CHỊ TÔI. TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUY VÂN
Thứ 4, ngày 2 tháng 5 năm 2018 - 8:10

     ...Mười bẩy tuổi chị lấy chồng

Thân cò lặn lội mênh mông cõi người.

     Những là nước mắt đầy vơi

Dành cho em cả một trời yêu thương...

                                      (Chị tôi)

 

Tôi nhận được điện thoại của đứa cháu: “Mẹ cháu đang hấp hối, cậu về ngay”, mặc dù biết trước điều này, vẫn thấy bàng hoàng. Vậy là chị đã tới cõi vĩnh hằng thật rồi sao!

Hơn một tháng trước, tôi đã nhận bức điện tương tự: “Mẹ cháu rất nguy kịch, cậu về ngay”. Lần ấy, tôi và anh trai công tác xa nhà, về. Chị đang thoi thóp thở. Tôi nhìn vào mắt chị, đôi mắt chưa dại hẳn. Tôi gào lên, chị nhận ra em không, hai hàng nước mắt chảy ra. Chị như thoáng nhận ra, nhưng không nói được. Tôi hỏi đứa cháu:

- Mẹ cháu bị thế này lâu chưa?

- Năm ngày gần đây, mẹ cháu ăn kém lắm. Định điện cho cậu, nhưng nghĩ như nhiều lần trước, các cậu về mẹ cháu tỉnh lại. Nên chần chừ mãi mới dám điện.

- Cũng may, cậu về thấy mẹ cháu chưa nhắm mắt xuôi tay, cũng an ủi phần nào.

Gần chị được mấy ngày, chị dần dần tỉnh lại. Tôi nói với các cháu: Vậy là mẹ cháu vẫn chưa hết cơm hết gạo, chắc cũng chẳng còn mấy nữa. Nhận được người thân, chứng tỏ đã hồi lại. Sống đến tuổi chín lăm đã là cái phúc lớn lắm rồi, làng này mấy ai được như thế. Chỉ những ai “hữu thi thư khí, sinh tử tất hiền, háo sơn thủy tình, kì nhân đa thọ”. (Người mang khí thi thư, ắt sinh con cái hiền thảo, ai nặng tình sông núi, thì được sống lâu). Mẹ các cháu cũng được xếp vào người như vậy. Thấy chị đã tỉnh lại, cả nhà đều mừng. Tôi bảo anh trai:

- Việc chăm sóc chị đã có các cháu, anh em mình cũng phải đi thôi, ai lại ở nhà chờ chị chết bao giờ.

Hôm đến, chào chị để đi, chị để các cháu đỡ ra tận thềm, nhìn anh em tôi. Tôi quỳ xuống đặt tay lên hai đầu gối xương xẩu của chị, nhìn vào mắt chị, nói:

- Chị gắng ăn uống, chúng em đi đây. Chị gật đầu. Còn một câu chị nói đi, chỉ nghe được câu ấy chúng em đi mới yên lòng được. Chị đặt bàn tay lên cánh tay tôi, không nói gì.

Tụi trẻ hỏi tôi: - Câu ấy là câu gì cậu:

- Không biết bao nhiêu bận, mỗi lần về quê cậu đều đến thăm mẹ cháu. Lần nào mẹ cháu cũng bảo: - Cậu ở đây với chị để các cháu nấu cơm ăn no rồi hẵng đi. Lần này không còn sức để nói câu ấy, tức là đã gần cõi về lắm rồi. Các cháu phải chăm bẵm mẹ cẩn thận. Phải xem đây là những giây phút cuối cùng được gần mẹ.

- Cậu đi, cứ yên tâm ở tụi cháu.

- Có gì điện cho cậu ngay, không được chần chừ dù chỉ là một giây.

Lần này, trên một trăm cây số, cho dẫu là đi bằng xe máy, liệu có kịp chứng kiến phút giây cuối cùng của chị không! Trong lòng trào lên nỗi xúc động, nước mắt chảy ra.

 

Minh họa: Quảng Tâm

 

Đối với tôi, chị không chỉ là người chị, còn như là một người mẹ vậy. Khi tôi hỏi về cái chết của mẹ. Chị thảng thốt kể lại cho tôi nghe, cứ như chuyện mới xẩy ra vậy:

Năm ấy, vào dịp Tết Nguyên đán, cả nhà sang ăn khao thọ ông trưởng tộc, sáu mươi tuổi. Ngày ấy làng này không đông người như bây giờ. Người thọ đến bảy mươi cũng hiếm. Khao thọ diễn ra trong ba ngày, thuê cả gánh hát trong ba đêm. Mẹ mới sinh em chừng ba tháng. Sức khỏe rất yếu, có thể vì năm trước nhà mình bị hỏa hoạn, phải ăn nhiều gạo từ lúa cháy dở dang, không có chất nên sữa cho em bú ít. Cũng có thể do mẹ sinh con nhiều, em là thứ tám. Ba tháng, mà em không nhỉnh ra được mấy. Đã vậy mẹ lại là trụ cột trong gia đình. Mẹ bán buôn hàng tấm, xuất đi nhập về, trong nhà chất đầy vải. Cuộc sống của cả nhà trông vào nghề buôn hàng tấm của mẹ.

Cả nhà đi ăn cỗ khao, chỉ mình mẹ ở nhà vừa cho em bú vừa nằm nghỉ.

Khi bố bảo chị:

- Cái Ngùy về nhà trông em để mẹ sang ăn cỗ.

Về thấy mẹ và em đang nằm ngủ, chị không nỡ đánh thức dậy. Chị nhớ có lần mẹ dặn: - Khi thấy mẹ nằm ngủ cấm đứa nào đánh thức dậy.

Tất tưởi cả ngày, giấc ngủ đối với mẹ quý như vàng.

Khi bố giục: - Ngùy con về xem mẹ dậy chưa?

Chị vội vàng về, thấy em khóc thét, quậy đạp. Mẹ nằm bất động, không thấy mẹ như thế bao giờ. Chị hoảng lên, vội chạy vào, sờ lên trán mẹ thấy lạnh toát. Chị gào to: Bố ơi! Các ông, các bà ơi! Mẹ cháu làm sao ấy!

Bố, rồi anh, em, cô, bác từ nhà đám chạy đến. Dì Thuần bế em đi. Bố ôm lấy mẹ lay. Mọi người húm vào, tìm cách cứu chữa, nhưng không kịp. Mẹ đã chết! Mẹ bị cảm nhập tâm, không có người biết. Biết đã quá muộn.

Chị ân hận cho đến tận bây giờ. Sao lúc về lần đầu không đánh thức mẹ dậy! Đánh thức dậy, mẹ đã không chết, không để lại cho bố cả một đàn con côi cút! Đứa lớn nhất hai mươi tuổi, đứa nhỏ nhất ba tháng tuổi. Chị ân hận lắm. Bố  khuyên chị:

- Con không có lỗi gì hết, người ta sống chết có số, không tránh được đâu.

Năm ấy, mẹ bốn mươi ba tuổi, kém bố mười tuổi. Bố ở vậy nuôi cả đàn con mồ côi mẹ, cho đến hết đời.

Ngày ấy, có một người buôn vải cùng mẹ, lấy chồng chưa có con, chồng chết. Nói với bố: Tôi với bà nhà ông là chỗ thân thiết. Bà ấy không may ra đi. Tôi tự nguyện đến ở cùng nuôi nấng đàn con ông. Tôi có gì không phải sẽ tự ra đi không cần ông phải đuổi.

Anh em nội tộc, người đồng ý, người không. Chị gái cả phản đối quyết liệt nhất. Bố nghĩ cảnh vợ nọ con kia lành ít, dữ nhiều nên nghe lời chị cả. Chỉ cảm ơn người đàn bà ấy. Cả một đời bố làm lụng nuôi con. Khi bố mất năm chín mươi ba tuổi, chị cả chỉ khóc một câu: Con là đứa con đại bất hiếu. Bố ơi!

Nghe lời chị cả, bố đã sống góa bụa bốn mươi năm trời. Không có bất kỳ điều tiếng gì với dân làng, hơn thế còn lấy thuốc nam chữa bệnh cho bao nhiêu người, không lấy của ai đến một xu.

Chị không muốn kể những năm tháng ấy gia đình mình gian nan, vất vưởng. Chỉ biết anh em đùm bọc nhau để sống. Bố cũng mới chính thức bước vào cuộc mưu sinh. Đi làm thuê, rồi buôn gỗ, buôn trâu. Chị cả theo nghề của mẹ nhận vải của người ta về bán. Nhận ruộng của các nhà giầu  cấy thuê, no đói có nhau.

Chị năm ấy mười ba tuổi, bố giao cho việc chuyên ãm em đi xin bú. Mà cũng lạ em chỉ theo mình chị, cả khi ăn, khi ngủ, còn anh chị khác bế em đều không theo. Nhiều lần đi xin bú không được, nhà có con nhỏ đi vắng. Em đói sữa khóc ngặt nghẽo, không ít lần cả chị lẫn em đều khóc. Khi có người mách, nấu cháo gạo nếp, chắt lấy nước, pha một chút đường cho em bú khi không xin được sữa. Chị làm vậy, em được ăn no không quấy khóc nữa. So với những đứa trẻ cùng tuổi, được bú mẹ, em chỉ bằng nửa chúng, như miếng rẻ rách vắt vai ấy. Nhìn em, nhìn con người ta chỉ muốn chảy nước mắt.

Năm em lên hai tuổi, chị cho em uống nước, uống nhầm phải nước bồ kết gội đầu, không biết. Đêm ấy em đi ngoài dữ dội, bố cho uống thuốc gì cũng không cầm. Bố bảo chị:

- Em chắc không qua đêm nay đâu, con ãm, trông em cẩn thận kẻo phải tội. Chị gào khóc, em cứ lả dần trên tay chị. Nghe người ta nói, trong trường hợp như thế muốn biết sống hay chết, cứ bó chiếu, để đầu hè, làm bát cơm quả trứng, cắm nén hương, nếu qua đêm không chết thì sống được. Nếu chết cứ thế đem đi chôn.

Chị đã làm đúng như vậy. Ngồi bên cạnh em, cầu thần linh, tổ tiên ông bà phù trợ, cầu đêm qua nhanh, mong chờ từng tiếng gà gáy. Ghé tai vào bó chiếu xem em còn thở không, thấy em động nhẹ, có tiếng khóc là mừng, nếu không thấy động gì chị chỉ còn biết khóc.

Khi có tiếng gà gáy sáng dồn dập, biết trời đã sáng. Chị vội vàng cởi bó chiếu ra. Em vẫn còn sống, hai tay nắm lấy tay chị. Mắt mở to, gọi: Chị!

Chị mừng quá, ôm lấy em, gào to: Bố ơi! Cả nhà ơi! Em sống rồi.

Mãi đến lúc ấy chị mới đoán ra cho em uống nhầm nước bồ kết gội đầu. Cũng từ đấy, em chịu khó ăn, người phổng phao hẳn lên, lại không ốm vặt nữa.

Năm em lên ba, làng đón phường bội hát ở đình làng. Chị ẵm em đi xem. Đến đoạn hay nhất, em oằn oại, nằng nặc đòi về, nựng thế nào cũng không được. Tức quá, ra khỏi chỗ hát, chị đặt em xuống đất, phát thật lực vào mông, hét lên: - Chị không ẵm em nữa. Cứ đứng đấy cho cú cáo lôi đi.

Em không dám khóc, chỉ mếu máo nói: Em đau bụng, đi ị.

- Sao không nói với chị, ị ra quần rồi. Để chị đưa xuống hồ rửa, về nhà thay quần khác. Chị ôm diết em vào lòng, ân hận.

Đấy là lần đầu tiên chị đánh em. Mỗi lần nghĩ lại đêm hát bội ấy chị lại nhớ đến đã đánh đứa em côi cút một cách hằn học và vô cớ, ngậm ngùi thương em.

Người đời có câu. Mồ côi cha ăn cơm cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ. Một lần chị thấy em đứng nhìn mấy đứa con hàng xóm tíu tít chạy ra cổng đón mẹ đi chợ về, rồi nhận quà. Em hau háu nhìn, cúi mặt di ngón chân trên đất, rồi lủi thủi đi về nhà, gọi chị. Chị ôm lấy em khóc, rồi hứa: Từ ngày mai hôm nào chị cũng mua quà cho em.

Thực ra chị làm gì có tiền. Chị quen bà bán quán, mua chịu chắc được. Bà già tốt bụng, bảo chị: Già cho chịu, mua bao nhiêu cũng được. Tích tiểu thành đại, khi cộng lại đã là số tiền lớn. Chị đành phải nói với bố. Bố không mắng, còn nói:

- Bố làm sao có số tiền như thế, vào lúc này. Vì thương em đã làm khổ cho con rồi. Chẳng lẽ là do trời định sao! Con nhớ lần ông Bá Chuyên đến nhà mình không. Ông ta có đứa con trai hơn con một tuổi, mười tám. Định xin con về làm dâu nhà ấy. Ông ta nói thành thật:

- Thằng con tôi không được nhanh nhẹn, tháo vát khôn ngoan như con nhà người ta, nhưng được cái khỏe mạnh, hiền lành, tốt bụng. Tôi nhằm đến đứa con gái của bạn vì biết cháu đẹp người, hiếu thảo, nết na, thạo việc. Chỉ có cháu mới sai khiến được thằng con tôi.

- Cảm ơn ông đã nhằm vào đứa con gái tôi, để tôi dò ý cháu đã.

- Phải vậy, ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên.

Bố chưa kịp dò ý con đã xẩy ra chuyện thế này. Nếu con đồng ý lấy con trai ông Bá Chuyên. Bao nhiêu tiền “Cọc” bố đưa cho con hết để trả nợ, con nghĩ sao!

Chị còn biết nghĩ sao nữa. Mua quà không có tiền trả còn dám nhìn mặt ai. Chuyện như thế loang ra làng xóm, còn có người con trai nào dám đến với chị, chỉ còn nước bỏ làng đi.

Tôi đã khóc, khi nghe chị kể.

Chị nói với tôi: Trong cái rủi, có cái may, anh Xuyến, chồng chị, bảo gì làm nấy, cứ như thiên lôi ấy, mọi đường tính toán đều dồn lên vai chị. Không nặng lời với chị câu nào. Vợ chồng biết bảo ban nhau làm ăn, cả những khi gặp hoạn nạn.

Mười bảy tuổi chị về nhà chồng. Làm dâu ngày ấy, đâu như bây giờ muốn đi đâu, làm gì tùy thích. Ra khỏi nhà chồng, chỉ một bước chân cũng phải xin phép bố mẹ chồng, rồi đến chồng. Không thế chịu tiếng, gái trốn chúa lộn chồng, bị chửi mắng, khinh rẻ, chúng bạn xem thường, người làng còn không thèm nói chuyện với nữa.

Vợ hai ông Bá Chuyên sinh con, bị đối đãi tệ lắm. Cho nằm ở gian trái nhà bếp gần chuồng trâu. Bà vợ cả cho ăn gì được nấy, không được bữa nào no, đứa trẻ gần tuổi, bé nhánh, lúc nào cũng khóc ngằn ngặt. Bữa ăn chị bớt cơm lại, đêm, mang xuống cho ăn.

Ẵm đứa em chồng, chị lại nghĩ đến em. Chị đi rồi, em ngủ với ai, có khóc gọi chị không. Đi làm đồng, chị phải nói dối mẹ chồng: Con phải đi làm sớm cho xong việc. Về nhà bố gặp em. Em ôm chặt lấy cổ chị, muốn tức thở ấy: Chị đi đâu lâu thế! Chị về rồi, em không cho chị đi nữa. Đêm em ngủ một mình sợ lắm. Chỉ mong chị về thôi!

- Sao không ngủ với chị Vụ.

- Em chỉ muốn chị cho ngủ thôi. Có đêm, nhớ chị em không ngủ được, nằm khóc, bố phải lên nằm cạnh.

*

Năm tốt nghiệp lớp bảy, tôi thi đỗ trường cấp ba, không có điều kiện đi học. May có người chuyên đưa bè gỗ từ bến Phương thị xã Hòa Bình về xuôi, đến lấy thuốc nam chỗ bố tôi, bảo: Trường cấp ba Hoàng Văn Thụ, Hòa Bình, tuyển sinh. Có nhiều học sinh miền xuôi lên học, họ tự kiếm sống ăn học, chú thích đi học tôi nộp hồ sơ cho, lên thi, báo kết quả vào học ngay.

Nói mãi bố mới cho đi, chỉ dặn: Có chí thì nên, bằng không về đây với bố, đừng làm việc gì sai trái. Làm bố không nuôi nổi con ăn học, bố thấy tủi hổ lắm.

Hành lí lên đường chỉ có năm cân gạo, năm đồng bạc, mấy bộ quần áo đã cũ, cây sáo trúc, cây đàn măng đô lin. Đi theo con đường chỉ dẫn của bác Tuyên trên mảnh giấy. Vậy là trên trăm cây số, phải nghỉ lại trên đường hai đêm. Tôi đi qua ngõ nhà chị, không dám vào chào, sợ chị giữ lại không cho đi. Làm sao chị chấp nhận đứa em bé bỏng thủa nào, lần đầu tiên xa nhà lại phải vượt qua quãng đường xa đến như vậy, đến một vùng quê thật sự là đất khách quê người. Học hành được hay không, liệu có sống mà về, hay bỏ xác nơi đất lạ ấy.

Tết năm ấy, nghe tin tôi về, chị ra ngay. Ôm chầm lấy tôi: Vẫn còn sống, biết đường về quê, khỏe ra, lớn thêm một chút, đen đủa quá, vất vả lắm phỏng. Chị biết em đi nhất định giữ lại, để em bơ vơ đất người, biết em cực khổ, chị chịu sao nổi.

- Chị không nghe người ta nói, thua thầy một vạn không bằng thua bạn một li sao. Em thua kém bạn bè làm sao đáp đền lại công lao chị chăm bẵm em.

- Tự kiếm sống để đi học, chị đã hình dung ra gian nan vất vả, cả tủi cực của em rồi, chị chỉ khóc thầm thôi. Thương em có giúp gì được đâu.

- Chị cứ tin ở em là đã thương em rồi.

Tôi biết chị luôn coi tôi như là đứa trẻ lẽo đẽo theo chị từng bước đi một, biết là vũng bùn vẫn cứ đưa chân vào. Tuột khỏi tay chị làm sao lớn khôn được. Như là  tình cảm của người mẹ dành cho đứa con của mình. Với người mẹ, những đứa con mãi mãi là trẻ con, cho dù có là ông gì đi nữa.

Ngày giỗ mẹ vào ngày mồng tám tháng Giêng, vẫn còn hơi ấm của ngày Tết. Anh chị em tôi, có dịp gặp nhau. Tíu tít kể chuyện về mẹ. Tôi chỉ biết lắng nghe, cứ như là nghe chuyện cổ tích vậy.

Khi tôi nói: Các anh, chị hạnh phúc thật, chí ít cũng vài lần nắm lấy váy mẹ đòi quà, khi đi chợ về. Còn em một lần cũng không được.

Nghe tôi nói thế. Chị ôm lấy tôi, hai mắt rớm lệ:

- Chị đã hy sinh cả hạnh phúc của chị để mua quà cho em đấy thôi.

Nghe chị nói, tôi chỉ còn biết gục đầu vào vai chị gào lên:

- Chị! Em ơn chị nhiều lắm. Cảm ơn cuộc đời đã cho em người chị như chị.

- Ơn gì, nói thế chị ghét đấy. Đó là bổn phận của người làm chị, hiểu không.

Chị về nhà chồng từ năm mười bảy tuổi, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay là bảy mươi tám năm. Chẳng biết có chặng đời nào chị được sống hạnh phúc không. Hỏi, chị chỉ nói:

- Đời người biết thế nào là sướng, là khổ, thế nào là hạnh phúc. Cậu biết câu ca dao nói về thân phận người con gái: Thân em như hạt mưa sa. Hạt vào đài các hạt sa ruộng bùn. Hạt rơi vào chốn đài các chắc gì đã có hạnh phúc, hạt rơi vào ruộng bùn chắc gì đã phải khổ. Sướng, khổ do con người tự cảm nhận thôi. Chẳng riêng gì con gái, mà là kiếp người nói chung, đều do trời định “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh tao mới được phần thanh tao”.

Đời người là vậy, người ta nói, cất tiếng khóc chào đời, có ai nói cất tiếng hát đâu. Đời là bể khổ, là vậy. Có thể càng sống trong cái khổ, cả về vật chất lẫn tinh thần, con người càng thương yêu nhau, càng thông cảm cho nhau, luôn tìm cách giúp đỡ nhau, gắn bó với nhau cuộc sống như thế mới gọi là hạnh phúc.

Đừng bao giờ bận tâm đến cuộc sống của chị. Chị lúc nào cũng thương nhớ đến em là hạnh phúc rồi.

Nghe chị nói, tôi chỉ còn biết nắm chặt bàn tay xương xẩu của chị, hỏi: 

- Chị ơi! Mẹ có giống chị không?

- Những gì có được ở chị đều học được từ mẹ.

- Thảo nào em có người bạn, khi mẹ chết, nó gào lên: “Ông trời ơi! Hãy lấy đi tất cả những gì tôi có và có thể có. Xin đừng lấy đi người mẹ của tôi”.

- Vì thế lúc nào chị cũng thương em, hiểu không.

*

Tôi về đến nhà, chị đã đi trước đó ba mươi phút. Thi hài chị các cháu để nằm trên chiếc giường một, đệm trải vải hoa, phủ xung quanh chiếc màn mới. Trong phòng nghi ngút khói hương. Tôi vén màn, quỳ xuống cạnh chị, trong lòng trào lên nỗi xúc động, nước mắt ràn rụa.

Vậy là chị đã đi vào giấc ngủ ngàn thu, lặng lẽ, bình yên. Ngọn lửa của cuộc đời thật sự tắt. Chín mươi lăm năm chị nhận được những gì ở đời đã trả hết, chị về cõi cực lạc nơi không vương một chút phàm tục, với tấm thân chỉ còn da bọc xương. Nhìn hình hài chị, tôi nhớ đến mấy câu kệ trong sách nhà Phật:

   Rũ sạch cát bụi trần ai

Thong dong cánh hạc hồn bay về trời.

  Trông theo bóng hạc xa vời

Tan vào mây trắng muôn đời còn bay.

Chị tôi chính là bóng hạc ấy!

Cuối năm 2017

T.H.V

 

 









Lượt xem: 143 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
17

Lượt truy cập:
372.936