NGUYỆT CẦM. TRUYỆN NGẮN CỦA DƯƠNG ĐÌNH LỘC
Thứ 5, ngày 8 tháng 11 năm 2018 - 8:31

Thứ nhất là nghề hát văn

Thứ nhì trạm khảm, thứ ba truyền thần

 

                                           (Ca dao)

 

... Ở phố Kép, phủ Bố Hạ, huyện Lạng Giang của những năm 40 thế kỷ trước, có nhà địa chủ này giầu có lắm, lại nức tiếng cường hào ác bá, coi người ăn kẻ ở, tầng lớp nghèo hèn như rơm như rác. Y họ Bùi tên Trật, nhà có hàng trăm mẫu ruộng, hàng nghìn thước dâu, giầu có nức tiếng khắp cả tỉnh. Y có đúng một đứa con trai độc đinh tên Thịnh, từ nhỏ hay được bà nội cho đi theo lễ Phật nên cũng lành tính, ngoan ngoãn dễ bảo. Có một năm, làng đói lắm, hạn hán lụt lội mất mùa liên miên. Mẹ Trật giấu con dâu mang hai bao thóc lên chùa phát chẩn cho người nghèo, nhằm giúp cho những gia đình khốn cùng có gạo chia nhau nấu bát cháo loãng vượt qua cơn đói mùa giáp hạt. Trật biết được mắng mẹ thậm tệ, định trói vào cột nhà, Thịnh phải ra sức khóc lóc xin cho bà nội, yêu con Trật mới tha cho, nhưng cho bỏ đói một ngày đêm mới hả. Tiếng tàn ác bất nhân của Trật vang ra khắp xa gần ai ai cũng căm ghét, y cho vay nặng lãi, một đấu thóc lấy một thúng, 1 hào lấy 1 quan, kẻ nào không trả nổi thì cho tay chân đến xiết nhà, gán ruộng, vì thế mà ngày càng thêm giầu có. Mẹ y lo lắm, sống lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, bà theo Phật nên thấm nhuần luật nhân quả, lại chẳng lo đến một ngày con mình sẽ bị quả báo, nhà lại chỉ có đúng một thằng cháu đích tôn, tu nhân tích đức chả xong, nay vợ chồng con trai con dâu chỉ chuyên làm điều thất đức, không may sau này dòng họ Bùi có mệnh hệ gì, hai năm mươi xuống suối vàng ăn nói với chồng sao đặng. Nên ra sức kính Phật, tháng ngày ăn chay, làm điều thiện nguyện. Một ngày nọ, bà đi lễ chùa và đền ở tận trên Suối Mỡ, về tới cổng làng thì trời cũng đã hoàng hôn, hai thằng phu khuôn võng xem chừng cũng đã thấm mệt, bà bảo mọi người cùng nghỉ chân dưới gốc đa một lát, đã về đến làng rồi, tới nhà chẳng mấy chốc. Lại thấy dưới gốc đa ấy, không chỉ có riêng mình bà, có cả một gia đình gồm hai vợ chồng cùng đứa con gái cỡ lên năm lên sáu, không biết ở làng nào lưu lạc đến đây, tất cả đều đói lả phờ phạc ngay sát sân đình. Vội vàng hỏi han mới biết tận những bên Yên Dũng xa xôi ăn xin lần hồi tới đây, thấy làng này giầu có, nhiều nhà mái ngói, khói bếp tuôn xối xả, đình chùa to rộng, định vào xin miếng cơm thừa cho đứa con gái nhỏ nhưng tuần canh trên điếm canh đê không cho nên vất vưởng từ trưa đến giờ. Mẹ Trật chẳng nói chẳng rằng đem hết xôi oản chia cho cả ba người, cấm thằng phu con hầu về nhà không được nói cho ai biết, tiếp nữa tháo luôn chiếc vòng ngọc đang đeo trên tay, đưa cho hai vợ chồng, bảo về quê quán bán đi lấy tiền mua cái vườn mà làm ăn sinh sống. Rồi bà chẳng dám nhận mấy cái lậy hấp tấp của kẻ khốn cùng, lên võng đi luôn về nhà. Tối ấy, Trật ăn cơm, không thấy cái vòng ngọc trên tay mẹ đeo như mọi khi, bảo vợ hỏi bà thằng Thịnh xem thế nào. Vợ y lại là người ghê gớm, thị không nói không rằng xuống nhà dưới tát thẳng vào mặt một trong hai đứa khuôn võng hồi chiều vừa rước bà đi lễ chùa về, tra khảo xem hôm nay có phải bà đã lại bố thí cho kẻ nào không. Bọn này gan nào dám giấu, vội kể hết đầu đuôi câu chuyện. Trật tỏ việc, đi thẳng tới chỗ mẹ ngồi, cầm cả cái tráp đựng trầu bằng đồng ném ra sân, thề từ nay không mẹ con gì hết.

Bẵng đi một năm sau, con Trật là Thịnh cũng đã 15 tuổi rồi, khôi ngô tuấn tú, học chữ Quốc ngữ lẫn chữ Nho đều thông minh sáng dạ nên được cha mẹ yêu chiều lắm. Một hôm Thịnh đang chơi với chúng bạn ở ngoài sân, thấy một ông sư khất thực đến cổng nhà mình, bèn chạy luôn vào bếp, tới bồ gạo, xúc lấy đầy một túi vải hăm hở định mang ra biếu, chợt nhớ đến bà nội, vội lên nhà trên dẫn ra, bà cháu vái lạy hỏi han. Sư cảm động lắm, đứng đàm đạo chuyện trò một lúc lâu rồi định xin đi, được 4, 5 bước nghĩ thế nào lại tần ngần quay lại bảo với bà nội Thịnh rằng... Hôm nay, cũng là do cái nhân duyên trời định đưa sư tôi khất thực tới nhà tín chủ, thấy nhà cửa tuy có sang trọng bề thế, nhưng phần âm thì u ám, nhiều tử khí lắm. Nể bà là người hiền hậu, biết kính Phật trọng Tăng, sư tôi mới nói cho mà biết... Mẹ Trật nghe thấy thế vội kéo cháu đứng sát lại gần vái một vái mà kính cẩn thưa rằng... Trình sư, già tôi cũng đã biết sớm cái điều rồi, vì xấu số sinh được đứa con trai không được lương thiện, thuần tính cho lắm, nên vẫn ngày đêm tâm thành niệm Phật. Ơn nhờ Quan Thế Âm Bồ Tát, ngày hôm nay có nhân duyên gặp Thánh tăng, tử sinh thông tuệ, thiên địa hiểu biết. Tôi gần đất trời rồi chẳng nói làm gì, nhưng họ Bùi tôi, cả dòng họ còn có mỗi thằng cháu đích tôn này, xin sư thầy thương mà chỉ bảo cho đôi lời vàng ngọc, đặng cho cháu sau này qua được cái nghiệp chướng mà cha mẹ đã chất chồng, mai sau sống làm người lương thiện, có nghề nghiệp tử tế, lấy vợ sinh con đẻ cái nối dõi tông đường. Cái ơn này, tôi xin nguyện kiếp sau làm thân tôi tớ để báo đền... Nói đến đây, cả bà cùng cháu đều nghẹn ngào chực khóc. Tín chủ cứ bình tâm lại đi... Sư thầy vội vén hai ống tay áo nâu có nhiều mảnh vá đỡ bà cháu đừng xúc động vái lạy, đoạn chỉ vào Thịnh bồi hồi... Đúng là họ Bùi nhà này có cái nghiệp rất nặng, con cháu sau này phải đi ăn xin, lang thang chết đói dọc đường. Nhưng sư tôi thương cháu nói cho mà biết, năm tới, nhằm Tết Nguyên Đán, chọn ngày lành tháng tốt, tín chủ sắm hương hoa phẩm vật, thành tâm dẫn cháu đi lễ Phật chùa Hương, nhớ xin một quẻ thẻ ở động Hương Tích, Phật Bà Quan Âm sẽ chỉ lối cho mà biết... Nói đến đây, sư khoác túi gạo, bịn rịn ra đi.

Rằm tháng Giêng năm ấy, đúng như những gì đã được dặn dò, mẹ Trật dẫn cháu nội đi lễ chùa Hương, thuê xe ngựa từ 3 giờ sáng tới tận 5 giờ chiều mới đến bến Đục, trả một quan tiền đò, ngược suối Yến tới Thiên Trù thì trời cũng đã nhá nhem tối. Thuê một căn gác trọ có đèn lồng treo mái hiên ở gần đấy cho bà cháu nghỉ ngơi ăn uống, nhằm có sức, sáng mai vượt đèo dốc vào động Hương Tích.

Sáng ấy rừng mơ tươi lắm thay

Khoác áo mưa xuân đậu hạt cườm

Mây hồng hờ hững bên sườn núi

Tiếng mõ bồng bềnh lẫn với sương...

Tới động Hương Tích, mẹ Trật cung kính bày lên ban một quả phật thủ, 5 ông oản to, một thẻ hương loại tốt và một số tiền để công đức, khăn áo chỉnh tề cùng cháu nội thành tâm lễ Phật, cầu mọi sự tốt lành trong năm mới, rồi xin rút một quẻ thẻ. Nhằm đúng số 49. Mẹ Trật xem ra mọi bề đều có phần không tốt, chứ chưa muốn nói là rất xấu, tuổi già niên cao, chen người dẫn cháu lên đến ngoài cửa động lòng buồn vô hạn. Thịnh thấy thái độ của bà nội như vậy thì tủi thân lắm, mấy lần chực khóc, nhưng vì có cái tính cương nghị lại thôi. Ra tới đường cái quan, trước khi lên xe ngựa mà nhà đòn đã chờ sẵn ở đấy để về nhà, linh tính, mẹ Trật giở quẻ thẻ ra xem lần nữa, cẩn thận đọc lại từng câu từng chữ, đến phần công danh của Thịnh có 4 dòng sau đây:

Đất Phủ Dày là nơi Thánh tích

Sự học hành nghiêm chỉnh tu thân

Cung đàn tiếng hát nhất tâm

Miếng cơm manh áo muôn phần thơm tho...

Vẻn vẹn có 4 dòng như vậy, bà cháu cùng chăm chú đọc đi đọc lại mấy lần. Mẹ Trật chẳng hiểu thế nào, lòng lo lắm. Nhằm hôm ấy mặc mưa phùn gió bấc, bảo ngay xe ngựa thuê tiếp đi thẳng xuống thành Nam, đường xá xa xôi, đến tận nửa đêm mới về tới Phủ Dày. Cả đoàn người rét mướt đói khát đứng co ro ngoài cổng, vì theo quy định, tận 5 giờ sáng mới mở cửa cho dân có việc vào phủ, 8 giờ tối là đóng. Lại mướn một quán hàng còn leo lét đèn dầu gần đấy, xin được ở trọ ăn uống nghỉ ngơi, kiểm tra lại tư trang tiền bạc hành lý. Sáng hôm sau, chực sẵn ở cổng từ tờ mờ sáng, xin được vào lễ Mẫu đầu tiên. Thấy bề cung vàng điện ngọc, lầu các nguy nga, ao sen bán nguyệt, bên cạnh là long chầu hổ phục, sập rồng uy nghi, hương đăng rực rỡ. Thịnh run lắm, theo chân bà nội đi vào, tới cung cấm, rèm loan ngăn cách đấng thiên tiên với trần gian bằng một tấm vải đỏ cực lớn thêu ba mươi sáu con chim phượng bằng chỉ vàng kim tuyến. Bà cháu quỳ thụp ở đấy, kính cẩn ba vái dập đầu mà chẳng biết dung nhan Mẫu Nghi Thiên Hạ trông ra làm sao. Lại biết mình là kẻ thường dân, muốn bước vào trong đó phải là người quyền cao chức trọng, không hoàng tộc thì cũng phải thuộc hàng quan lại tôn quý. Vừa khi cửa cung xịch mở, nhác trông thấy thủ nhang của một trong bốn ngôi đền thờ Tứ bất tử danh trấn của nước Việt bước ra, chắc vừa vào thay hoa lọc nước. Mẹ Trật hấp tấp vội vàng kéo cháu đứng dậy, chờ người đó đi sắp tới gần, vừa thở vừa vái dài một vái mà lễ phép, thưa rằng: Kính chào cậu. Tôi họ Đào tên Nhân, tận trên Bố Hạ, Lạng Giang, hôm nay nhân dịp đầu xuân năm mới, dẫn thằng bé này, trước hết là đi lễ Phật chùa Hương, sau nữa là về đây để tỏ lòng kính Mẫu trước những công lao của Ngài với bách gia trăm họ. Sẵn đây có quẻ thẻ bà cháu rút được ở động Hương Tích, thấy có vài từ nhắc đến long ngai, phận tôi quê mùa dốt nát, chữ nhà trời lại mênh mông hải hà, mong cậu giải nghĩa cho được biết, giọt dầu đèn bấc xin được cung tiến Phật Thánh, tôi đội ơn ngàn lần ạ... Người ấy xem chừng là con trai mà mặt hoa da phấn, dáng người thanh tú sang trọng, mắt sáng long lanh, trán rộng mày ngài, mũi dọc dừa đẹp trai khác thường. Trước những lời hợp tình hợp lý, thưa gửi có đầu có cuối của mẹ Trật, ân cần cầm lấy quẻ thẻ, vái vào cung cấm, giở ra xem. Một lát sau, từ tốn bảo với mẹ Trật rằng: Quẻ này chỉ cho ún tiểu đây theo nghề hát chầu văn... Có trên dưới mười từ như thế, đưa lại mảnh giấy rồi định dợm bước. Mẹ Trật vội luồn tay vào dải yếm, lấy ra một số tiền kha khá rồi mau mắn theo kẻo chẳng kịp: Đội ơn cậu, quả là phúc đức cho nhà cháu quá, được... bề trên chỉ bảo cho, có chút quà xin mừng tuổi cậu. Và cậu đã thương thì thương cho chót. Cái nghề này, từ bé đến giờ tôi mới được nghe thấy lần đầu. Không biết đi tìm học ở đâu ạ?... Ở Bảo Lộc có nhà cụ Cả Sinh, 3, 4 đời đều phục vụ cái nghề này, ăn mày lộc Thánh, mở mặt với thiên hạ, vẫn thường ra đây dâng văn thờ cho Mẫu vào mỗi dịp khánh đản, nếu có nhân duyên đến đấy mà tìm học. Còn số tiền này, bà cháu mang về dọc đường làm lộ phí, tôi chỉ xin một li một lai gọi là có nén hương cúng Mẫu, để vào cái hòm công đức đằng kia... Mẹ Trật vội vàng giục cháu lạy tạ, ngẩng lên đã thấy thủ nhang thướt tha khuất vào sau một cái mành trúc, mờ ảo hương nến như là cõi tiên, không vướng chút bụi trần.

Hơn tháng sau, nhằm ngày vợ chồng con trai đi thu tiền nặng lãi ở làng khác, mẹ Trật giết gà thổi xôi cúng tổ tiên họ Bùi, sai gia nhân ra vườn chọn buồng cau nào đẹp nhất ngả xuống, lại hái chẵn một trăm lá trầu loại tốt, để hết vào một cái mâm bồng, cùng chè, thuốc lá, hạt sen, tiền mặt, áo sống chỉnh tề, săng xái cùng cháu nội mờ sáng lên xe ngựa thuê sẵn nhằm hướng Bảo Lộc thẳng tiến. Bảo Lộc là đất địa linh, có Thiên Trường Tức Mạc cổ kính, ngàn năm văn vật, sản sinh biết bao trang tuấn kiệt gánh vác việc thiên hạ. Lại có thái ấp xưa của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, ngài được phong Thánh ở đấy, đền thờ bề thế trang nghiêm lắm, nhân dân cả vùng quanh năm thành kính khói nhang. Hỏi được đến nhà cụ Cả Sinh thì cũng đã quá trưa, ở làng ấy, xóm ấy ai ai cũng biết. Bà cháu hồi hộp vào nhà thầy, bằng gỗ mít ba gian lợp ngói mũi hài, ngồi đợi ở tràng kỷ, ngó các hoành phi câu đối viết toàn bằng chữ Nho, những lời nhân nghĩa treo trang trọng khắp các cột nhà cũng đủ biết chủ nhân là người hiền đức và hay chữ đến thế nào. Cụ Cả Sinh là người quắc thước, da dẻ hồng hào, râu tóc đã bạc trắng tầm ngót nghét 90, nhìn cũng đủ thấy kính trọng tin tưởng rồi. Mẹ Trật từ tốn thưa gửi câu chuyện có phần hơi dài dòng về cái hồng phúc được gặp cụ ngày hôm nay của thằng cháu nội. Cụ Cả Sinh nhìn Thịnh từ đầu đến chân rồi lại nhìn mâm lễ học trò đang run run bưng trên tay, mồ hôi đầm đìa khắp trán, giả lễ với khách già sang trọng vài câu thế này: Nhìn ngay là biết cháu có nhân duyên với tôi rồi, trông sáng sủa khôi ngô lại ngoan ngoãn lễ phép, chắc được sự bảo ban dạy dỗ của bà nội cháu đây. Tôi thì già rồi, nhìn ai có tố chất chân tâm mới dạy kẻo phí công lại hao tài tốn vật cho nhà người ta... Vài lời như thế rồi mới sai Thịnh bê mâm lễ để lên trên cái bàn thờ gia tiên ngay trước bộ tràng kỷ, làm bọn học sinh lớp trước đang học ở nhà dưới, nhấp nhổm chạy lên len lén nhìn Thịnh qua những khe cửa bức bàn, thân thiện cười nói chỉ chỏ. Mẹ Trật như mở cờ trong bụng, chẳng biết tố chất, chân tâm nó là thế nào, nhưng đã cho để mâm lễ lên kia mà không trả về thì chắc hẳn thầy nhận cháu mình rồi. Qua chuyện trò trà nước, mới ngọt nhạt hỏi xem khóa học là bao nhiêu lâu, tiền ở trọ, ăn uống, công xá thế nào, thân tình cởi mở xong xuôi đâu đấy rồi mới lau nước mắt xin phép đứng lên thì Thịnh đã òa khóc lên rồi. Bà cháu bịn rịn dặn dò chia tay nhau. Ngày hôm sau Thịnh làm lễ nhập môn, rồi ngay ngắn ngồi trên phản nghe thầy giảng bài. Cụ Cả Sinh với lấy một bộ thanh la cùng trống phách trên bàn thờ xuống, để trước mặt Thịnh chỉ cho xem công dụng chức năng từng món rồi khoan thai điềm đạm... Ngày đầu tiên của khóa học, thầy chỉ giảng cho con một vài điều tâm huyết về nghề hát văn. Con còn nhỏ, mới 15 tuổi, phải cố lưu tâm nhé... Cụ ân cần nhìn cậu học trò mặt búng ra sữa rồi trìu mến: Con có ba lý do để học cái nghề này. Lý do thứ nhất, học nó để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Lý do thứ hai, học nó để thành tâm dâng văn cho Thánh nghe. Lý do thứ ba, học nó chỉ để mưu sinh. Nếu con nhớ, hiểu và biết mình mình sẽ phải chọn một trong ba cái điều này thì mới mong sau này học hành tiến bộ và thành công được. Kết thúc ngày học đầu tiên, cụ Cả Sinh dạy vẻn vẹn chỉ có vậy. Thịnh cẩn thận chép hẳn ra một quyển vở, đêm ấy học cho kỳ thuộc mới thôi, lòng thầm nhủ chọn cả ba điều ấy. Tới hôm sau, Thịnh chép thêm bài giảng thứ hai của thầy về thế nào là hầu bóng, đối tượng để những người hát văn hành nghề. Hầu bóng là... Thịnh chăm chú nhập tâm viết, nhớ không sai một lời của người thầy đức độ khả kính, đại ý rằng: Trong công cuộc xây dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ xa xưa đến nay, có rất nhiều các anh hùng lịch sử trong truyền thuyết hay thực tế, nam hay nữ, nhân thần hay thiên thần, đã có công gìn giữ non sông, bảo vệ bờ cõi, giúp quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa...v.v... Và để tưởng nhớ công lao của họ, người xưa đã đưa một số nhân vật tiêu biểu hoặc có thật hay hư cấu vào hàng Tam, Tứ phủ để thờ phụng cũng như cầu đảo mỗi khi có dịp cần. Và các thanh đồng sẽ diễn lại các tích đó trên sập công đồng ở các ngôi đền, phủ mỗi khi có điều kiện hay đản tiệc, để cho con cháu thế hệ mai sau không quên các chiến công ấy của họ như Đức Thánh Trần múa đao dẹp quân Nguyên, các quan lớn xông pha cầm kiếm ra trận, Đức Hoàng Mười múa cờ theo vua đánh giặc... v.v và v.v Và người công văn tùy vào điển tích các giá hầu, sẽ hát lên công trạng, tháng năm lịch sử hào hùng hay cũng như thời gian linh hiển của họ để tất cả mọi người cùng ghi ân, thành kính thưởng thức... Và người nào, tùy vào căn số phải ra trình đồng mà được các Ngài lựa chọn để diễn lại các tích ấy thì được gọi là... Chấm đồng, còn ai không được chọn vì chẳng có căn quả nhưng mà bởi không biết, hoặc bị bọn đồng cốt xoàng xiên dụ dỗ lường gạt cố tình mà ra hầu thì bị gọi là... Đồng đua, có "bắc ghế" cũng chẳng được chứng tâm, đem lại ích lợi gì. Và hầu đồng với hát văn nó thuộc về lĩnh vực tâm linh, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, là nét đẹp huyền bí riêng có, vượt thời gian, vậy nên những người có tâm huyết phải làm sao đưa được nó lên trở thành những tác phẩm nghệ thuật sánh cùng với các bộ môn nghệ thuật truyền thống nức tiếng khác như cải lương, tuồng, chèo... Thịnh càng chép càng thấy thấm nhuần, đọc lại thấy như một bài giảng đầy sâu sắc về tinh hoa văn hóa cổ truyền, lòng kính trọng và cảm phục thầy vô cùng. Ngày thứ ba, cụ Cả Sinh bắt đầu giảng cho trò mới nghe về một vật quan trọng... Cây đàn này... Cụ với lấy cây đàn treo ngay sát cái bàn thờ cầm xuống trên tay: Tên nó là đàn nguyệt, vật chủ đạo và là linh hồn của nghề hát văn, thiếu nó thì không thể làm nghề được... Thịnh tròn mắt nhìn cây đàn có cái đáy tròn như mặt trăng, trông quyến rũ lạ lùng, rồi chộn rộn háo hức nghe thầy ân cần tiếp tục... Con xem này, nó chỉ có hai cái dây thôi, nhưng hai cái dây này nó sẽ quyết định người đánh nó trở thành nghệ nhân tài hoa hay chỉ là một anh kép bình thường. Và người cầm đàn phải thể hiện sao cho ra được cái thần thái của nhân vật mà không đặt yếu tố kỹ thuật và tiền bạc lên hàng đầu. Bởi vậy, một giọng hát chỉ thật đẹp khi được cất lên đúng chỗ, chỗ đó không bao giờ là những vấn đồng phô trương tốn kém xa xỉ, hay những ông bà thầy làm lễ cho khách với giá cắt cổ, mà chỉ ở những nơi căn cao quả trọng, đồng tiền phát ra cho người nghệ sĩ dù ít nhưng đó là mồ hôi nước mắt của người hầu nên vô cùng quý báu... Vâng... Thịnh rơm rớm nước mắt lắng nghe những lời nhân văn tận đáy lòng: Nguyệt chính là trăng con ạ, và trăng chính là nguyệt, nó sẽ là người bạn suốt đời của con cũng như của tất cả những người hát chầu văn...

Ta mang mảnh trăng vàng trên vai

đi khắp bốn phương trời

Trăng sưởi ấm tim ta những đêm lạnh giá

Yêu thương ta những nỗi cô đơn, bầu bạn cuộc đời

Vui buồn, nguyệt hỡi nguyệt, trăng hỡi trăng...

Thời gian đã thấm thoát ba năm có lẻ, trong suốt ba năm ấy, Thịnh được thầy truyền đạt dạy bảo cho tất cả các lề lối, niêm luật của đàn và hát văn. Từ hát Dọc, Miễu, Cờn Xuân, Thơ, Phú cho đến Thổng, Bỉ, Vãn, Hành Sai, Kiều Dương...v.v Vô cùng bài bản và hoàn chỉnh, làn nào điệu nấy đâu ra đấy. Thịnh lại có tố chất trời cho, về căn bản lại chịu khó thông minh nên tiếp thu nhanh lắm. Nhưng buồn một nỗi, trong suốt ba năm đó, gia đình Thịnh tịnh không thấy ai lên thăm được một lần. Thịnh nhớ bà nội da diết nhưng vẫn cố nén trong lòng chẳng dám xin về thăm nhà lần nào, tập luyện siêng năng sớm tối nên được thầy quý như con cháu trong nhà. Gan ruột mình, vốn nghề có thế nào đem ra ân cần chỉ bảo cho bằng hết, chả giấu một mảy may. Lại dạy cách hát về các giá hàng Quan lớn sao cho được dõng dạc uy nghiêm, hàng Chầu bà phải ngọt ngào sâu lắng, hàng Hoàng phải phóng khoáng nhân văn, cô Chín cô Bơ phải dạt dào tình cảm, các Cậu bé Cô bé hàng Thượng phải nhí nhảnh vui tươi, sao cho phù hợp với sắc thái tâm trạng của từng nhân vật. Hát phải có chiều sâu nội lực, bám bài không để rời rạc, mạnh mẽ tinh tế cũng như bay bổng nhẹ nhàng lúc cần thiết, cứ thế mà tôi luyện. Lại dạy sau này ra nghề, phàm những loại buôn thần bán thánh, đồng cốt xoàng xiên, xoay khăn phản thầy, trai trên gái dưới, có chết đói chẳng có việc làm cũng không được hát. Còn những người căn cao quả trọng cơ đầy rồ dại, dù lộc ít lộc nhiều đem hết gan ruột mình ra mà làm. Lộc nhà Thánh có gai có góc, nhưng vẫn có hoa thơm quả ngọt cho những người nhất tâm, không phải lo cái chi chi, có khi lộc dương được ít nhưng lộc âm lại dầy, là những cái vô hình nào ai nhìn thấy, tỉ như gia đình êm ấm hạnh phúc bền lâu, con cái khỏe mạnh, anh em sang giầu, dòng họ vinh hiển, thì không tiền nào có thể mua được. Mai sau, ở đời, bể học mênh mông, nhân tài như lá mùa thu, người cung văn phải có phong thái, cảm xúc riêng của mình mới mong nổi tiếng được, tùy vào trình độ hay giọng hát mà thể hiện những bản văn chầu sao cho được bác học hàn lâm hay mùi mẫn nỉ non, nhưng tuyệt đối không được sướt mướt ủy mị. Tiếp thu những cái mới, bảo tồn những cái cũ, gìn giữ và phát huy những giá trị vô giá của chầu văn Việt Nam mà các bậc tiền nhân đi trước đã cố công gây dựng. Sống lấy sự khiêm tốn điềm đạm, hòa đồng giản dị làm đầu thế mới được kẻ yêu người quý, kẻ vì người nể, để lại tiếng thơm cho đời. Những lời thầy dạy, Thịnh ghi nhớ lắm lắm, chẳng mấy chốc cũng đến lúc được thầy cho về. Ngày chia tay, cả thầy lẫn trò đều ngậm ngùi không nói lên lời... Mãi sau... Thôi con ạ... Cụ Cả Sinh nhìn anh học trò có khuôn mặt cương nghị đang nước mắt vòng quanh, luyến lưu với ánh mắt có một vài tâm trạng... Thầy già rồi, có lẽ con là người cuối cùng thầy dạy, vì sức khỏe thầy không nhận ai nữa đâu, cũng xong một đời làm phúc cho người dưng trong thiên hạ, mà cũng là cái trọng trách các... Ngài đã giao cho, để gây dựng tổ nghề truyền đạt cho các thế hệ mai sau, kể cũng đã hoàn thành xong sứ mệnh. Con là người có tâm có tài, cả đời thầy đi hát, tài sản chỉ có mỗi vật này, coi trọng hơn mạng sống, yêu quý hơn vợ con, thầy cho, con mang về, trước đặng làm kỷ niệm, sau ra nghề có cái mà dùng, những gì thầy dạy bảo trong suốt ba năm nhân duyên gắn bó, con phải ghi nhớ để sau này ra với xã hội, đàn hát sao cho người đời họ nghe mà trọng cái bản sắc văn hóa dân tộc, chớ đừng để họ coi khinh như phường giá áo túi cơm cầm cái đàn đi kiếm ăn ngày hai bữa, uổng công ta... Thôi con... về đi... Thịnh như ăn như nuốt từng lời vàng ngọc của thầy, rồi quỳ xuống đỡ lấy trên tay ân sư một cây đàn, có vẻ như đã cũ theo năm tháng, nhưng nước sơn vẫn còn đen nhánh, nhìn rõ từng đường nét hoa văn khảm trai, trạm trổ cầu kỳ đẹp mắt, xem chừng là một cây đàn quý, nhiều gắn bó, nghẹn ngào mãi không thốt nổi nên lời... Thịnh về tới quê hương bản quán thì thấy nhà cửa tan hoang từ lâu rồi, nghe hàng xóm kể lại, Cách Mạng Tháng Tám thành công, cường hào địa chủ ác bá hại dân đều bị đền tội hết, cha mẹ Thịnh cũng không phải ngoại lệ. Bà nội thì đi ăn mày nghe đâu tận trên Cao Bằng rồi cũng chết gửi hồn tại một bản người Mán nơi rừng sâu núi thẳm, họ hàng chẳng còn ai, tan tác mỗi người một nơi, nhà cửa ruộng vườn đều bị tịch thu hết. Thịnh đau đớn lê bước mà chẳng biết đi về đâu, khoác cây đàn với cái tay nải lang thang hết làng này làng khác, lần hồi mót khoai lang, hái sung chát ăn qua ngày đoạn tháng. Gặp tiết ấy đã là tháng Chạp, cảnh không nhà không cửa, sắp Tết đến nơi rồi, một mình bơ vơ tha phương cầu thực, lại đang tuổi xuân 18 đôi mươi, lòng tủi thân lắm lắm. Dưới gốc cây Hải Đường của một ngôi đền thờ Mẫu ở phố huyện nọ, Thịnh thẫn thờ ngồi dựa lưng vào đấy mà thấy xót cho đời binh lửa can qua, chợt nhớ đến những ngón đàn trước đây thầy dạy, bèn dở ra đo phím so dây, cất lên bản văn chầu Đệ Tam trong nước mắt thì mùa xuân cũng đã ùa về rồi. Từng cánh hoa đỏ tươi theo gió phấp phới với mưa xuân rơi xuống từng câu hát nghẹn ngào thổn thức:

Chàng là chàng đâu biết

Sao nghe lời tiểu thiếp Thảo Mai

Từ nay cách xa phân kỳ

Hai phương trời đôi ngả chia lìa

Ôi đớn đau vô vàn

Kinh Xuyên chàng không biết ngay gian

Cho thân thiếp ôi bẽ bàng...

Không ngờ tiếng hát đầy tâm trạng lọt vào tai người quét sân gần đó, chạy ngay vào đền thưa gửi. Tết năm đó, Thịnh được thủ từ mời vào đền ăn Tết, rồi đầu xuân năm mới dâng văn thờ cho Mẫu ở đấy. Dưới chiếu hoa ngay cạnh sập công đồng, cung đàn trầm bổng hòa quyện với nỗi lòng chan chứa sâu lắng từng câu hát, làm xúc động biết bao bước chân của các bà, các cô đi lễ. Thật đúng là:

Đàn ơi non nước nâng thơ, phú

Câu hát hương lồng với bóng hoa...

 

Minh họa: Tân Hà

 

Miếng thịt luộc, phẩm oản, hoa quả bánh trái, mỗi người một thức, thành kính dâng Thánh xong ai ai cũng thừa lộc cho Thịnh, được cả một số tiền nữa. Giữa buổi loạn lạc kẻ chết đói khắp đường ngoài chợ, Thịnh cầm miếng xôi trên tay chợt nhớ đến bà nội, nước mắt lã chã tuôn rơi, cảm thương không biết để đâu cho hết, mãi mới ăn nổi. Bẵng đi một vài năm rồi Thịnh cũng trở thành một cung văn có tiếng, được nhiều đền, phủ tâm thành đón rước. Âu cũng bởi Thịnh có tố chất nghề nghiệp, lại có nhân duyên gặp được thầy tâm huyết, hiền đức. Sau nữa lại được hồng phúc của bà nội để lại nên chả mấy chốc, không lâu lắm đâu, khoảng mươi mười lăm năm sau, Thịnh đã có đủ tiền mua được nhà được ruộng, lấy vợ sinh con đẻ cái, gia đình sống hạnh phúc đầm ấm lắm. Tiếng lành đồn xa, lại có cả người già người trẻ yêu mến nghề hát văn đến xin được thụ giáo. Thịnh noi gương thầy, sẵn những gì học được ngày xưa hết lòng đem ra truyền dạy, để làm đẹp thêm cho bản sắc văn hóa dân tộc, về cái đạo và đời của cái nghề tâm linh mà không phải ai ai cũng được đề tâm cho mà thành công. Vậy nên xem ra trong thiên hạ có khối nghề để kiếm sống, nhưng có cái nghề nào mà sân khấu là những ngôi đền, khán giả là những pho tượng như cái nghề này không? Do vậy, phải hát lên những câu "thơ Thần Thánh chữ" bằng cả trái tim với ánh mắt long lanh xúc động, với tất cả tấm lòng thành kính không màng vật chất, thì mới được "các Ngài" chứng tâm cho mà thành danh được.

 

 

Tuyên Quang mùa thu 2018

D.Đ.L

 

 









Lượt xem: 73 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   CUỘC HỘI THẢO VÀ HÀNG CÂY LƯU NIỆM. THÁI THÀNH VÂN - Đăng ngày:  08/11/2018
   HỒN LÀNG. TRUYỆN NGẮN CỦA TRIỆU ĐĂNG KHOA - Đăng ngày:  08/11/2018
   THƯ GIÃN. PHAN THIẾT - Đăng ngày:  22/10/2018
   BÊN DÒNG SÔNG TRÀ NÔ. PHẠM HOÀI PHỐ - Đăng ngày:  22/10/2018
   TỪ TÂN TRÀO, CHÚNG TÔI VỀ PÁC BÓ. GHI CHÉP CỦA LÊ NA - Đăng ngày:  22/10/2018
   SAU SÓNG VỖ LÀ BỌT BIỂN TAN. Truyện ngắn của TRẦN THỊ KIM BÌNH (TP Hồ Chí Minh) - Đăng ngày:  22/10/2018
   Tư liệu - Đăng ngày:  05/10/2018
   THỈNH THOẢNG LẠI NHỚ MỘT NGƯỜI. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN ĐÌNH LÃM - Đăng ngày:  05/10/2018
   VỢ CHỒNG LÃO QUÁI. TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ ANH MỸ - Đăng ngày:  05/10/2018
   VỀ MỘT MIỀN QUÊ HUYỀN THOẠI. TÂN ĐIỀU - Đăng ngày:  05/10/2018

Tổng số: 432 | Trang: 1 trên tổng số 44 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
11

Lượt truy cập:
373.894