thôi chả nói làm gì. Bố nói: “Bạn bầu là hậu vận, nhưng phải chọn bạn mà chơi”. Anh không cãi, nhưng vẫn giấu bố mẹ đi đánh bạc. Nhà có thứ gì sơ hở là mang đi, bán rẻ bán đắt, chơi cho nhẵn túi mới về. Thời ấy đường đi lối lại khó khăn, chưa có đường nhựa, đường bê tông như bây giờ nên xã hội còn lỏng lẻo, trật tự an ninh chưa như bây giờ, cờ bạc như một mặc nhiên xảy ra. Giống như chỗ đất hoang cỏ mọc...

Rồi anh ấy đi tù. Chồng Lựu sau này là bạn của

anh từ cảnh ngộ ấy. Như một vô tình, ngẫu nhiên tạo hóa sắp đặt, chẳng có cơ duyên nào là ngẫu nhiên như người ta hằng nghĩ vậy.

*

Những đêm trăng sáng, lợn rừng hay ra đủng nước dưới chân thác uống nước. Có khi chúng kéo nhau cả bầy lội ào ào xuống đủng, vùng vẫy chán, đến tảng sáng mới kéo nhau vào rừng.

Thợ săn thường hay phục ở quãng này. Chỗ đó cách nhà Thành Xăm cả chục cây số, anh phải qua một con đèo mới tới được đây mỗi khi theo cánh thợ săn tìm con mồi.

Vừa mới ra trại về, Thành theo một gã thợ săn người cùng bản. Tính ham săn bắn đã đành, Thành còn nỗi niềm riêng, đi săn tìm sự khuây khỏa.

Mấy lần người ta mối manh, nhưng Thành đều thất bại. Thành kiến như tảng đá to chắn ngang đường, khiến cho chuyện tình duyên của Thành trắc trở. Chẳng ai dám gá nghĩa “tào khang” với một kẻ mới đi tù về. Có đám ban đầu le lói hy vọng, rồi cũng lịm tắt. Người ta nói anh là kẻ có gan giết người, về sau tất gặp chuyện không hay. Người ta sợ quả báo, ai dám sống đời với một kẻ như vậy?

Thực ra việc anh làm khi ấy chỉ do cay cú, chỉ định dọa, dằn mặt kẻ cờ gian bạc bịp. Hắn ta đã nhiều lần dùng quân máy, cuốn chiếu, bịp dân chơi cả làng, ai chịu được?

Số tiền thua không nhiều, nhưng lòng tự ái của anh trai mới lớn còn nông nổi, khiến Thành nảy ra một ý. Anh nhồi thuốc vào khẩu súng kíp mà không bỏ đạn. Nhằm tên bạc bịp trên đường hắn về bóp cò, cốt dạy cho hắn bài học để mà bỏ thói lừa đảo trên chiếu bạc. Nòng súng tóe lửa, nhưng không có viên đạn nào bắn ra. Nếu hôm đó anh có ý bắn hắn thật, nhồi đạn như mọi bận đi săn khác thì hắn đâu còn sống trên đời?

Thành bị bắt xuống huyện, giam ba tháng rồi ra tòa. Người ta luận cho anh tội “chủ ý giết người không thành”, án phạt tù ba năm. Thành trình bày là mình chỉ định bắn dọa, nhưng không được chấp nhận. Phải có bằng chứng trưng ra mới có thể chứng minh. Nhưng làm cách nào? Thành không thể. Phát súng đã nổ, làm cách nào để chứng minh có đạn hay không có đạn?

Được giận mất khôn, không cái dại nào bằng cái dại nóng nảy, làm bừa, không suy trước nghĩ sau.

Những năm cải tạo Thành luôn day dứt điều này.

Thành quen Nồng từ dạo ấy, hai người ở khác xã, nhưng cùng huyện, kết làm anh em. Những ngày mưa, phạm nhân nghỉ việc cũng là những ngày buồn não nuột. Những hình xăm có trên cánh tay Thành cũng có từ một ngày mưa như vậy và chính Nồng xăm cho anh. Thành cũng có thêm cái tên kép là “Thành Xăm” do các hình xăm thô vụng trên cánh tay. Khi về tự do, Thành đã tìm cách xóa nó, giờ chỗ xăm ngày nào chỉ còn vết sẹo sần sùi, nhưng cái tên vẫn dính chặt với anh, không bỏ được.

Thêm lần nữa, Thành đi săn như một cách giải tỏa tâm trạng nặng nề khi tình duyên trắc trở. Anh đã mắc phải một sai lầm mà một thợ săn theo con mồi ít khi mắc phải là phải dò đường.

Chiếc cặm kiềng của Thấc gài bên bờ suối vô tình dính phải Thành Xăm.

Lúc Nồng đi qua đấy là lúc Thành Xăm đang vật vã không làm cách nào gỡ được cái cặm kiềng quái ác. Phải nhờ người khác có cái xà beng mới có thể gỡ cạm ra được. Đang ở đây thì lấy đâu ra?

Không kịp nghĩ nhiều, Nồng cõng người anh em kết nghĩa về nhà. Anh thừa biết chiếc cạm là của ai. Và cho dù là của ai đi nữa, cũng không thể bỏ mặc bạn bè trong lúc hiểm nguy. Để chậm, vết thương lâu lành, có khi phải cắt bỏ bàn chân. Nồng chột dạ, vừa cõng bạn vượt đồi, leo dốc vừa nghĩ như thế.

*

Trong âm có dương, trong họa có phúc, đó là quy luật muôn đời của tạo hóa.

Dính cạm, Thành mới có dịp làm quen và biết Lựu như một cơ duyên mầu nhiệm. Sau này Thành Xăm rất thấm thía điều này.

Ông Sáu So giữ anh lại như là cách bồi đắp, bù lại cho Thành vì sai sót của con mình, dù Thấc không cố ý tạo ra. Không ai nói, nhưng cả nhà ông đều biết cái cạm ấy của Thấc, con trai ông.

May mà ông có bài thuốc dưỡng thương, biết được từ hồi còn trẻ. Đấy là bài thuốc đòn hồi ông đi học võ bên Tàu. Võ thuật lâu ngày không dùng đến mai một dần. Văn không ôn, võ không luyện làm sao mà thành thạo mãi? Một vài bài quyền giờ ông đã quên.

Nhưng bài thuốc ngày càng hiệu nghiệm. Chữa vết thương mau khỏi đã đành rồi, còn biến hóa chữa trị xương khớp, có tiếng trong vùng. Vết cạm cắn ngang bàn chân Thành nếu đi viện có khi cả tháng mới khỏi. Nhưng ở nhà ông chỉ một tuần anh đã đi lại được, mười ngày sau đã khỏi hẳn. Ngoài dấu vết lên vảy đã khô, không chảy nước vàng chả còn dấu tích nào. Như thể chưa xảy ra vụ dính cạm, bàn chân gần như rời ra, nhìn thấy cả xương bàn chân, đẫm máu hôm nào.

Cô Lựu ngày hai lần đun nước lá rửa vết thương cho Thành. Cô vào rừng tìm lá thuốc cho anh. Bài thuốc Thành học mót được sau này anh chữa cho nhiều người. Đó là thứ cây thân dây leo, có gai ở từng đốt, lá dày và giòn. Khi dứt chiếc lá đứt làm đôi, hai nửa không chịu rời ra, kéo lớp tơ dính mỏng manh y hệt tơ nhện. Ngày trước thứ cây này mọc khá nhiều, dễ tìm ven chân núi đá không khó như sau này người ta dùng thuốc diệt cỏ, nó dần biến mất.

Đó cũng là thời gian cô Lựu, con ông Sáu So vừa trải qua một cuộc tình buồn. Anh bạn trai, mối tình đầu của cô vừa mới mất. Cái chết của anh gây sửng sốt cho nhiều người vì nó thậm vô lý. Một người giỏi leo trèo mà lại chết vì trèo cây kể ra không đáng. Sau này người ta đổ tại cây bồ quân ấy có ma, chả ai biết anh bị chuột rút, ngã xuống. Đầu anh đập vào hòn đá chỉ nhỉnh hơn viên gạch. Thật là vô lý. Nhưng nó đã xảy ra như bao điều vô lý đã từng xảy ra!. Giá như hôm ấy cô không tỏ ý muốn có một chùm bồ quân thì đã không xảy ra chuyện... Cô ân hận, áy náy đến độ chả còn thiết gì sống chết, buồn vui trên đời. Người cô gầy rạc đi, hai hố mắt lõm sâu, thâm quầng như phủ đầy bóng tối... Lúc đó cô nghĩ mình có lỗi với anh. Cô định sẽ ở vậy suốt đời, không yêu ai nữa.

Vốn đã ít nói, cô càng trở nên lầm lì. Có lúc gọi cô cũng không như nghe thấy. Đang tâm trạng ấy thì Thành Xăm xuất hiện. Lúc đầu cô tỏ ra không có biểu hiện gì. Pá dặn thế nào cô làm như thế. Có lúc lơ đãng, chút nữa thì cô làm anh bỏng nước vừa mới đun sôi.

Tạo hóa như có phép lạ thần kỳ. Nó thường hay cùng với thời gian làm bạn đồng hành, có phép thiện lương của trời đất, chữa lành các vết thương trên thân thể và tâm hồn con người. Cả hai cũng không ngoại lệ.

Khi vết thương ở bàn chân Thành Xăm lên da non cũng là lúc hai người bén chuyện. Họ dần dà đã có cảm tình với nhau. Có hôm tới khuya vẫn thấy sáng đèn trong cái buồng nhỏ dành riêng cho Thành. Bà Sáu So phải nhắc, cô Lựu mới về buồng của mình. Đến lúc này, cả pá mế cô cảm thấy có chuyện không ổn.

Lúc đầu thương con gái rầu rĩ, ủ dột, đăm chiêu như người mất hồn pá mế muốn con mình tươi tỉnh lại như ngày nào. Một cô Lựu tươi tắn như bông hoa rừng, đôi má bồ quân hồng hồng không cần son phấn. Đôi mắt lóng lánh như hạt sương buổi sớm mai đọng bên bờ suối. Ông bà muốn cô vui để quên đi chuyện đã qua.

Khi thấy hai người trở nên vấn vít khác thường, ông bà chột dạ. Giá như không phải Thành Xăm cái đầu tóc chưa kịp mọc dài, trông như quả gáo trên rừng, mà là một anh chàng khác... Giá như anh ta không vướng víu gì đến cái án cờ bạc, lại là “cố ý giết người” thì hay biết bao! Một anh chàng cao lớn, khỏe mạnh. Tuy không đẹp trai như người tình cũ của cô, nhưng không đến nỗi nào. Nói chung đấy là một anh trai khỏe mạnh, tháo vát, đậm chất đàn ông, lại có tài vặt. Đánh đàn Tính và thổi kèn lá thì thôi rồi... Đám con trai bản này không anh nào bằng.

Nhân vô thập toàn, ông bà biết thế. Khiếm khuyết nào cũng có thể bỏ qua, nhưng có cái cần phải xem xét lại. 

Ông Sáu ân hận là đã để anh ta ở lại nhà mình quá lâu. Giá hôm ấy cho người đưa anh ta về ngay dưới nhà, đã không nên chuyện. Chỉ cần vài ngày một lần, ông cưỡi ngựa xuống nhà cho anh ta nắm lá thuốc, vết thương cũng khỏi như chăm anh ta ở nhà mình.

Nghe pá mế nói, cô Lựu ròng ròng nước mắt. Cô không cãi, chỉ lẳng lặng lắc đầu nhè nhẹ, rồi chạy vùng ra đám cây thanh hao, đứng đấy hàng tiếng, gọi cũng không chịu lên nhà.

Trời không chịu đất, thì đất chịu trời. Cuối cùng ông bà Sáu So chiều theo ý con gái. Cả hai ông bà sợ lỡ xảy ra chuyện gì thì ân hận không lại với giời.

Đám cưới cô Lựu, ông bà chỉ làm hơn chục mâm. Chỉ mời thân thích, không mời người làng. Người làng khác có khi còn không biết cô Lựu đã lấy chồng.

Ngày ấy chưa cấm pháo. Đám cưới nào giàu nghèo cũng pháo nổ tưng bừng. Nhưng đám cô Lựu thì không.

Nó âm thầm như cô chỉ đi làm ăn xa, đi vắng nhà một thời gian.

Về sau cả hai ông bà đều áy náy, thấy có lỗi với con rể về chuyện này.

Ở đời, vợ chồng là duyên số, đám cưới linh đình hay cỗ bàn đạm bạc không phải là điều quan trọng, nhất thiết.

Nhiều đôi đám làm linh đình mà không trọn vẹn. Chồng đuổi vợ theo mà nên nghĩa keo sơn, hạnh phúc trọn đời...

*

Bây giờ thì hai cụ Sáu So đã về trời. Ngày xá tội vong nhân này con cháu cúng dường chả biết các cụ có về yến hưởng không?

Nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Nồng, tôi đoán anh đang nghĩ ngợi điều này.

Chị Lựu khác hẳn với mọi bận, không chạy quanh nhắc chồng rượu uống in ít, sợ anh quá đà, say. Vì từng có lần anh quá chén ngã lộn cầu thang. May mà anh chỉ bị bươu trán, không làm sao. Hôm nay chị lại mở tủ, bê luôn cả vò rượu ra. Chị bảo đây là chằm gửi cây nghiến, uống rất tốt cho đàn ông. Anh nào anh ấy cười hở hết cả lợi, mắt tít lại.

Tôi cũng muốn cười. Có lẽ tại rượu, buột miệng tôi hỏi chị một câu đáng lẽ không nên hỏi. Ấy là câu chuyện bữa trước anh mò vào nhà cô Thu béo bán quán ở dưới Sơn Vi. Chị hơi chưng hửng một lúc, rồi nói:

- Ối dào chuyện đàn ông ấy mà. Ông nào chẳng thế? Có tý men vào người là rậm rịch, ngứa ngáy chân tay, đĩ mồm ấy mà. Có cho kẹo cũng chẳng dám anh ạ!

Thành Xăm cười, nửa đùa nửa thật:

- Ai bảo bà ấy cho ra toàn con gái? Năm lần thì năm con bươm bướm. Lỗi tại ai?

Chị Lựu không vừa:

- Đừng có nói vậy né! Đừng tưởng tôi đàn bà không biết, muốn nói sao thì nói. Hỏi bác sĩ xem, sinh con gái là do ai? Người ta không nói mình thì thôi, lại còn nói!

Tôi vội gạt đi. Con trai hay con gái thời nay đâu còn là chuyện? Biết con nào hơn con nào? Có hiếu với cha mẹ thì con nào cũng quý. Thời bây giờ khoa học phát triển rồi, chuyển giới chẳng khó gì. Phải không mọi người?

Nồng như chưa hết đăm chiêu từ câu chuyện ngày nào, giờ giãn nét mặt:

- Ồi dào. Chẳng qua chú ấy thử lòng quân tử, muốn trêu cô một tí. Chứ chú ấy không có dạ nào đâu. Chuyện tình Khuổi Mu đâu có dễ quên, phải không cô Lựu?

Chị Lựu đỏ bừng mặt như trái bồ quân, lảng sang chuyện khác:

- Em còn một hũ nữa. Lát nữa chị dâu mang về cho ông anh. Thứ này khỏe phải biết, nấm ngọc cẩu giả về tiền lá!

Đúng là ngày xá tội vong nhân. Toàn chuyện vui.

Nhớ ngày tháng cũ, rượu thơm như ngày tết.

H.G

 









Lượt xem: 120 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
27

Lượt truy cập:
379.373