CẢM NHẬN VỀ THƠ TUYÊN QUANG QUA MỘT TRẠI SÁNG TÁC. MAI LIỄU
Thứ 5, ngày 8 tháng 11 năm 2018 - 8:31

Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang vừa bế mạc Trại sáng tác Văn học sau hơn 10 ngày tập trung và đi thực tế sáng tác. Những trải nghiệm sống và thu hoạch sau chuyến đi về nguồn ít nhiều đã tạo được cảm xúc mới, tạo tiền đề cho sự ra đời tác phẩm mới.

Trại sáng tác nhận được 71 bài thơ của 12 tác giả. (Tôi nghĩ số lượng như vậy của một trại viết ngắn ngày là nhiều). Trong đó có 2 tác giả văn xuôi có làm thơ là Trần Thị Nhung (4 bài) và Nguyễn Thế Viễn (1 bài). Tác giả có nhiều bài nhất là Đào Xuân Thủy (15 bài); Triệu Đăng Khoa (2 bài); Nguyễn Đình Kiền (3 bài); còn lại từ 5 đến 7 bài: Đinh Minh Sơn (5 bài); Nguyễn Bình, Nguyễn Hữu Dực, Trần Xuân Việt (6 bài); Ngọc Hiệp, Trần Quỳnh Nga, Lê Na (7 bài).

Trong sáng tạo nghệ thuật, số lượng chưa nói lên điều gì, quan trọng nhất là chất lượng.

Được Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang mời đọc và trao đổi với các tác giả thơ, tôi có dịp gặp gỡ và trao đổi cụ thể với các tác giả thơ dự trại lần này -  tất nhiên chỉ với tư cách là một người đọc ít nhiều có thâm niên cầm bút!

Với các văn nghệ sỹ Tuyên Quang, dù lĩnh vực nào cũng vậy, đề tài cách mạng và kháng chiến luôn đeo đẳng trên vai mỗi người, nó vừa là trách nhiệm, vừa là tình cảm với quê hương, với hình bóng lãnh tụ dạn dày, gian khổ và gần gũi với nhân dân trong kháng chiến thuở nào:

“Ngòi Thia chân lội suối reo

Dòng sông Phó Đáy ngóng theo bóng Người”

(Mãi mãi trong tim - Đào Xuân Thủy)

“Cây đa, lán nứa vẫn nguyên

Neo vào huyền thoại một miền núi non”

(Tân Trào ngày mới - Trần Xuân Việt)

“Hồ Khuôn Pén, phách la đà

Tím loang con sóng, ngân nga chim rừng”

(Cơn mưa nguồn cội - Lê Na)

Từ quê hương Tân Trào đến với cội nguồn Pác Bó, các tác giả Tuyên Quang càng thấm thía với công lao và tầm vóc vĩ đại nơi hang sâu biên giới Cao Bằng:

“Hang Cốc Bó mấy màu ngâu

Vẫn lưu hơi ấm đêm thâu Bác nằm”

(Tìm về Pác Bó - Trần Quỳnh Nga)

“Vẫn nước chốn rừng sâu

Sống cùng người hôm sớm”

(Cốc Bó một ngày thu - Trần Thị Nhung)

Cảm hứng lịch sử, cách mạng và kháng chiến gắn liền với hình ảnh lãnh tụ thôi thúc mãi các cây bút Tuyên Quang. Nếu có điều kiện in riêng một tập thơ đề tài cách mạng và kháng chiến viết tại Tuyên Quang, viết về Tuyên Quang chắc sẽ lên đến nghìn trang in.

Tuy nhiên, nhìn lại các sáng tác về đề tài này từ trước đến nay cũng còn nhiều điều phải nghĩ thêm, cần bàn tiếp để những sáng tác sau không lặp lại, không mắc phải hạn chế của bài trước, của một số người khác:

- Trong số các sáng tác thơ về đề tài này có nhiều bài hay, xúc động nhưng cũng còn không ít những bài thơ thường kể lại, nhắc đến các sự kiện lịch sử đã qua, nên sa vào lối kể chuyện lịch sử lan man, rườm rà. Thơ không có tứ thì không thành thơ, dễ thành vè hoặc diễn ca vần vè, kể lể, không tạo được cảm xúc và ấn tượng cho bạn đọc. M.GoorKy cũng nhắc các nhà thơ trẻ: Hãy mau nhấc chân ra khỏi những vũng bùn của sự kể lể! Có thể nói: Kể lể là kẻ thù của thơ vậy. Làm thơ không có ý tưởng mới, không có xúc cảm thật sự và chân thành thì câu thơ dù có vần điệu chau chuốt đến mấy cũng vẫn là giả tạo, tình cảm giả tạo không gây xúc động cho người thưởng thức, vì nó cũ, nhàm và nhạt. Vần điệu dù cần thiết nhưng không bao giờ là cứu cánh của thơ.

- Không ít tác giả khá dễ dãi khi làm thơ. Dễ dãi trong lựa chọn ngôn từ, dễ dãi trong vần điệu; nhiều khi vì vần mà hay sinh ý, gò ý theo vần... đó là lỗi thường gặp của người mới làm thơ, nhất là thơ lục bát. Những từ ngữ sáo rỗng, đầy tính khái niệm khô khan cũng gặp nhiều trong sáng tác của một số tác giả. Việc diễn ý, ghép vần là cách làm khá quen thuộc của người làm thơ nghiệp dư. Làm thơ là công việc sáng tạo đòi hỏi người viết phải huy động tất cả năng lực ngôn ngữ và suy tưởng mới mong có được những câu thơ tỏa sáng, bay bổng và dư ba...

Bản thân đề tài quen thuộc không hạn chế khả năng sáng tạo của nhà thơ. Chúng ta cần và cần phải viết nhiều hơn nữa về truyền thống của quê hương nhưng viết như thế nào để tác phẩm có dấu ấn riêng của tác giả, là ý tưởng, cảm xúc riêng, không lặp lại, không mòn cũ, không hô hào, sáo rỗng lại là chuyện khác. Đó phải là sự trăn trở, nghiền ngẫm của người cầm bút mỗi khi đối diện với trang giấy, với bàn phím...

Ở trại sáng tác này, tôi nhận thấy ít nhiều cái riêng có của một số tác giả. Trước hết với Nguyễn Đình Kiền - một tác giả thơ từ trước đến giờ anh viết không nhiều, trại này cũng chỉ gửi 3 bài. Bài thơ Nghĩ về nhân vật Truyện Kiều, ít nhiều mang tính học thuật, nhẹ chất đời, nặng chất đạo:

“Phải chăng con tạo xoay vần

Phải chăng cuộc sống phong trần vậy ru?”

Bài Thế nào là nỗi cô đơn là cách viết khác, cách nghĩ khác, rất đời.

Tác giả nói là kỷ niệm từ thời chiến tranh nhưng tôi cảm thấy chuyện xảy ra đâu đó quanh mình. Con người, thậm chí chỉ hai người đi chung một chuyến xe nhưng họ “sợ hãi và cảnh giác” lẫn nhau. Để xóa đi cảm giác đó, một người thì lải nhải: “Hà Nội của tôi, Phố của tôi, Nhà của tôi”, một người thì “Mặc kệ, Phố và nhà của chị” và im lặng đốt thuốc... Bài thơ như một cảnh báo về xã hội hiện đại: Con người không còn tin vào nhau, không còn quan tâm đến nhau. Đó là một xã hội lạnh lùng, tàn nhẫn, thiếu sự chia sẻ theo đúng nghĩa người với người là bạn. Đó là nỗi cô đơn giữa đồng loại.

Tác giả gần như không cần huy động câu chữ, vần điệu gì cho việc làm thơ. Hình ảnh về ý tưởng được dựng lên như một trích đoạn phim: Dựng cảnh, dựng nhân vật với đôi nét khắc họa tính cách, qua đó... “dựng” tình huống như thúc vào ý nghĩ, cảm xúc của người đọc. Đó là lối viết của thơ hiện đại - thâm trầm và sâu sắc!

Triệu Đăng Khoa - một tác giả văn xuôi - với hai bài thơ khá đều. Tôi thích bài Người cày nương trên bản Giốc bởi câu chữ cũng giản dị, chân mộc. Khi người làm thơ không cố ý làm thơ thì thơ lại có mặt là thế. Bản thân cuộc sống đã bao hàm chất thơ rồi, vấn đề là ta biết phát hiện, khai lộ nó lên thôi.

“Người cày nương trên bản Giốc

Không quan tâm đến đoàn người đi du lịch

Cứ đi băng băng

Cứ mải miết cày...”

Ở đây theo tôi tác giả nên đảo cấu trúc câu thơ thứ tứ trong khổ thơ trên theo kết hợp động từ - tính từ của câu trước (cứ đi băng băng) thành cứ cày mải miết. Vì sự thay đổi cấu trúc (như tác giả viết) cũng không có dụng ý tu từ - ngữ nghĩa gì, ngược lại, câu thơ có nhiều vấp váp, thiếu sự nhuần nhuyễn.

(Nhà thơ Phạm Tiến Duật có câu thơ rất hay trong bài Tiểu đội xe không bánh: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Áp lực cấu trúc: Động (từ) - danh (từ) đột ngột chuyển sang cấu trúc động (từ) - trạng (từ) làm nổi bật tư thế của người chiến sỹ lái xe ra mặt trận!

Đó là một dạng ý của nhà thơ tài năng, một phong cách thơ độc đáo thời chống Mỹ).

Bài thơ “Người cày nương…” của Triệu Đăng Khoa kể về một việc bình thường, hàng ngày ở mảnh đất giáp biên có thắng cảnh nổi tiếng đã đề cập đến một vấn đề lớn lao, hệ trọng: Chủ quyền lãnh thổ quốc gia! Người cày nương cắm đường cày cũng là khẳng định chủ quyền ngàn đời của dân tộc, là cột mốc chủ quyền trong lòng dân vậy!

Tôi cũng có ấn tượng với chùm thơ của Trần Quỳnh Nga - một tác giả thơ trẻ của Tuyên Quang. Nói trẻ là nói về sự xuất hiện trong làng thơ tỉnh nhà với tư cách một tác giả thơ chưa lâu, chứ thực ra viết như những gì chị đã viết thì không dễ gì một sớm một chiều đạt tới bản lĩnh thơ như thế”.

“Cái thời vẫn gọi quê nghèo

Miếng ăn đứt bữa ruột bèo thân dưa

Cha dầm nắng mẹ dãi mưa

Đêm vơi ngày lép chỉ thừa gian nan!

                                      (Giọt quê)

Hay:

“Xuân qua rồi tới hạ sang

Lúa thơm mùa gặt nắng tràn bờ đê

Vít cong vai mẹ quang tre

Đường quê một thuở lối về rạ rơm”.

(Mẹ trong thơ con)

Trang thơ Quỳnh Nga, vần điệu và ngôn từ (ngữ nghĩa) chưa bao giờ phải hy sinh cho nhau. Vần gọi ý, ý mở vần, hòa quyện lung linh - nét dịu dàng, nhuần nhuyễn và tinh tế vốn là ưu điểm nổi trội của các nhà thơ nữ, làm nên chất nữ tính trong thơ họ. Thơ Trần Quỳnh Nga cũng không ngoại lệ:

Dấu vào tim tưởng nỗi nhớ thật sâu

Nhưng càng dấu lại càng dễ thấy

Ôi kỳ lạ, lẽ nào như vậy

Dấu ở trong tim là nơi dấu dễ tìm.

                             (Hoài niệm)

Tuy vậy, người đọc cũng chờ đợi ở tác giả này sự tung tẩy hơn nữa về ngôn từ; hiện đại, bất ngờ hơn nữa về tư duy và cấu trúc thơ, làm nổi bật hơn nữa nội lực còn tiềm ẩn trong một hồn thơ vốn dịu dàng, đoan trang và mực thước...

Tôi vui mừng trước sự bền bỉ theo đuổi một phong cách thơ thuần, nhuần nhuyễn; một thái độ lạc quan, trách nhiệm trong nhìn nhận và phản ánh cuộc sống của các cây bút “tiên tri” trong làng thơ Tuyên Quang, như Ngọc Hiệp, Nguyễn Bình, Lê Na và cả Nguyễn Hữu Dực. Thơ các anh nặng tình với quê hương, xứ sở, đôi khi cũng có cách tân ít nhiều (như Lê Na).

Tôi thích bài thơ ngắn của Đào Xuân Thủy có nhiều chi tiết thú vị, có hơi hướng liêu trai:

“Dốc đỏ xưa bãi tha ma

Chiều về nắng tắt đi qua rợn người

Đêm về gió đọng lá rơi!

Chập chờn đom đóm ma trơi lập lòe

Gồ ghề đường xóc nẩy xe

Hai bên cỏ rậm, te te gà rừng...”

Câu kết cũng rất gợi: 

“Dốc Đỏ nhịp sống tưng bừng

Một khu đô thị giữa rừng Tuyên Quang”

(Theo tôi, đầu đề bài thơ nên lấy tên là Dốc Đỏ hay hơn cái tên nghe rất sáo “Như có phép thần”).

Tôi khá ấn tượng với chất thơ trẻ trung, nhiều cảm xúc của Trần Thị Nhung:

Phố tương tư chẳng thắp đèn

Ta tương tư dấu hờn ghen riêng mình.

                                      (Thay lời giã biệt)

Không phải cái gì cũng cần đến ánh sáng mặt trời hay đèn cao áp mới soi tỏ được. Nhiều khi cuộc đời cần được nhìn bằng tâm cảm mới nhận ra.

Điệu Then buồn đêm nay

Trăng hạ tuần bên cửa

Áo Tày ai lần lữa

Giấc mơ theo sang ngày...

          (Đêm Cao Bằng)

Nguyễn Thế Viễn cũng trẻ trong cách nhìn:

“Sóng bảo vỗ bạc đầu

Chẳng phải già đâu nhé.”

...“Nước biển xanh tha thiết

Ai nhuộm tự bao giờ!”

          (Tâm sự với biển)

Cách nhập đề trực diện, không cần vòng vo, dạo đầu của Nguyễn Thế Viễn làm người đọc phải chú ý đến những gì tác giả sắp trình ra trong những câu thơ tiếp theo.

Điểm chung của thơ trại sáng tác này là phong cách thơ truyền thống luôn được quán xuyến trong lối viết của các tác giả. Đó cũng là đặc trưng nổi bật của thơ Tuyên Quang. Phong cách đó vừa là cái mạnh vì nó gần gũi với người thưởng thức tỉnh nhà, vừa là cái khiếm khuyết vì hạn chế trong việc hòa nhập với sân thơ cả nước, không khuyến khích được sự tìm tòi sáng tạo và đa dạng hóa phong cách sáng tác.

Thơ cần sự động viên, an ủi (không phải vỗ về) tâm hồn. Nhưng cao hơn, thơ là nỗi đau phận người!

 

 

Hà Nội, đêm 12/10/2018

M.L

 

 









Lượt xem: 16 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
16

Lượt truy cập:
373.894