XÓM NỔI. TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUY VÂN
Thứ 3, ngày 2 tháng 1 năm 2018 - 9:37

 

Thế hệ chúng tôi thuộc xấp người thứ ba ở xóm Nổi này, đang tuổi ăn học. Đã có ba đứa thi đại học. Một đứa đạt điểm cao nhất, thủ khoa. Cả xóm làm cỗ ăn mừng.

Bà Nụ, thuộc lớp người đầu tiên đến xóm Nổi. Khi ấy còn nhỏ, nay đã gần tám mươi tuổi. Bà không có con, ở với vợ chồng đứa cháu. Trẻ con trong xóm gọi bà là bà nội. Đứa nào cũng được bà chăm bẵm, trông coi ngay từ khi lọt lòng mẹ.

Chúng tôi vây lấy bà. Đứa nào cũng muốn xé thịt gà bón cho bà ăn. Bà nhận từng chút thịt gà nhỏ, đưa lên miệng nhai chệu chạo, giục chúng tôi.

- Các cháu ăn đi. Nội chẳng thể ngờ có ngày lại được đàn cháu xé thịt gà bón cho ăn thế này. Cái ngày một đám người ăn mày, tìm đến đây sống cơ cực như thế nào, các cháu không thể biết. Đã ai kể cho nghe chưa?

- Dạ. Chưa ạ. Nội kể cho chúng cháu nghe đi.

- Phải biết ông bà, bố mẹ sống đói khát, đau khổ như thế nào, để có được những gì ngày hôm nay, để sống cho nó ra một con người. Ngày ấy nội còn bé lắm, cũng nghe bố mẹ kể lại.

- Bà kể đi. Nội kể đi. Chúng tôi giục, nội kể.

*

 Năm ấy, nạn đói xảy ra khủng khiếp lắm. Người chết như ngả rạ. Đi đâu cũng thấy người chết, đầu đường, xó chợ, bến sông, hè phố. Trong cái chết của con người. Chết đói là thê thảm nhất. Người xám ngoét, chỉ còn da bọc xương, co rúm lại, thoi thóp thở, nói không ra tiếng người, cứ như tiếng mèo rên, lịm dần rồi chết.

Từng đoàn người, thất thểu như những bóng ma, tha phương cầu thực, rụng rơi dần trên đường đi. Đám người đang đói lả, chờ chết, lần mò đến mảnh đất này là phúc đấy. Gò đất nổi, lúp xúp những bụi cây nhỏ, xung quanh là bềnh nước. Ngập tràn Xú, Vẹt, cỏ dại, ở giữa gò đất có cây đa, cành lá xum xuê, rễ từ các cành đa to buông xuống, bám chặt lấy đất, đứng từ xa đã nhìn thấy cây đa này.

*

Ai cũng nghĩ, cố ra đến chỗ cây đa, dẫu có chết, cùng nhau gửi hồn vào cây đa, nhờ thần cây đa giữ hộ.

Dắt díu nhau lội qua bềnh cỏ, giẫm chân lên cả ốc, cua. Thấy cá quẫy trong đám cỏ. Có người mò xuống chân, nhặt được con ốc nứa to, vàng xuộm reo lên:

- Sống rồi, trong bềnh này chắc có nhiều ốc, cua lắm. Mọi người vừa rẽ cỏ lên gò đất, vừa mò ốc. Lên đến cây đa gom lại, rồi nhặt củi khô, cho ốc vào nồi luộc ngay. Đang đói lả, được ăn thịt ốc nóng hổi, cứ như có phép thần ấy, tỉnh lại ngay.

Mười lăm người có ba đứa trẻ, hai đứa con trai chừng ba tuổi, nội khi ấy gần hai tuổi. Một người cao tuổi nhất tên là Võ, chỉ có một mình, vợ đã chết trên đường đi xin ăn. Bốn nhà, có hai người đều là các cặp vợ chồng chưa sinh con. Người nào cũng võ vàng gầy đét như que củi khô.

*

Lấy cây đa làm nhà, kiếm ăn bằng mò cua bắt ốc. Phân định anh em bằng tuổi tác, có phải anh em chung dòng tộc gì, chín người mười làng là thế. Quần tụ thành một gia đình, gia đình của những kẻ ăn mày. Thề với nhau, đói no cùng chịu, cơ hàn cùng cam, không so hơn tính thiệt, đùm bọc nhau trong cảnh hoạn nạn, phải thương nhau như cùng một bọc chui ra. Ông Võ được tôn làm anh cả. Sống phải giữ được nề nếp, có trên có dưới.

Những gì kiếm được, gom cả lại, nấu lên cùng ăn. Hôm nào mò được củ ấu gai, luộc lên ăn, như là được ăn cỗ vậy.

- Nội ơi! Có câu ca dao nói về củ

ấu gai:

 “Thân em như củ ấu gai,

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

 Ai ơi nếm thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”.

Có phải củ ấu gai ấy không nội?

- Đúng đấy, cháu đọc được ở đâu.

- Trong sách mà nội.

- Thân phận người con gái nghèo ngày xưa đấy, chỉ dám ví mình như củ ấu gai, ngập chìm trong bùn sâu. Mong có người nếm thử, mới biết mình ngọt bùi, thì còn gì là đời con gái nữa.

- Bây giờ còn củ ấu gai không nội?

- Chắc vẫn còn nhưng hiếm lắm.

- Đừng hỏi để nội kể tiếp đi.

- Bữa nào cũng ăn ốc, canh cua nấu với các loại rau đồng kiếm được, đỡ đói lòng đấy, nhưng thèm được ăn củ sắn, củ khoai, thèm được ăn bát cơm, thấy nôn nao trong người ấy. Bàn nhau chọn những con ốc, cua to đem vào trong làng đổi lấy ngô, khoai, sắn về ăn cho đỡ khát cơn thèm. Có khi đổi được cả gạo, chỉ một dúm thôi, gạo để dành cho ba đứa nhỏ nấu cháo, mỗi bữa chỉ được một bát nhỏ, húp cháo cầm hơi là thế.

Vùng quê này khi ấy cũng nghèo lắm, nhưng chưa đến nỗi khánh kiệt, vẫn còn rau cháo qua ngày. Thấy mình tiều tụy đói khổ quá, họ bớt chút ít đổi cho. Lần hồi qua từng ngày một.

*

Lấy cỏ dưới bềnh phơi khô, mỗi nhà làm một túp lều nhỏ quanh cây đa làm chỗ nghỉ đêm.

Khi mùa mưa đến, Gò Nổi như một con thuyền nhỏ, giữa biển nước mênh mông. Nước của cả vùng dồn cả về đây, nhìn tít mù xa là làng, chỉ có đồng cao là không bị ngập nước. Ai cũng lo kiếm ăn bằng cách nào đây, khi nước ngập thế này. Người xưa có câu: Trời sinh voi, trời sinh cỏ. Trời đã cho sống chẳng lẽ không tìm ra con đường để sống sao.

Nước ngập, chuột, rắn, châu chấu, cào cào, dế mèn, các loại chim tìm về gò Nổi này nhiều lắm, chúng rúc cả vào lều ở ấy. Bắt làm thức ăn. Cụ Võ có tài đan lát, dạy cho mọi người cách đan lờ, đan dậm. Lờ cá trê, cá rô, cua, tôm. Người khỏe mạnh lặn ngòi, ngoi nước vào các làng xin tre về. Cụ Võ dạy mọi người cách thả lờ đánh cá. Bắt được nhiều cá, lại lội nước vào các chợ trong vùng  bán, đổi lấy cái ăn. Có tiền mua lương thực, dụng cụ lao động, cuộc sống đỡ đói dần.

Biết chắc không thể chết đói nữa, mới nghĩ đến việc phá hoang, dọn cỏ trong bềnh, để khi nước cạn cấy lúa, trồng ngô, khoai.

Khi người lớn đi làm, gò Nổi chỉ còn ba đứa trẻ. Cụ Võ đặt tên cho ba đứa là Nụ, Thủy, Hử cụ bảo Thủy là nước, Hử là bờ, Nụ là nụ hoa, tên ba đứa hợp thành là Nụ hoa bên bờ nước. Ba anh em chơi quanh cây đa, cũng biết bắt chấu chấu, cào cào nướng ăn. Thèm cơm lắm, có lần anh Thủy hỏi:

- Nụ ước có gì nhất? Nội trả lời ngay:

- Được ăn bát cơm.

- Còn Hử?

- Em cũng vậy, bát cơm là thế nào anh Thủy?

- Như bát cháo thôi, nhưng là cơm không lõng bõng nước như cháo vừa ăn xong đã thấy đói.

- Bát cơm chắc khó kiếm lắm, bố mẹ, người lớn kiếm mãi cũng không được.

- Bố anh bảo chỉ khi nào cấy được lúa, có được bát cơm mới thực sự sống.

- Đến bao giờ mới kiếm được bát cơm anh Thủy?

- Sẽ đến ngày đó, cứ chờ đi, mẹ bảo thế.

- Biết chờ đến bao giờ đây!

*

Theo ngày, theo tháng, theo năm, cuộc sống của đám người khốn khổ xóm Nổi khấm khá dần lên. Có cái ăn, được ăn no. Các cặp vợ chồng làm được nhà, vỡ được ruộng. Người xóm Nổi làm gì cũng đồng lòng. Làm được cả bờ bao, khu đất khai phá được. Chủ động cho nước vào ra, lại giữ lại được nhiều tôm cá. Khi mùa nước rút. Các cặp vợ chồng mới dám sinh con. Để rồi bà nội có cả đàn cháu như bây giờ. Đứa nào cũng chăm ngoan học giỏi, có đứa đỗ đại học, còn đỗ thủ khoa nữa.

- Nội ơi vì sao nội không lấy chồng?

Nội không nói gì, vẻ mặt xịu xuống. Nội lấy trong túi ra, chiếc khăn tay nhỏ, thấm những giọt nước mắt li ti. Biết đã chạm vào nỗi lòng sâu kín của nội. Đứa hỏi, ôm lấy nội òa khóc:

- Nội! Cháu biết lỗi rồi, nội tha lỗi cho cháu.

- Cháu không có lỗi gì hết, tại người thương của nội không về thôi.

Sau này người xóm Nổi kể cho nghe, người thương của nội là ai, sao không về. Biết, chúng tôi càng thấy thương, yêu quý, kính trọng nội nhiều hơn, càng phải biết phải làm gì. Phải sống như thế nào để đem lại niềm vui cho nội.

Người thương của nội chính là hai anh Thủy, Hử cùng nhau lớn lên từ những ngày đói rét nhất của xóm Nổi này. Cùng nhau nếm trải bao đắng cay, chua ngọt. Hai anh trai đều quý mến chăm bẵm, có gì cũng nhường nhịn cho cô em gái, đi đâu, làm gì cũng có nhau. Nội đón nhận tình cảm của hai anh dành cho mình một cách tự nhiên. Cứ như bổn phận của hai anh là phải như vậy.

Được cụ Võ dạy cho biết đọc, biết viết, biết làm bốn phép tính. Khi được vào trong làng học, cả ba học cùng lớp. Ngày ấy đi học vất vả lắm, cụ Võ đan cho chiếc thuyền nhỏ, cho ba người vượt qua bềnh không phải lội nước. Nội ngồi giữa, mỗi anh ngồi một đầu thuyền, hai tay cầm sào bơi, đưa thuyền đến đồng cạn. Đi qua cánh đồng rộng, vào làng đến lớp học.

Chiều về nhà, cả ba lại trông mấy đứa em nhỏ của cả xóm. Dạy chúng chơi, chúng hát cho người lớn đi làm. Dù các gia đình có nhà riêng, song tình cảm dành cho nhau không có gì thay đổi.

Xóm Nổi được nhập vào làng Mỏ, xã Tân Lập, cả ba đều được sinh hoạt đoàn thanh niên. Có hôm phải vượt qua bềnh nước vào lúc trời tối, đến tận khuya mới về. Hai anh Thủy, Hử phổng phao, khỏe mạnh, ai cũng khen đẹp trai lại tuấn tú nữa. Còn nội là cô gái đẹp có tiếng trong cả vùng, lại có giọng hát hay. Đêm liên hoan nào hai anh cũng đưa đi cho nội lên hát.

Nội biết tình cảm hai anh dành cho mình ngày một thân thiết. Nội đón nhận một cách bình đẳng, không có ý thiên lệch cho ai. Hai anh biết tình cảm của cô em gái dành cho mình đều rất chân thật. Tình cảm của Thủy và Hử vẫn thân thiết với nhau như tình ruột thịt, cả ba không ai động đến chữ yêu.

Bằng linh cảm của người con gái. Nội biết cả hai anh đều rất yêu mình, nhưng đều không dám thổ lộ, có chăng chỉ bằng cử chỉ, việc làm. Có lẽ ai đó nói ra sẽ làm cho nội khó xử, có thể vì thế mà tình cảm ba người dẫn đến tan vỡ chăng?

Minh họa: Lê Cù Thuần

Mãi đến ngày hai anh đi khám nghĩa vụ quân sự, rồi lên đường nhập ngũ cùng một ngày. Nụ bỏ ra nhiều đêm, thêu hai chiếc khăn, giống hệt nhau, có dòng chữ “Nụ hoa bên bờ nước”, cầu mong anh trở về.

Sau ba tháng luyện quân hai anh  vào Nam chiến đấu. Lại biên chế vào hai đơn vị khác nhau. Chẳng biết hai anh chiến đấu ở vùng quê nào trong ấy. Nội chỉ còn biết ngóng trông, đợi chờ như bao người con gái khác có người thương ra trận.

Sau ngày chiến thắng năm 1975, vẫn không thấy hai anh về, không nhận được tin tức gì. Gia đình cũng không nhận được giấy báo tử. Nỗi nóng bỏng đợi chờ của nội cứ nguôi ngoai dần theo năm tháng.

Nhưng hy vọng vẫn âm ỷ cháy trong lòng, nội tự nhủ lòng mình, có thể hai anh bị thương, còn nằm lại đâu đấy chưa thể về được chăng. Nếu đã hy sinh phải có giấy báo tử, mấy năm rồi kia mà. Tuổi xuân của nội mòn mỏi dần. Nội không dám nghĩ đến hai anh. Một chiều, nội nhận được gói bưu phẩm nhỏ, của anh Thủy, bóc ra thấy chiếc khăn nội thêu tặng khi anh lên đường, và một bức thư. Mở ra đọc, không phải chữ của anh, có thể anh nhờ người khác viết.

“Nụ thân yêu! Anh bị thương quá nặng, hai chân bị liệt hoàn toàn, hai bàn tay bị dập nát, cuộc sống gắn liền với giường bệnh. Hơn thế còn bị vết thương ở đầu, mảnh đạn chưa lấy ra được, trái nắng trở trời đau lắm. Chả mong có ngày về, nếu Hử về, em hãy kết hôn với Hử, anh chúc hai em hạnh phúc, chỉ như thế ngày một, ngày hai anh ra đi mới yên lòng được.

Thương nhớ em nhiều lắm, anh Thủy”.

Không có địa chỉ, không biết anh đang ở đâu. Bệnh xá, trại thương binh nào. Anh không muốn cho nội đến gặp, không muốn cho nội nhìn thấy tấm thân tàn tạ của anh chăng?

Đọc thư nước mắt nội chảy thành dòng, làm nhòe cả lá thư. Lại đến một ngày, nội nhận được gói bưu phẩm của Hử, giống của Thủy, chiếc khăn thêu và bức thư, chữ cũng do người khác viết hộ.

“Nụ thân yêu!

Nụ nhận được tấm bưu phẩm này  trong đó có chiếc khăn tay Nụ thêu tặng anh, lúc lên đường. Hãy coi đó là anh đã về với em. Anh bị sức ép của bom, toàn thân mềm nhũn, chưa chết nhưng không thể đi lại được, ngay cả việc đại tiện cũng phải có dụng cụ phù trợ, chẳng biết đến bao giờ mới cử động được, có thể chẳng bao giờ, chỉ có cái chết mới giải thoát được cho anh.  Anh Thủy về em hãy kết duyên với anh Thủy, đó là mong ước của anh và cũng là hạnh phúc của anh nữa, đừng suy nghĩ nhiều về anh. Chúc em hạnh phúc, gửi lời chúc của anh tới toàn thể người dân xóm Nổi.

Anh. Nụ hoa bên bờ nước”.

Cũng chả có dòng chữ ghi địa chỉ. Anh Hử ơi! Anh đang ở đâu. Nội đã gào lên thảm thiết.

Biết hai anh không thể về, chẳng đêm nào nội không ra ngồi dưới gốc đa, nhìn ra đầm nước, ra khoảng không bao la. Dõi theo những ngôi sao trên trời, cứ để cho nước mắt tự trào ra.

*

Bà nội biết mình đã sống trọn vẹn trong trái tim của hai người con trai, cả hai đều không trở về, cả hai đều mong bà được sống hạnh  phúc.

Đi tìm ư? Khó khăn đấy nhưng không phải không làm được, nhưng hai anh đã viết thế là không muốn mình đi tìm. Liệu hai anh còn sống không, khi thương tật nặng đến thế... Hay đến chỗ để nhìn thấy nấm mồ, cứ tin là hai anh vẫn còn sống, có phải an ủi mình nhiều hơn không.

Bà nội đã tự thề với mình. Ôm trọn trái tim của hai người bạn trai ấy, để đi hết cuộc đời này. Rồi sẽ đến ngày sang thế giới bên kia, biết đâu ba người lại được sống bên nhau, hạnh phúc sẽ gấp vạn lần. Bà Nụ mong ước như thế, còn mong thần cây đa phù trợ, như đã phù trợ người dân xóm Nổi này.

Tam Đảo tháng 11 năm 2017

T.H.V









Lượt xem: 37 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
3

Lượt truy cập:
364.588