HỒN LÀNG. TRUYỆN NGẮN CỦA TRIỆU ĐĂNG KHOA
Thứ 5, ngày 8 tháng 11 năm 2018 - 8:30

Nửa đêm hôm ấy cây cọ giữa làng bỗng rung lên phần phật. Mẹ tôi đang nằm nghe thấy, bà nói một mình: “Làng lại sắp có chuyện đây”. Quả nhiên ba ngày sau ông xã Ngư đang mạnh khỏe là thế bỗng nhiên lăn ra chết. Những người già trong làng tôi bằng kinh nghiệm tâm linh nào đó mà nghe qua tiếng gió của cây cọ có thể đoán định thời tiết, đoán định muôn sự của làng.

Tôi lớn lên đã thấy có cây cọ cao vút, chọc vào trời xanh. Chẳng biết cây cọ có tự bao giờ và có bao năm tuổi? Hỏi người già trong làng các cụ đều bảo: “Chả biết nữa. Chỉ biết rằng sinh ra đã thấy có cây cọ cao ngần này rồi”. Cây cọ trở thành biểu tượng của làng tôi. Mỗi ai ở trong làng đi đâu đó xa nhà khi trở về cách làng ba, bốn cây số đã nhìn thấy “cây cọ làng mình”. Lúc đó trong lòng rộn lên niềm vui. Những người ở làng đi làm ăn xa, hoặc đi bộ đội hay là đi học, đi thoát ly... ai cũng mang theo hình ảnh cây cọ làng. Trong các lá thư gửi về, trong rất nhiều nỗi nhớ, không ai không nhắc đến “cây cọ làng mình”. Thời chiến tranh Mỹ đem bom ra miền Bắc đánh phá làng mạc Việt Nam. Làng tôi ở ngay gần cây cầu sắt trên đoạn đường huyết mạch, bom Mỹ đã phá sập cầu, tàn phá trạm xá, đốt cháy phố huyện, vậy mà làng tôi không có trái bom nào rơi xuống. Cây cọ vẫn ngạo nghễ trước phong ba bão táp, trước bom đạn của kẻ thù.

Mẹ tôi kể cho chúng tôi nghe một truyền thuyết rằng: Ngày trước không rõ năm nào, có một gã tham lam trong làng định chặt cây cọ bán cho bọn lái gỗ. Lão sắm chiếc rìu thật sắc và quyết định đốn cây. Lạ thay gã cứ chặt mé bên này thì mé bên kia cây cọ lại mọc liền như cũ. Chặt mãi, chặt mãi mà không tài nào làm cho cây cọ đổ xuống, lão sợ và bỏ cuộc, không dám chặt nữa. Cũng từ đó không ai dám động dao, động rìu vào thân cây cọ. Kể xong mẹ tôi bảo: “Cây cũng như con người, có tên, có tuổi. Cây cũng có hồn. Cây cọ làng mình là hồn của làng đấy”.

Ấy vậy mà sau này, có một kẻ đã dám chặt cây cọ của làng. Đó là vào thời kỳ những năm cuối sáu mươi, đầu bảy mươi, khi mà Hợp tác xã đang là mô hình của miền Bắc. Đó là một tổ chức chặt chẽ, có quyền lực lúc bấy giờ.

Làng tôi là một hợp tác xã. Chủ nhiệm là người miền xuôi lên. Ông ta khét tiếng là một “Chủ nhiệm thép” bởi cái tính nóng nảy và quyết đoán. ông đã quyết việc gì là ông làm bằng được. Ông không tin và chúa ghét mê tín dị đoan. Để làm ăn lớn, ông chủ nhiệm cho bán hết đàn trâu của HTX để đi mua ô tô máy cày. Ông cho xây dựng nhà kho, sân phơi, nhà xe ô tô. Cây cọ nằm ở giữa bãi đất được quy hoạch. Tất nhiên cây cọ phải bị chặt để giải phóng mặt bằng. Để làm việc đó, ông cho họp Ban Quản trị, Ban Kiểm soát để lấy ý kiến tập thể. Nói là họp cho có dân chủ nhưng thực ra ông quyết theo ý mình hết. Mọi ý kiến không đủ sức nặng để ông từ bỏ cái kế hoạch mà ông ấp ủ bấy lâu nay. Khu đất xây dựng liền kề với nhà ông. Giải phóng được khu đất công đó cũng có nghĩa nhà ông sẽ cơi nới thành một thổ đất vuông vức, thoáng, đẹp. Một mũi tên trúng hai đích.

Nghe tin cây cọ làng sắp bị chặt, bà con trong làng nhớn nhác. Hội Phụ lão họp lại phản đối. Đích thân cụ Nhéng già nhất trong làng chống gậy đến nhà chủ nhiệm để trình bày.

Thấy cụ Nhéng từ ngoài cổng, ông chủ nhiệm đã đon đả chào mời, rước cụ vào nhà. Khi đi trong lòng cụ Nhéng chồng chất bao nỗi bức xúc, nhưng đến khi thấy thái độ của ông chủ nhiệm hồ hởi, nhã nhặn thì nỗi bực dọc trong lòng cụ lại vơi đi ít nhiều. Dù vậy cụ vẫn phải nói ra cái điều mà dân làng gửi gắm. Cụ vào luôn câu chuyện:

- Thưa ông chủ nhiệm. Tổ Phụ lão chúng tôi nghe tin ông định chặt cây cọ làng?

Ông chủ nhiệm làm ra bộ mặt tỉnh bơ, rót chén nước cung kính mời cụ Nhéng rồi đáp:

- Dạ thưa cụ, việc này là của tập thể quyết chứ không phải một mình con đâu ạ.

- Nếu vậy tôi khuyên các anh nên xem lại, không nên chặt cây cọ của làng. Ông biết không, cây cọ có hàng trăm năm nay. Nó là linh hồn của làng, là tình cảm của làng, từ đời này sang đời khác không ai dám chặt. Bây giờ các anh vác rìu chặt nó đi khác nào các anh bập rìu vào mặt dân làng.

Ngày thường ông chủ nhiệm nóng tính là vậy mà hôm nay ông nhũn nhặn thế. Ông lại tợp một chén nước rồi bảo:

- Thưa cụ, lẽ ra việc này cụ phải ủng hộ chúng con mới phải, bởi vì chúng con làm cũng là vì cái lợi cho thôn, cho xóm. Ban quản trị cũng chỉ muốn đưa đời sống của bà con đi lên mà thôi. Nay mai sân kho làm xong sẽ có chỗ chơi bời cho già trẻ trong làng. Hợp tác xã sẽ đón văn công chiếu bóng về cho bà con xem. Còn cái việc thần linh, mê tín, con là thằng cộng sản nòi, con không sợ. Các cụ cứ để con lo, ma không đánh chết con được đâu. Tất cả vì tập thể, vì nhân dân cụ ạ!

- Nhưng chả lẽ không thể không chặt cây cọ?

- Thưa cụ, lẽ ra các cụ phải ủng hộ chúng con mới phải. Chúng con làm việc này chẳng qua cũng vì lợi ích của dân, lợi ích của làng ta. Tập thể đã quyết rồi cụ ạ, mình con cũng chẳng làm được gì. Thôi, vì cái chung, vì làng xã, cụ về hãy nói với bà con mình cứ yên tâm, không có gì phải lo lắng.

- Ông nói thế thì tôi chịu, không cãi được nữa. Nhưng ông nên nhớ rằng cây cọ này không bình thường đâu. Nếu có điều gì thì ông đừng trách rằng tôi không nói trước.

Nói rồi cụ Nhéng lọc cọc chống gậy ra về. Ông chủ nhiệm cười khẩy và bảo: “Cụ cứ yên tâm”. Trở ngại cuối cùng coi như đã giải quyết xong. Bây giờ chỉ còn là thuê người chặt.

Vài ngày sau đó thì có một toán người từ đâu đó mang cưa rìu đến. Toán người này do ông chủ nhiệm thuê. Ông thuê cả máy ủi, xe moóc đến để hỗ trợ. Dân làng nghe tin hôm nay chặt cây cọ, chẳng ai đi làm đồng, kéo đến xem rất đông. Có người đến vì sự tiếc nuối, có người đến vì sự tò mò. Họ xem câu chuyện truyền kỳ ngày xưa liệu có ứng vào ngày hôm nay không? Để bảo đảm an toàn, ông chủ nhiệm huy động cả dân quân ra hỗ trợ làm trật tự.

Trong lúc đám người nhốn nháo, tiếng máy nổ ầm ầm thì những nhát rìu cũng bắt đầu phầm phập bổ vào thân cây. Thân cây cọ hàng trăm năm tuổi, vỏ của nó cứng như sừng đã làm cho mấy lưỡi rìu cong lại, sứt mẻ. Nhưng dù thế nào thì nó cũng không chống lại được những cánh tay vâm váp và những lưỡi rìu chuyên nghiệp của đám thợ chuyên đi đốn gỗ rừng. Lớp vỏ cứng cứ lật ra từng miếng, từng miếng cho đến khi lộ ra ở phía trong một lớp gỗ mềm, xốp. Lúc này thân cây bắt đầu ứa nhựa. Những mạch nhựa ứa ra từ lòng cây như những tia máu tuôn ra từ cơ thể con người, làm ướt những lưỡi rìu. Toàn thân cây cọ bỗng rùng mình. Lá của nó bỗng chới với. Nó ngả dần, ngả dần rồi đổ xuống mỗi lúc một nhanh, cuốn theo những luồng gió hun hút. Một tiếng “uỳnh” long trời, lở đất phát ra khi toàn thân cây cọ nằm sõng soài ra khoảng đất rộng. Nó dài vài chục mét như một ông khổng lồ bị ngã giữa chiến trận. Cây cọ nhanh chóng bị cắt ra từng khúc như một cơ thể bị chặt ra từng đoạn. Hàng trăm con mắt nhìn cây cọ đổ trong rất nhiều tâm trạng. Có người hiếu kỳ, có người dửng dưng, nhưng đa số người đến xem ngậm ngùi, xót xa. Bà con dân làng lặng lẽ trở về nhà. Họ thẫn thờ như vừa đánh mất một cái gì đó rất quý trong đời.

Cuối cùng thì cái sân gạch thật to và mấy cái nhà xây cấp bốn cũng hiện lên trước mắt dân làng. Và cùng cái công trình tập thể vĩ đại ấy, ngôi nhà của ông chủ nhiệm cũng được cải tạo, cơi nới to đẹp hơn, nhưng cũng từ ấy không biết tại nhà ông tường cao, cổng kín hay vì cái gì mà người làng chẳng ai đoái hoài đến nhà ông chủ nhiệm nữa.

*  *  *

Thời cuộc đổi thay nhanh chóng, cái thời hợp tác xã đánh trống, ghi tên như một tấm áo hẹp, lạc một cơ thể cường tráng khi đất nước bước vào phương thức làm ăn mới. “Khoán 10” rồi đến khoán “100” ra đời. Hợp tác xã tan rã và giải thể. Ông chủ nhiệm mất việc và mất chức. Không những thế, khi đoàn cán bộ thanh tra về kiểm tra sổ sách đã phát hiện ra ông chủ nhiệm “ăn” gần hết đàn trâu của HTX trong lúc tranh tối, tranh sáng cùng với hàng chục tấn phân đạm mà ông ta không thể giải trình. Ông bị khởi tố về tội tham ô tài sản XHCN và đi tù một năm rưỡi. Khi ông ở tù, bà mẹ ở nhà vì thương con mà phát điên, phát rồ. Bệnh tình cứ ngày một nặng lên. Bà suốt ngày bò lê xuống bếp, bốc tro, bốc trấu đưa vào miệng ăn. Đến nỗi sau này vợ ông chủ nhiệm phải đóng một cái cũi như cái cũi lợn nhốt bà vào đấy. Cả ngày, cả đêm bà cứ réo tên ông chủ nhiệm mà khóc, mà ai oán.

Mãn hạn tù ông chủ nhiệm về làng. Ông đã mất hết và chẳng còn ao ước gì nữa ngoài niềm ao ước sống những ngày cuối đời thanh thản với dân, với làng. Năm ấy con ông đòi cưới vợ. Âu đó cũng là dịp may để ông bày tỏ niềm ao ước ấy. Ông chuẩn bị một đám cưới thật hoành tráng. Những món ăn của biển, của dân thành phố rất sa sỉ được ông đặt về cho tiệc cưới. Ông mời trong làng chẳng thiếu một ai. Thậm chí cả những đám chuyên đi làm thuê, làm mướn, cả đám gánh củi bán quanh năm ông cũng mời. Sẵn cái sân gạch hợp tác bỏ hoang, ông chọn dựng rạp dài hun hút.

Ngày chính đám. Cỗ bàn được bày lên ngan ngát. Ông chủ nhiệm (bây giờ người làng vẫn gọi ông như thế) mặc bộ com lê thật oách đứng ở cổng cùng với mấy người anh em dưới xuôi lên chờ khách. Đã chín giờ mà khách đến chỉ lác đác vài người, toàn là những “bạn công tác” của ông ngày trước và vài người khách xa lạ từ ngoài phố vào. Trong làng chưa thấy có một ai. Lâu lâu ông lại liếc nhìn đồng hồ. Cái đồng hồ của ông hôm nay cảm thấy nó chạy nhanh thế. Loáng một cái nó đã sang mười giờ rồi mười một giờ. Cái giờ này lẽ ra phải kín rạp, ăn uống ồn ào lắm. Mấy người đến trước ông đã bố trí cho ăn. Họ ăn uống qua quýt xong rồi cũng cáo lui thành thử cái rạp lại càng trở nên trống vắng.

Trong bụng ông chủ nhiệm đã mang máng nghĩ tới điều gì đó thật tệ hại song ông chưa khẳng định. Chỉ đến lúc mười hai giờ trưa vẫn không thấy có ai đến nữa thì ông mới biết cái điều dự cảm của mình là đúng. Những người giúp việc ngơ ngác nhìn nhau, nhìn vào dãy bàn ăn còn nguyên vẹn, lạnh tanh. Ông chủ nhiệm không đứng ở ngoài cổng chờ nữa. Ông đi vào nhà ngồi vào tấm phản trước bàn thờ mà than rằng: “Đời tôi sao mà nó khổ thế, nhục thế”. Mấy người anh em chú bác ở xuôi lên lại trách: “Ở đời nhục nhất là có miếng ăn mời người ta chẳng đến mà ăn cho. Chú thím ăn ở với dân với làng thế nào mà đến nông nỗi này?”.

Ông chủ nhiệm không nói gì. Ông nhìn ra bãi mâm bàn và khóc. Đời ông kể cả lúc bị bắt vào tù, ông chưa bao giờ nhỏ một giọt nước mắt. Vậy mà hôm nay ông đã phải khóc. Ông khóc cho nỗi nhục nhã của mình, cho số phận đen bạc của ông. Phải rồi nếu không có cuộc biến đổi của thời cuộc nhanh đến thế ông còn oách hơn cả đám lý trưởng, chánh tổng ngày xưa. Mà nghe đâu còn có tên ông trong danh sách sắp được cất nhắc, đề bạt lên xã, lên huyện nữa kia. Nếu cuộc sống cứ thuận buồm xuôi gió như lúc ban đầu thì ông đã là con người khác; chẳng phải như bây giờ. Và lúc ấy những cuộc cưới xin như thế này, đâu có đến đám bán măng, bán củi trong làng. Lúc ấy đám nhà ông sẽ nườm nượp khách sang, chẳng mời chúng nó cũng đến.

Còn một điều giờ đây ông mới hiểu sâu xa hơn, đó là: Ông đã động cõi tâm linh, động vào lòng tự ái của dân làng. Đúng là cây cọ của làng có hồn thật. Ngày ấy ông tự tin là vậy, có quyền uy là vậy mà từ khi chặt cây cọ xuống ông cứ bị ám ảnh về nó. Ám ảnh không phải ông sợ ma quỷ mà vì thái độ dân làng lúc ấy. Nhìn sự thẫn thờ của họ, ông biết cây cọ đã đi vào đời sống, là một phần không thể thiếu ở cái làng quê nhỏ bé này. Đã bao đêm ông mơ giấc mơ khủng khiếp: Cây cọ đổ ụp xuống nhà ông.

Minh họa: Tân Hà

 

Một thời gian sau người ta thấy ông chủ nhiệm chuyển nhà đi. Ông đi đâu không ai rõ. Có người bảo ông quay về quê. Có người lại bảo ông đi vào tận miền Nam. Người làng tôi bây giờ không ai được nghe tường tận câu chuyện huyền thoại về cây cọ làng nữa và thay vào đó là câu chuyện về ông chủ nhiệm không biết ăn, biết ở, không sống nổi với bà con làng xóm đã phải bỏ làng mà đi.

 

 

T.Đ.K

 

 

 









Lượt xem: 28 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
7

Lượt truy cập:
373.894