ĐINH CÔNG DIỆP - BẠN BÈ MÃI QUÂY QUẦN BÊN ÔNG. TRỊNH THANH PHONG
Thứ 3, ngày 18 tháng 9 năm 2018 - 8:48

Nhớ lại ngày tổ chức Đại hội - Hội VHNT tỉnh lần thứ VI (nhiệm kỳ 2016 - 2021) trong giây phút tưởng niệm những hội viên đã khuất Ban tổ chức quên không nhắc đến tên ông… hội trường thì thầm…  Nhưng có sao! Không nhắc nghĩa là Đinh Công Diệp vẫn sống, vẫn đang vui vẻ cùng anh em dự đại hội. Vâng! Nói thế này mọi người đừng cho tôi mát mẻ, nhắc khéo điều gì bởi việc sơ suất lúc nghi lễ tránh sao được. Thực tế “Đinh Công tiên sinh” đã lên đường đi xa từ hồi tháng 3/2012 rồi. Ông đi trên con đường sinh tử tất yếu của mỗi kiếp người nhưng đấy chỉ là việc: “Thác là thể phách...” với bạn văn quê nhà ông vẫn ân tình, ấm áp, trẻ trung, vui vẻ ngày ngày. Thiết nghĩ ở xứ núi Tuyên Quang này không chỉ việc còn tồn tại Hội Văn nghệ mà còn người yêu văn, làm văn thì “ Đinh Công tiên sinh” còn đó. Nói vậy không phải ông là ngọn núi cao, quả đồi lớn hoặc bóng cây đại thụ gì. Ông chỉ là Đinh Công Diệp. Một con người vừa dễ dãi vừa khó tính, vừa chan chứa mọi bề trong sinh hoạt nhưng lại khắt khe, chặt chẽ trong mỗi chữ, mỗi dòng của văn chương.

Nhà văn Đinh Công Diệp (1942 - 2012). Ảnh của ĐINH CÔNG THỦY

 

Ông sinh trưởng ở Ninh Bình. Tốt nghiệp phổ thông cấp ba ông theo đoàn khai hoang lên Tuyên Quang vào những năm Tuyên Quang - Ninh Bình - Bình Thuận kết nghĩa. Ai mà biết được đi trong dòng người tìm quê mới ngày ấy ông nghĩ gì, mơ ước gì, có tính đến chuyện thành nhà văn không... Chịu, chuyện này tôi có may mắn được nghe ông kể lại trong một đêm chắc là ông giận vợ, tá vào chỗ tôi, hai anh em làm hết cút “nước trời” với vài củ lạc rồi lên cái giường một bo nhau nằm, chả ngủ được ông kể: “Mình đến với văn chương như cái nợ với đời ấy, chả ai bắt mà cứ hì hụi viết. Ngày mới theo đoàn khai hoang lên Tuyên Quang, mình trẻ, các bác ấy phân công vào tổ chăn nuôi - việc chính là chăn đàn bò. Tổ có ba người ở cùng cái lán trong khe núi. Ngày đi chăn bò, đêm về mình thức, giữa núi rừng u vắng thế là bật ra những câu văn. Mới đầu là những ghi chép ngắn, rồi thành bài dài. Đọc cho mọi người nghe ai cũng bảo hay. Vậy là mình hì hục chỉnh sửa rồi gửi cho Phòng Văn hóa, cho Ty Văn hóa, văn nghệ Việt Bắc. Bài nào gửi đi cũng được đăng. Bà con phấn khởi lắm, ai cũng chiều chuộng, động viên tạo thời gian cho mình viết. Để không phụ mọi người mình cần mẫn hơn, cũng may đời sống của những người đi lập quê mới đã tích tụ và hun ấm cảm xúc cho mình thế là các truyện ngắn đầu tay được viết ra như: Bước đầu, Tìm nước, Ao duối, Hương bạch đàn... mình gửi đi văn nghệ Việt Bắc và được in rồi được giải thưởng. Nhờ tiếng thơm này mình được tuyển dụng về Phòng Văn hóa Hàm Yên làm cán bộ tuyên truyền.  Ở Phòng Văn hóa Hàm Yên mình gặp bà Thanh Tình thế là giời se lại thành vợ chồng và mình lập nghiệp tại Tuyên Quang, sau đó cả hai vợ chồng được Ty Văn hóa Tuyên Quang lấy về, vợ mình làm Bảo tàng, mình làm biên tập viên cho tờ Văn Nghệ Tuyên Quang rồi chuyển sang Hội. Từ ấy đến giờ mình chỉ làm việc này và viết văn thôi...”. Câu chuyện dài dài kéo hai anh em vào giấc ngủ.

Quả từ ngày gắn bó với ông (1976) đến khi nhắm mắt buông bút (2012) ông chỉ làm có hai việc ấy. Với việc viết ông lầm lũi, cẩn trọng với từng con chữ (việc này xin nói trong phần truyện ngắn của ông). Việc biên tập ông luôn chu đáo với từng bạn viết, khách quan với từng bạn viết, ông không để cái tình lấn át cái văn. Người ông yêu mà văn dở vẫn bị ông xếp sang một xó, người ông ghét mà văn hay lập tức được ông nâng niu bày ngay lên mặt báo. Ông biết cái quyền của người biên tập rất to, có thể cắt đoạn này, thêm mẩu kia vào bài viết của tác giả nhưng ông không làm thế, ông biết giữ cái thần của người viết. Khi cần phải cắt bỏ đoạn nào trong tác phẩm ông đều ân tình mời tác giả đến hoặc trực tiếp đến gặp tác giả trao đổi kỹ lưỡng rồi mới dùng cái quyền của người biên tập vì vậy mỗi tác phẩm khi có chữ ký của ông ở lề đề nghị in là tổng biên tập rất an tâm. Thời ông làm biên tập văn xuôi, số báo nào cũng có cái truyện hay làm trụ. Ông bảo: - Muốn báo có thêm bạn đọc mình phải chọn được bông hoa đẹp làm nền, trên cơ sở đó bày ra các chuyên trang, chuyên mục làm cho tờ báo phong phú, tự nó lan rộng đến các đối tượng, các thân phận ở đời thì mới có ý nghĩa, người ta mới tìm để đọc... Từ mong muốn ấy ông thường năng động đề nghị ban biên tập mở thêm các chuyên trang, chuyên mục như: Văn nghệ với nhà trường, văn nghệ với nông thôn... rồi các chuyên mục Đời có người như thế, Văn nghệ và đời sống, Pháp luật và đời sống... Khi được ban biên tập đồng ý, ông biết dựa vào đội ngũ hội viên, cộng tác viên, phân họ vào các típ rồi động viên cổ vũ họ viết, nhờ vậy các chuyên trang, chuyên mục được duy trì và từng bước nâng cao. Báo được bạn đọc hưởng ứng. Ông được bạn viết nể trọng, ban biên tập tin cậy. Vậy nên mỗi chuyến đi làm báo xa hoặc đi công tác hội các đời lãnh đạo từ ông Gia Dũng, đến ông Phù Ninh, ông Mai Liễu và tôi đều phải đánh “ngựa” đến tận nhà rước. Thấy vậy nhiều người cứ đùa “tướng Đinh Công...” nói thì cứ nói vậy thôi, thực ra ông chả tướng quân gì hết, ông là Đinh Công Diệp. Người đủ bề thiệt thòi, đi đâu các tổng biên tập đều giới thiệu ông là trưởng ban biên tập nhưng có cái quyết định nào để ông được hưởng lương ở cái chức này. Ông biết mà không đòi hỏi, cứ cặm cụi làm, cứ vui vẻ hết mình. Đến đâu từ chỗ quan chức đến chốn dân thường, có ông mọi việc đều suôn sẻ, được chăm lo chu đáo nhờ vậy mà người đi cùng dễ tiếp cận đối tượng để hoàn thành bài viết mà cơ quan giao cho. Có lẽ đây là cái cớ để ông được “rước”. Ông tỏ điều này nên mọi vui buồn ông đều nói câu: “Vui”. Quả mọi việc đối với ông đều vui thật. Nhớ lại ngày tờ báo gặp nạn vì in cái kịch  Nhầm của Xuân Đặng. Cái kịch có một chi tiết độc. Ông quan tham nhũng nhận hối lộ trong đó có cái bu gà, vật hối lộ lại đem đến vào chiều ba mươi tết, khi người hối lộ về, vợ ông quan đưa cả cái bu gà lên bàn thờ...”.

Chi tiết này khi trình in, tổng biên tập đề nghị cắt bỏ. Ông bảo. Bỏ chi tiết này thì mất cái kịch, vì chi tiết này nó mới bộc lộ hết cái tham lam, ngu dốt của bọn tham nhũng. Thấy ông nói có lý, ban biên tập không cắt nữa. Khi báo in ra lập tức bị thổi còi, tổng biên tập bị kiểm điểm. Nhưng rồi sau đó tờ báo hết sạch, bạn đọc lại tung hô cái kịch ấy. Mọi việc rồi cũng qua, thời gian biết cái kịch này là do ông biên tập, chính người ra lệnh thổi còi khi gặp gỡ cũng chỉ vỗ vai ông cười. Ông cũng cười và nói to: Vui... chuyện về ông càng kể càng dài, càng rôm nhưng chỉ gợi vài nét để mọi người tỏ thêm “Đinh Công tiên sinh” là người như thế. Lúc nào cũng vui, lúc nào cũng quây quần bè bạn.

Giờ xin nói sang việc văn của ông. Như trên đã nói ông là người yêu văn, thờ phụng văn chương, dường như mỗi chữ mỗi dòng văn ông đều cẩn trọng, cái gì ông viết ra đều có vỏ, có lõi và qua cái lối văn rất hoạt, câu chữ lại sáng nên mỗi cái truyện của ông đều chín, chín như trái quả từ trong ra ngoài nên khi nó được bày ra ai cũng thích. Ông không viết nhiều, cả đời văn của ông chỉ xuất bản vài tập như Hương bạch đàn, Suối Tiên, Cô bé lắc chuông, Nghĩa địa đen, truyện ngắn Đinh Công Diệp và tiểu thuyết Chỉ mình em mặc áo đen với một bản tiểu thuyết còn để trong di cảo: Rừng có tiếng người. Những ngày ông nghỉ hưu, đôi khi tờ báo cần tôi vẫn động viên ông viết. Một bận đưa cái truyện Xóm thời mở cửa cho tôi ông vừa cười vừa nói: “Nể chú mày thì viết chơi thôi chứ không hay được nữa đâu, cái gì hay mình viết cả rồi, đời mình chỉ gắn trong cái xóm khai hoang và những ngày sống với cao nguyên đá, cái gì máu thịt đều chảy ra hết rồi, giờ không viết được nữa đâu...”. Tôi hiểu lòng ông và từ đấy không giục ông viết, không bắt ông đi trại sáng tác nữa. Ông ở nhà vui vẻ khi bạn bè ghé chơi, rảnh thì ông đọc và cứ cặm cụi tự tìm những sáng tác của mình chép lại, sửa lại và đóng thành từng tập. Truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, tạp văn... tập nào cũng đẹp nhưng không gửi đi in, không xin đầu tư mà xếp đặt ngay ngắn trên bàn. Nhiều người thấy vậy bảo ông là người “Chơi bản thảo” bảo vậy cũng là vui, cũng là quý ông, kính ông nhưng thực tế “Đinh Công tiên sinh” không nghĩ thế. Việc ông làm là xuất phát từ cái tâm của ông với văn chương, với những việc ông đã làm và những tập bản thảo được ông đóng lại kia là kết quả trong suốt một đời văn của ông. Ông biết nó chả là gì nhưng ông trân trọng nó. Mỗi lần đến chơi với ông, ngắm những tập bản thảo ông để trên bàn tôi tự nghĩ vậy và tự biết những tập bản thảo của ông không phải của bỏ. Một lần tôi mạnh dạn xin ông bản thảo tập truyện ngắn. Ông bảo: “Mượn đọc thì được chứ không cho”. Tôi mang tập bản thảo về đọc, thấy hay rồi lẳng lặng gửi Nhà xuất bản Hội Nhà văn, lấy tiền hỗ trợ phụ vào. Tập truyện in ra, Hội Văn học Nghệ thuật thiểu số Việt Nam trao giải B. Nhận giải về ông nghẹn ngào:

- Văn nó thương, cho mình tiền dưỡng già đấy. Cám ơn chú, cám ơn mọi người...

- Sao bác phải cám ơn chú, cám ơn mọi người. Văn bác hay thì được chứ, ai cho, công sức của bác đấy, tụi em xin chén rượu...

- OK, vui...

Ông vẫn thế, được thua đều vui vẻ. Ông làm văn không phải vì giải, văn ông là những trải nghiệm máu thịt của đời ông. Như ông từng nói: - Cái gì máu thịt mình từng trải nghiệm nó đều chảy ra hết rồi. Điều này rất đúng. Lật lại những sáng tác của ông đã xuất bản càng chứng tỏ điều này. Truyện của ông không bị cũ đi dù cái mới viết, cái viết đã xưa nhưng lúc nào mở đọc vẫn cứ thú ví như cái truyện Tết rừng ông viết lâu lắm rồi, truyện chỉ có ba nhân vật một người tuổi ngoại tứ tuần (có tên là Cầu) còn hai người chênh lệch nhau chút tý, họ độc thân và được hợp tác cử vào cái lán trong khe núi làm nhiệm vụ chăn bò. Do ba người cùng độc thân lại tâm đầu hợp ý nên việc nuôi bò rất hiệu quả. Được lãnh đạo hợp tác xã ưu ái, bà con quý mến, ba anh em ở với nhau, hai người trẻ luôn động viên và tìm cách gán cái cô Chiến cũng ở tuổi lỡ thì cho ông anh nhưng đều bị ông lảng tờ và có lần còn đỏ mặt dứ quả đấm vào mặt hai chú em - cấm không được nhắc tới chuyện này. Họ lặng lẽ ở với nhau trong cái lán. Năm hết, rồi tết đến xóm khai hoang nhà nhà tấp nập, chỉ có cái lán của ba anh em là tẻ, tẻ nhưng do thành tích lao động từ kết quả việc nuôi bò nên được hợp tác xã và bà con chia cho nhiều thịt, nhiều gạo. Ngày ba mươi Tết nhìn rổ thịt, rá gạo đầy mà chưa biết xoay sở kiểu gì. Thế là hai chú em nghĩ ra mẹo, kéo cô Chiến vào giúp. Tình thế bắt ông anh phải chấp nhận, không chấp nhận thì gạo ôi, thịt thối... Khi cô Chiến xuất hiện, dưới sự chỉ đạo của cô mọi việc được ra tay, người đãi gạo, người pha thịt để chuẩn bị cho Tết. Khi việc vào độ hên, hai chú em tinh quái bỏ đấy với lý do rất chính đáng vào rừng lấy cây giang về làm lạt. Vừa nói hai chú em vừa lủi đi, cô Chiến và ông anh chơ ra đấy. Vậy là chuyện bén dần, người pha thịt, người cọ rửa lá dong rộn dần. Đến lúc hai chú em vác hai khúc cây giang về thì rổ thịt đã vào món, xương ra phần xương, nạc ra phần nạc, mỡ ra phần mỡ, gạo cũng vo xong, lá cũng cọ sạch, hai chú em tủm tỉm cười rồi pha những ống giang chẻ lạt, việc xong họ cùng vây quanh cái nong gói bánh, bó giò... Việc hòm hòm hai chú em lại tinh quái lỉnh đi, cô Chiến và ông anh lại loay hoay bó giò, gói bánh, giàng giò để luộc. Chắc là lạt dẻo, tự nhiên hai người cùng quấn vào nhau... Khi lửa nồi bánh, nồi giò rực lên, mọi sự cũng rực lên thế là anh ả bế nhau lên cái chõng gần ngay cửa bếp, lửa bánh, lửa tình cùng sôi lên ùng ục. Hai chú em về thì chỉ nghe thấy tiếng họ rên...

Sau này hai người nên gia cư, rồi lập ra cái xóm trong khe núi. Gọi là xóm Ông Cầu (tên ông anh cả trong truyện). Giờ xóm còn đó và đông đúc. Qua chuyện thấy bật ra ý tứ. Những người đi khai hoang đã tự bàn tay mình lập nên gia đình, nên vùng quê mới - góp cho đất nước, quê hương thêm những tên làng, tên xã. Nhờ vậy dù cốt truyện giản dị nhưng nó luôn mang đến cho người đọc cái mới, cái vĩnh cửu. Truyện của ông dễ đọc, cốt đậm, mạch truyện nét, tình tiết truyện sáng, văn ông lại hóm và hoạt. Nói vậy không phải tôn ông mà cái có trong văn ông tự nói điều này. Đọc lại truyện ngắn Lùng tù càng tỏ thêm điều đó. Nội dung câu chuyện rất gọn: Một cậu trai người Mông, sinh trưởng trong một gia đình kha khá ở Hồ Giàng. Cậu bé kháu khỉnh, khỏe mạnh, được bố mẹ đặt cho cái tên đẹp: Vàng Mý Lùng. Mý Lùng càng lớn, càng đẹp giai, mười lăm tuổi đã cưới được cô vợ kháu nhất Hồ Giàng. Cưới được vợ giời lại cho ngay mỗi năm một đứa con, một giai, một gái, vợ chồng sung sướng, tu chí làm ăn, ngô bắp đổ về nhà mỗi ngày một nhiều, lợn gà, trâu ngựa sinh sôi mỗi ngày một nhiều. Mý Lùng tự hào và để bỏ cái tên là Mý Lùng, cậu làm cái lễ to mời cả dân Hồ Giàng đổi cái tên Vàng Mý Lùng thành Vàng Lử Lùng. Dân Hồ Giàng ai cũng nể trọng, coi Vàng Lử Lùng là thần tượng. Cái tên mới như tôn cao Lử Lùng lên, Lử Lùng lại có khiếu ăn nói hoạt thế là được người Hồ Giàng tôn lên làm xã đội phó. Được làm quan cách mạng Lử Lùng rất gương mẫu, việc gì ra việc ấy, làm đổi mới nhiều nếp ăn, nếp ở của Hồ Giàng, dân Hồ Giàng càng kính nể Lử Lùng. Tên tuổi Lử Lùng càng sáng, sáng che mờ cả hình bóng ông xã đội trưởng. Lử Lùng mẫn cán với nhiệm vụ được giao, Lử Lùng quyết tâm làm cho Hồ Giàng ngày càng đổi mới, chỉ có người tốt, không có người xấu. Một hôm trên đường từ trụ sở về, Lử Lùng chợt nhớ cái túp lều của lão Chột, một tay nghiện hút lại nuôi chứa kẻ nghiện hút để được lợi. Lử Lùng đánh ngựa phăm phăm đến định bắt gọn nhưng không ngờ lão Chột lại lắm mẹo thế là Lử Lùng bị lão bẫy vào việc hút hít. Hút hít mãi rồi thành con nợ của lão, Lử Lùng liều khi gặp con bò của dân, Lử Lùng bắt con bò đánh qua biên giới định bán lấy tiền trả lão Chột, bị dân bắt được, Lử Lùng thành tên trộm và bị xử tù. Ra tù Lử Lùng quyết phục thiện, nhờ những ngày ở tù học được cái nghề rèn, Lử Lùng hỳ hục sắm bễ và bắt tay vào việc. Rèn được con dao, cái cuốc bán nhưng vì con nghiện vẫn bám theo, được đồng nào đều chui vào cả cái lỗ tẩu, việc bỏ bễ, thế là mất việc. Mất việc lấy gì để có thuốc thả vào cái tẩu. Lử Lùng tính quẫn rồi bán hết của nả, ngựa trâu trong nhà, bán cả cái váy lanh của vợ để hút. Vợ Lử Lùng bất lực phải bỏ bố con Lử Lùng đi quả núi khác tự làm ăn. Cảnh cùng quẫn, Lử Lùng hết lối đành chui vào cái thòng lọng tìm cái chết. Khi cái cổ của Lử Lùng bị cái dây da thít dần lại thì bên tai Lử Lùng vang vọng tiếng người, như có phép tiên, cái sợi thòng lọng lỏng dần ra, Lử Lùng nhìn thấy vợ con và đôi mắt dần dần mở ra.

Toàn bộ nội dung câu truyện chỉ có vậy nhưng nhờ cốt truyện đậm, mạch truyện thông, tình tiết truyện sáng, văn ngữ mạch lạc nên có sức cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Nói tình tiết truyện sáng là thực. Trích vài ý sau là rõ. Đoạn ông tả Lử Lùng vượng chỉ gọn vài dòng: “Gió thổi trong khe bao giờ cũng mạnh. Lử Lùng mạnh như ngọn gió ấy. Vợ Lử Lùng đẻ thì nương ruộng cũng theo vợ anh đẻ thêm. Hạt bắp hạt lúa về nhiều nên con trâu con ngựa cũng lắm...”.

Đoạn ông tả Lử Lùng phê thuốc: “Lử Lùng kéo thêm một điếu nữa, khi đầu anh rũ xuống, cánh mũi phập phồng những nước và mồ hôi, thớ tim, thớ gan muốn kéo cả ra ngoài. Rồi vợ anh đến, ấy, sao vợ anh lại thành cái Mỷ, cái Say? Chúng nó không mặc váy, tất cả đều cởi truồng, trắng nõn mà như cột nhũ trong hang đá. Những cột nhũ ấy bỗng chốc tan ra thành thứ nước lạnh. Lử Lùng biến thành cây gỗ trôi bồng bềnh trên nước...”.

Rồi chi tiết ông tả Lử Lùng chui vào cái thòng lọng dây da: “Sương mù đổ xuống mỗi lúc một dày thêm. Đêm trở nên buốt lạnh và cô độc... Lử Lùng như nhìn thấy nấm mồ của lão Chột. Anh nghiến răng: Tao sẽ đi tìm mày...”. Lúc này ta thấy cái cốt truyện của ông như rung lên giữa bão gió. Nhưng khi cái thòng lọng thít dần lại và tiếng người vọng lên... Lùng Tù nhìn xuống thì thấy vợ, cả ba đứa con nữa. Giọng người đàn bà rầu rĩ: Anh đừng chết... Lúc này lại thấy trên giời đám mây chậm chạp trôi, ông trăng có dịp đưa ngàn cánh tay xuống, cầm lời nói của con người, nhờ vậy mà Lử Lùng nhìn rõ mặt vợ mình, con mình, cái dây trên cổ lỏng ra. Lập tức lại thấy cốt truyện lừng lững đứng giữa bão giông. Gấp sách lại vẫn thấy cái cốt truyện như cái cột đá giữa cao nguyên, mạch truyện như nước từ đá rỉ ra, tình tiết truyện như những hạt cát sáng làm cho cái cột lóng lánh. Đọc lại vẫn thấy lạ. Có thế mới nói: “Cốt truyện của ông đậm, mạch truyện thoáng, tình tiết truyện sáng là vậy”.

Trọn một đời cầm bút Đinh Công Diệp đã để lại nhiều trang văn hay nhất là thể loại truyện ngắn. Bên cạnh thể loại này ông còn nhiều trang bút ký nóng bỏng trên mặt Báo Tân Trào và những tiểu thuyết sinh động góp vào làm phong phú dòng văn chương quê nhà rồi hòa cùng dòng chảy của sông Lô, sông Chảy rì rầm ra biển. Nói vậy không hề quá nhời, bởi những ngày trên trần thế tại ngôi nhà trên đỉnh đồi gần chỗ đài khí tượng ngày ngày vẫn là địa chỉ để bạn yêu văn chương tìm đến. Vậy mới nói: “Ở xứ Tuyên Quang này không chỉ việc còn tồn tại Hội Văn nghệ mà khi còn người làm văn chương, yêu văn chương thì “Đinh Công tiên sinh” còn đó.

 

 

Những ngày tháng 10/2017

T.T.P

 









Lượt xem: 68 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
14

Lượt truy cập:
372.847