CẢM NHẬN TỪ TIỂU THUYẾT LẦM LẠC CỦA PHÙ NINH. HÀ LINH
Thứ 2, ngày 4 tháng 6 năm 2018 - 7:31

 

Đầu tháng 4 vừa qua, tiểu thuyết "Lầm lạc" (Nhà xuất bản Công an nhân dân) của nhà văn Phù Ninh vinh dự được trao giải sáng tác văn học Cây bút vàng lần thứ 3 do Tổng cục Chính trị CAND, Nhà Xuất bản CAND, Chi hội Nhà văn Công an tổ chức. Đây cũng là tác phẩm được Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh xếp loại A khi xét chất lượng các tác phẩm văn học nghệ thuật tỉnh năm 2017.

Bản thảo Lầm lạc ban đầu có tên là Mầm loạn, phản ánh rất sinh động cuộc sống, bản sắc và suy nghĩ của đồng bào Mông trong một khoảng thời gian dài, không gian tương đối rộng.

Tiểu thuyết gồm 2 phần: Phần một xoay quanh nhân vật chính là chúa đất Thào Chúa Đà và phần hai xoay quanh nhân vật chính Thào Chúng - cháu nội Chúa Đà. Mỗi phần là những câu chuyện với bối cảnh lịch sử riêng, nhưng vẫn logic nhau bởi quan hệ huyết thống ông cháu Chúa Đà - Thào Chúng và những phát triển tâm lý nhân vật.

Thào Chúa Đà là con trai thứ của Thào Dúng Vàng và là cháu nội Thào Sảo Ná. Vốn Sảo Ná là dân nghèo, vì bị áp bức bóc lột phải bỏ đất mà đi. Sau may mắn bắt được vàng, lại lấy được vợ giỏi buôn bán nơi phố chợ nên trở thành giàu có. Từ đây, cuộc sống, nghĩ suy của những con người trong nhà Sảo Ná định hình nét nham hiểm, gian hùng của kẻ mạnh coi tiền bạc là giá trị. Chính vì thế, anh em Thào Dúng Vàng - Thào Séo Quả mới tìm cách loại trừ nhau để hưởng gia sản và ngoi lên thành chúa đất. Thào Dúng Vàng trở thành chúa đất với tất cả sự gian tham, hiểm ác, tàn nhẫn, sẵn sàng cướp ngựa, cướp đất, cướp vợ người khác; đến tra tấn, hành hạ người ăn kẻ ở...

Có thể nói, tiểu thuyết Lầm lạc là một "kho tàng" chất liệu sống động cho thấy cuộc sống, tâm hồn, nếp nghĩ của người Mông với lối viết chắc tay mà không kém phần mềm mại, uyển chuyển.

Người đọc được đắm mình trong phong cảnh cao nguyên nơi sinh sống của đồng bào Mông. Nhiều trang viết về cảnh sắc núi rừng, về hoa, về ngựa, về tâm tư người đang yêu khiến người đọc thấy rung động. Nhiều trang viết đem đến người đọc những cảm xúc đẹp như viết về nỗi niềm chàng trai Mí Páo bị chúa đất cướp đi người phụ nữ xinh đẹp, nỗi niềm Giàng Mỷ khi được sống những phút giây hạnh phúc hiếm hoi cùng người yêu thương, nỗi niềm người mẹ khi thấy con gái Thào Sa giải quyết nỗi uất ức bằng lá ngón...

Người viết tỏ ra am hiểu cuộc sống, phong tục đồng bào Mông qua những trang viết về cách nhận biết ngựa hay, về bài ca người phụ nữ Mông, về các nghi lễ đám ma, lễ dựng nhà, lễ vào nhà mới hay lễ cúng đầy tháng trẻ con...

Trong truyện, có hình ảnh hang Cốc Chủ là một dạng luật lệ của chúa đất người Mông Chúa Đà. Hang được dùng để giam giữ, trừng trị người không nghe lệnh, giúp chúa đất duy trì quyền lực, vơ vét tài sản và thống trị dân chúng. Cái chết của Mí Páo - người yêu Giàng Mỷ và các chàng trai từng đi cứu Mí Páo trong hang chính là một cách duy trì luật lệ của Chúa Đà.

Cách mạng về, Chúa Đà bị khuất phục như một tất yếu, rồi bỏ quê quán tha hương nơi nước người. Cuộc sống khốn khó và cái chết của Chúa Đà cũng như một tất yếu cho kẻ gian ác tàn độc một thời.

Nếu ở phần một, những câu chuyện cho thấy một chúa đất tham lam, tàn độc, nham hiểm thì ở phần 2, nhân vật chính Thào Chúng, cháu nội Chúa Đà được khắc họa đến mức độ cao hơn của sự nham hiểm. Được sinh ra khi cha mẹ, ông bà tha hương, Thào Chúng ấp ủ mối thù mất đất nơi cố quốc, trở về để phục thù. Được học hành đến đại học ở Côn Minh, Thào Chúng vừa lắm mưu mẹo để đối phó với chính quyền, nhiều thủ đoạn để lừa gạt đám đồ đệ, lại nhiều mánh khóe lừa phỉnh để chiếm đoạt phụ nữ. Không hề ra  mặt, nhưng Thào Chúng vẫn lôi kéo, xúi giục, hình thành được mạng lưới đồ đệ là những người Mông nhẹ dạ cả tin thiếu hiểu biết để chống phá chính quyền. Từ đây những mầm loạn được nhen nhóm, nuôi dưỡng. Những lý lẽ phản động với những câu chuyện nhảm nhí về Vàng Chứ, về nhà đòn, chim én, con ve sầu, con cóc... được râm ran len lỏi vào từng nhà xúi giục người Mông. Bà con vứt bỏ bàn thờ tổ tiên, bỏ sản xuất, trả lại thóc giống do Nhà nước hỗ trợ, không nhận thẻ cử tri đi bầu cử, không cho con cái đến trường, thậm chí có đảng viên xin ra khỏi Đảng...

Những trải nghiệm của nhiều năm công tác vùng cao và nhãn quan chính trị của người viết đã tạo nên những trang sách sinh động, giàu kịch tính về quá trình hình thành tổ chức bất hợp pháp cũng như cuộc đấu tranh dẹp bỏ mầm loạn, giúp đồng bào Mông bớt bị lợi dụng, lầm lạc theo tà đạo. Những vấn đề tôn giáo, dân tộc vốn vô cùng nhạy cảm đã được đề cập, giải quyết thấu đáo. Nhiều trang viết trong phần này là cuộc đấu trí cam go của chính quyền địa phương với kẻ đang gieo mầm loạn, nhằm bảo vệ cuộc sống an lành của đồng bào Mông.

Nếu ở phần một có hình ảnh hang Cốc Chủ đại diện cho luật lệ của Chúa đất Thào Chúa Đà, thì ở phần hai có hình ảnh chiếc barie do chính quyền lập nên để thông báo vùng có dịch trên đường vào xã Tùng Sán. Đây chính là một đối sách của chính quyền địa phương để ngăn chặn các mầm loạn tụ tập đón Vàng Chứ. Luật lệ của chính quyền đã được thể hiện trong hệ thống văn bản pháp luật. Nhưng với bà con dân tộc Mông đang bị kẻ xấu kích động cần những giải pháp hết sức có lý có tình và mềm mỏng.

Người viết đã rất kỹ khi xây dựng nhân vật. Sách chứa đựng một khoảng thời gian không ngắn, với hệ thống nhân vật rất phong phú, phức tạp; nhưng mỗi người vẫn được khắc họa rõ ràng với tính cách, suy nghĩ, cách nói năng riêng, đồng thời mang điểm chung không hề trộn lẫn của người Mông. Các tuyến nhân vật đều hợp lý từ dung mạo đến diễn biến tâm lý, tính cách, và đều được gắn với những câu chuyện, tình huống cụ thể nên giàu sức thuyết phục. Có sự tính toán của người hiểm ác, tàn độc (Chúa Đà, Thào Chúng) bên cạnh sự ngu ngơ của người nhẹ dạ cả tin (Seo Lử, Se Chơ). Có sự quyết đoán, mềm mỏng của người lãnh đạo (Chủ tịch huyện Mí Chảng, Chủ tịch xã Hoàng Điền) bên cạnh sự hung hăng, manh động của những mầm loạn (bọn Dúng Nô, Vản Sình). Lại có cả sự giằng xé giữa tiếng gọi của trái tim với bản chất phục tùng buông xuôi của người phụ nữ Mông khi rơi vào tay Chúa đất (Giàng Mỷ), giằng xé giữa bản chất phóng túng với nỗi ân hận đã cướp chồng của chị gái (Thào Mỷ)...         

Những người đàn ông Mông từ phản diện đến chính diện, từ chúa đất tàn độc khét tiếng đến chàng trai đinh tài giỏi chan chứa lòng yêu, từ vị chủ tịch xã ngày đêm trăn trở vì dân đến những "mầm loạn" nghe kẻ xấu lôi kéo... đều được hiển hiện trong mắt người đọc khi là chiếc mũ nồi, bộ tà pủ, khi tay cầm dây cương ngựa, cầm cuốc, hay cầm chén uống say rất đặc trưng.

Đặc biệt kỹ trong phần nói về "mầm loạn", nên cuốn sách giàu sức thuyết phục, tuyên truyền, giáo dục đồng thời cảnh báo về những vấn đề cần quan tâm hơn đối với vấn đề an ninh trật tự vùng dân tộc, vấn đề đại đoàn kết toàn dân. Cuốn sách đến trang cuối gợi cho người đọc ám ảnh về một một câu hỏi lớn: Làm sao để ổn định cuộc sống cho đồng bào? Quan tâm như thế nào để bà con vừa có cuộc sống no đủ, vừa không mất đi tập quán, nếp sống lâu đời? Người viết đã khéo léo nêu vấn đề đó trong câu chuyện về Chủ tịch huyện Mí Chảng. Rất thành công trong vận động bà con làm mương thủy lợi trồng lúa nước, tính trước việc đóng cối xay thóc cho bà con, nhưng không lường được việc ruộng lúa thì không trồng được rau cải, rau bí, rau dền... Hình ảnh tập tài liệu sửa chữa công trình thủy lợi cất vào đáy tủ của chủ tịch huyện như một thông điệp về sự thất bại trong việc vận động đồng bào Mông. Bà con người Mông chất phác, hồn hậu có thể nghe theo lời cán bộ để nô nức địu con, cơm nắm đi làm thủy lợi; nhưng cũng sẵn sàng quay lưng nếu thấy việc cán bộ bảo làm không phục vụ cuộc sống của đồng bào.

Nói về những mầm loạn, cuốn sách nêu một vấn đề quan trọng: Đằng sau tên đạo trưởng Vản Sình chắc chắn còn có kẻ chủ mưu và sự tiếp tay của thế lực phản động ở nước ngoài. Sẽ phải truy lùng tung tích chúng để chặt đứt mầm loạn, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Đó phải chăng cũng là những vấn đề mang tính thời sự trong thực tiễn cuộc sống ở đâu đó vùng đồng bào Mông hiện nay.

Tuy nhiên, vẫn hơi tiếc cho phần 2. Có vẻ như tác giả dành nhiều tâm sức hơn cho những tình tiết, câu chuyện về mầm loạn nên phần này thiếu mất vẻ mượt mà, hấp dẫn. Dường như sự chú tâm miêu tả những việc làm của chính quyền để dẹp bỏ mầm loạn đã làm thiếu vắng những trang viết về tâm tư, cuộc sống, bản sắc của đồng bào Mông - vốn là những ưu điểm rất đáng kể đã thấy ở phần một. Người đọc có thể hình dung rất rõ ràng cảnh sắc cao nguyên vùng cao nơi mấy đời chúa đất xưa kia sinh sống; nhưng mường tượng về cuộc sống và quê hương của người Mông sau chiến tranh biên giới trong phần sau của tiểu thuyết còn mờ nhạt.

Mặc dù vậy, tiểu thuyết Lầm lạc vẫn là một cuốn sách thú vị, vừa giàu chất văn chương, vừa mang tính thời sự. Có người đã từng nói: Cuộc sống có những vấn đề chỉ văn học mới giải quyết được. Tiểu thuyết Lầm lạc chuyển tải thông điệp về một vấn đề mang tính chính trị không ít phức tạp bằng một lối viết mềm mại, sinh động và gần gũi với cách cảm, cách hiểu của người đọc, đặc biệt của người dân tộc Mông. Có lẽ đó chính là điều đưa cuốn sách đến với giải thưởng Cây bút vàng, khiến người đọc thêm mến yêu và có trách nhiệm với cuộc sống và cộng đồng các dân tộc quê mình.

 

H.L

 









Lượt xem: 133 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
57

Lượt truy cập:
368.502