THĂM LÀNG BƯỞI CHÍN CHUM. KÝ CỦA HỒNG GIANG
Thứ 3, ngày 2 tháng 1 năm 2018 - 9:38

Bản này đã từng có nhiều cái tên. Thoạt đầu là “Bản Chín Chum”, sau gọi là “Mã Quýnh”. Có lúc còn gọi là “Thôn mười một”.

Năm vợ chồng Vinh Hoa về đây, chỗ đất này còn là khu đất hoang, không có người. Ba bề, bốn bên ngút ngàn lau sậy, cỏ rác mọc từng búi, xoắn suýt dây mắc hùm, thứ cây từ cành đến lá đều có từng chùm gai nhọn sắc. Vướng phải loại gai này, lùng bùng chẳng khác gì như gà mắc tóc. Hổ báo mắc phải còn chịu chết, nên mới có tên “mắc hùm”.

Hai người vừa từ bãi vàng trên dòng sông Gâm đến đây với hai bàn tay trắng. Muốn trở về quê cũng không còn đường. Nhà cửa, vườn ải bán hết để đầu tư cho công việc đãi cát lấy vàng. Vàng đã chẳng thấy đâu, ngoài thân hình xơ xác, họ chỉ còn đủ lương ăn cho một tuần, nếu biết dè sẻn.

Hai đứa con nhà Vinh Hoa mặt cứ buồn ngơ ngác. Đầu óc non nớt của chúng không thể hiểu được bố mẹ chúng đến đây, làm lán, cắm chốt ở đất này để làm gì? 

Trông lên là núi đá cao vời vợi. Nhìn xuống là khe sâu hun hút. Ném xuống hòn sỏi, phải rất lâu mới nghe thấy tiếng vọng trở lại. Trước mặt là con đường lâm nghiệp mở tạm đã lâu để khai thác lâm sản, lở sạt nham nhở. Gọi là đường nhưng lâu lâu mới có một chiếc xe ô tô hiếm hoi chạy ngang qua. Trên xe kéo theo cả đoàn người mang theo cả cuốc xẻng, xà beng, tời, kích lỉnh kỉnh để bắn bẩy, tăng bo cho xe lò dò đi từng đoạn một... Thỉnh thoảng, cũng có khách bộ hành gồng gánh đi qua, họ nghỉ chân dưới gốc cây vải guốc, nơi bố mẹ chúng vừa căng tạm tấm ni lon xanh cũ, dùng tạm làm “nhà”.

Những câu chuyện họ mang đến, kể cho món trẻ nghe toàn là chuyện hãi hùng. Người ta kể rằng: Xưa kia, chỗ đỉnh đèo Mã Quýnh này, từng có một bản người Dao cư ngụ. Đã từng có một bản làm ăn trù phú, ríu rít tiếng cười.

Một năm, không biết dịch bệnh từ đâu kéo tới. Người trong bản tự nhiên mắc phải căn bệnh kỳ quái. Tự nhiên người nào người ấy mặt cứ xanh như lá cây. Đêm nằm ngủ già, trẻ, lớn bé đều gặp ác mộng, sợ đến độ không sao ngủ được. Người cứ gầy rạc đi, nóng sốt hầm hập. Đắp miếng vải ướt lên trán cho đỡ nóng, nước từ tấm vải bốc hơi nghi ngút. Người già, trẻ con “đi” trước. Người khỏe mạnh cũng không thoát khỏi bàn tay của tử thần.

Người ta xì xào với nhau rằng nơi đây trước ngày, quân Cờ Đen giấu của. Họ chôn đâu quanh khu đèo này chín cái chum. Trong số chín chum ấy có tám cái đựng đầy vàng bạc, còn một cái chôn theo một bé gái môi đỏ thắm như mào gà, mới mười hai tuổi, để “làm thần giữ của”... Hẳn là dân bản có ai đó sơ ý đụng chạm nên phạm phải lời nguyền, bệnh lạ mới khởi phát... Dân bản kéo nhau bỏ đi nơi khác...

Rồi chuyện có bốn ông có to gan, lớn mật là kẻ cả trong vùng. Ngay lúc đám lính Cờ đen đào hầm giấu của, các ông ấy đã âm thầm theo dõi. Đám lính vừa rút đi, họ bèn đào số chum này lên, đem chôn chỗ khác. Lấy ngay lúc bấy giờ họ e bị lộ, sẽ bị tội chết, bị giết cả nhà.

Trong số bốn người này có một người cực ác. Sau cái đêm cùng nhau hành sự, ông ta mổ lợn ăn mừng. Ba người kia về nhà ít ngày thì thổ huyết, lăn ra chết. Thời đó đâu có bệnh viện, hay ít ra là bệnh xá như bây giờ? Mà nếu có nữa chăng cũng khó lòng cứu được. Phần thì đường xá trắc trở, phần không rõ bệnh gì?

Người đầu độc đồng bọn này sau cũng bị hổ vồ trong lúc đi săn. Người nhà khi tìm thấy được, thi thể ông ta chỉ còn lại mỗi cái đầu bê bết máu.

Còn cái tên gọi là đèo Mã Quýnh này là do một vụ “tai nạn giao thông” thời bấy giờ. Thời mà nhà chức việc đi công cán không đi xe vì không có đường, phải cưỡi ngựa băng rừng. Một viên quan ba người Pháp đi thị sát vùng này hơn trăm năm trước, cưỡi ngựa qua đây. Không biết ông ta có xúc phạm điều gì đến lời nguyền trấn yểm năm xưa, mà xảy ra sự cố. Con ngựa đã vượt gần qua đỉnh đèo, bỗng hốt hoảng lồng lên, hất ông chủ văng xuống vực. Lính đồn dưới phủ lên tìm, thấy xác ông tây vắt ngang khe nước. Họ mang lên, chôn ông ấy chỗ chân đèo bên này. Vì vậy khu này một thời còn gọi là khu “Mả Tây”.

Năm tháng qua đi, mọi câu chuyện dù rùng rợn tới đâu cũng lùi vào dĩ vãng. Cái mả tây cũng không còn dấu vết. Cây xanh trả lại cho rừng, người ta cũng quên dần những chuyện hãi hùng. Còn lo làm lo ăn, ai hơi sức đâu để đầu óc nghĩ mãi chuyện xưa cũ? Các con nhà Vinh Hoa cũng chỉ sờ sợ một thời gian. Qua đận đêm nào nằm ngủ chúng cứ phải túm chặt lấy bố mẹ, không rời một ly, một lai vì sợ hãi. Rồi mải ăn, mải chơi, chúng lớn khôn từng ngày. Câu chuyện cũ không còn nơi cư ngụ trong tâm hồn chúng.

Qua cơn bĩ cực, vợ chồng Vinh Hoa khá lên dần dần.

Minh họa: Ngọc Điền

 

Tôi gặp vợ chồng Vinh Hoa mười lăm năm trước. Khi đó tôi là nhân viên của công ty cây xanh đô thị. Tôi có nhiệm vụ là đi tìm nguồn bonsai cho một khuôn viên hành chính công mới xây dựng.

Chưa có đường quốc lộ qua đây như bây giờ, nhưng đã có đường cấp phối liên huyện. Cảnh vật hai bên đường đã ít nhiều thay đổi. Hai bên đường vẫn là những bản dân cư thưa thớt nằm ven tán rừng, từng tốp nhà sàn quen thuộc như bát úp, men theo bờ suối. Lác đác vài ngôi nhà xây, nhưng quy mô còn khiêm tốn vì vận chuyển vật liệu khó khăn. Kinh tế thị trường vừa mới manh nha. Hàng hóa và quán xá chưa rầm rộ, rải khắp như bây giờ.

Một buổi ngang qua đây, chợt nhìn thấy trước mặt tôi là một rừng hoa đào lộng lẫy, choáng ngợp, chưa từng thấy bao giờ. Đỉnh Mã Quýnh này vốn không xa lạ với tôi, mà giờ đây như có một phép mầu. Có thể nhiều năm không qua lại, nơi này có phép lạ nào đó, bất chợt bừng sáng, bất chợt đổi thay. Đập vào mắt là ngôi nhà cấp bốn quét vôi vàng, ẩn hiện giữa vườn đào như vệt nắng vàng giữa vườn cây, rung rinh hoa đào ngày giáp Tết. Cuộc trao đổi của tôi với chủ vườn kết quả rất nhanh. Tôi sẽ nhận mua toàn bộ số gốc đào hiện có trong vườn, chỉ để lại cho chủ vườn năm cây chơi Tết. Đào ở đây là giống đào ta, lấy giống từ Bắc Quang, “mốt” mà thị trường cây cảnh bán vào dịp Tết năm đó đang chuộng.

Chiều hôm đó anh Vinh dẫn tôi lên núi đá ngay phía sau nhà. Cả một nguồn phong phú đối với người tìm kiếm. Si xanh, địa lan rất nhiều mọc lưng chừng núi. Tôi mừng vì chuyến đi thành công ngoài sự mong mỏi của mình. Nếu có điện thoại di động như bây giờ, chắc chắn là tôi sẽ gọi ngay về công ty để báo tin vui. Nhưng khi đó thông tin chưa có cột tiếp sóng viễn thông như bây giờ, vì vùng này chưa có điện. Tôi đành gác tin vui lại, về báo bằng miệng vào ngày hôm sau.

Đêm đó tôi ngủ lại nhà vợ chồng Vinh Hoa. Được nghe câu chuyện tôi vừa kể phần đầu bài viết này. Thực như một giấc mơ, dù người như anh ít khi mơ mộng. Câu chuyện mà chỉ những người yêu đất đai mới có được, ngay từ khi chân ướt chân ráo đến đất này.

Anh chị đã trải qua bao khó khăn thử thách ngày đầu đặt chân nơi đây. Thiếu thốn đủ bề. Thiếu từ con dao, cái cuốc. Đêm nằm mùa đông chăn không đủ ấm. Có bữa nhà hết gạo phải ăn cả củ năn rừng. Khi ốm khi đau thiếu từng viên thuốc. Lại thêm mình không phải dân gốc ở đây. Tháng tháng phải đóng tiền tạm trú. Những lời dị nghị từ người thiếu thiện tâm. Họ tung tin “nhà Vinh Hoa ham vàng bạc, đóng chốt ở đây để tìm chín cái chum vàng bạc người Tàu cất giấu”! Kỳ thực, chuyện “chín chum” mãi sau này anh mới biết. Vốn ở nơi đất chật người đông, thấy đất đai màu mỡ, rộng rãi, ấy chính là những chum vàng, trời bày ra trước mắt. Lúc ấy vợ chồng anh nghĩ thế. Đó chính là tiềm năng từ đất mà không phải ai cũng hiểu.

Ai nói gì mặc ai, vợ chồng anh cuốc đất trồng cây. Đất không phụ công người. Không ai nghĩ đất đỉnh đèo, ngang lưng chừng trời, cây màu lại xanh tươi đến vậy. Tất nhiên, canh tác nơi đất dốc, đồi cao phải có loại cây thích hợp, chịu hạn giỏi hơn cây trồng nơi đất bằng.

Vợ chồng Vinh Hoa an cư lập nghiệp, quên hẳn dền dứ chuyển về quê cũ.

Vả lại có muốn quay đầu về quê cũng khó. Ngày ra đi vợ chồng đã hứa với bố mẹ, anh em khi nào làm ăn khá mới trở về. Bây giờ về tay không còn mặt mũi nào nhìn người thân, bà con chòm xóm?

Vốn liếng ở đôi bàn tay. Vợ chồng lên rừng lấy củ nâu, lấy măng mang về bán chợ Tam Cờ. Đi một ngày, về một ngày vất vả, nhưng có gạo ăn, có chăn ấm cho con. Mua được con trâu cày ruộng. Cái lán lợp bằng nứa được thay bằng ngôi nhà cấp bốn. Nội thất đã có bộ salon cải tiến. Góc nhà dựng con Drem, loại phương tiện khá đắt tiền vào thời gian đó.

Nhà nước mở đường, giao thông thuận lợi, anh chị mày mò, móc nối được với chủ vựa mua phế liệu. Những ngày nông nhàn là lúc hai vợ chồng thay nhau vi vu xe máy, chạy khắp vùng thu mua phế liệu. Quanh năm chả có lúc nào rỗi việc, ngồi không.

Người ta nói nhiều về nuôi con gì, trồng cây gì. Nói nhiều mà chưa làm gì, như chuyện trào lộng. Đối với nhà Vinh Hoa thì không.

Vườn đào bán hơn trăm triệu tôi vừa kể chỉ là chuyện nhỏ. Đất Mã Quýnh không nhớ đã cho vợ chồng anh bao nhiêu mùa ngô tốt ngập đầu người. Quả ngô dài hơn cả gang tay, vàng chóe như màu vàng cốm ở bãi vàng năm nào. Thứ vàng mà dân làm vàng nhìn thấy cứ sáng mắt lên khi thấy nó nằm ở đáy máng. Những vụ khoai Tàu củ nần nẫn to chả kém gì củ nâu ngày nào mới lên đây. Củ nâu bây giờ không có ai mua vì đã qua thời quần nâu áo vá. Cái ăn cái mặc của thiên hạ đã khác xưa, đẹp đẽ, sang trọng hơn. Nhưng dù sao bóng dáng những củ nâu chưa hẳn đã quên, nó vẫn còn mãi trong ký ức một thời để nhớ.

Bây giờ, là vườn bưởi hàng trăm gốc, lúc lỉu quả chín vàng xung quanh nhà. Hương bưởi chín có cái gì rất lạ, vừa thân thiết, mộc mạc lại vừa mơ hồ, thoang thoảng, ngan ngát.

Hôm tôi đưa mấy anh em báo chí lên thăm mô hình những người làm ăn giỏi, vợ chồng Vinh Hoa không giấu được vẻ ngượng nghịu, lúng túng.  Vinh kéo tôi ra sau chiếc xe tải vợ chồng anh mới mua, giá nửa tỷ, lốp còn rất mới. Nhưng không phải để khoe con xe, mà bằn nằn: “Làm ăn giỏi ở đất này vợ chồng em chưa là cái đinh gì. Nhiều người họ hàng năm thu gấp đôi, gấp ba nhà em. Sao bác không đưa họ tới đấy?” Tôi nói không phải tôi không biết. Thu tiền tỷ mỗi năm ở đất này tôi có quen vài người. Nhà anh chị mới chỉ xấp xỉ ngưỡng ấy, tôi vẫn đưa anh em đến là có lý của tôi. Người ta là người cố thổ ở đất này, tích góp bao đời, vốn liếng sẵn. Nương ruộng ông cha để lại, chỉ là của ruộng đắp lên bờ. Hay người có điều kiện ăn may, có vị trí ngoài xã hội, mang tiền của về đây xây dựng cơ ngơi, “làm du lịch sinh thái” mưu cuộc sau này v.v. Những người ấy thực không đáng nói. Nó như một tất nhiên. Khác hẳn với vợ chồng anh, đi lên từ hai bàn tay trắng, bằng mồ hôi nươc mắt của mình. Thấy tôi nói vậy, anh vội cắt lời: “Nói vậy cũng không hẳn đúng. Vợ chồng tôi ở được đất này trước nhất ơn giời, nhờ các cấp lãnh đạo, sau nữa là nhờ bà con chòm xóm nơi đây. Sự nghi kỵ chỉ là thoáng thời gian đầu. Sau rồi mỗi người giúp một tay. Nếu không thế dễ gì có ngày hôm nay?”. Anh chỉ được cái nói đúng. Một tay vỗ có kêu bao giờ? Nếu không có cộng đồng hỗ trợ cũng khó mà giàu có lên được, tôi họa theo.

Lát nữa có ông hội trưởng hội làm vườn đến cùng uống rượu, chủ nhà khoe với tôi như thế.

Thôn Chín Chum có hơn trăm nóc nhà, gần phân nửa là hội viên “hội làm vườn” của xã. Đây là hội đoàn tự nguyện, mới nhen nhóm. Anh bảo hội chưa có vốn lớn để cho hội viên vay. Mới chỉ có quỹ chi cho việc thăm hỏi khi hội viên ốm đau, có tiền mua tài liệu khoa học kỹ thuật, tiền thuê chuyên gia về hướng dẫn làm vườn.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Hà Thế Đô hỏi về vụ bưởi năm ngoái, chị Hoa nói: “Em không nhớ được mấy vạn, nhưng chất đầy bốn xe tải”. “Còn năm nay?” - “Có thể gấp rưỡi bác ạ”. Ai nấy sửng sốt. Vậy mà chị lại nói chưa ăn thua gì, nhà ông ý, bà nọ thu cả chục xe!

Thế mới biết tiềm năng ở nơi này mới chỉ khởi đầu, chưa đi đến cao trào.

Ông hàng xóm mà anh Vinh nói là hội trưởng hội làm vườn nói với tôi:

- Thực ra không phải bà con không biết. Ngặt vì khi xưa không có đường, có điện. Có trồng hoa trái nhiều như bây giờ cũng không được, khó khăn nước tưới. Trồng rồi ăn không hết, chỉ đem cho, đem biếu vì chợ lại xa. Bây giờ tiện đường, thương lái đến tận nhà. Trồng được nhiều không còn lo không biết bán cho ai.

Anh còn nói thêm:

- Tuy vậy, vẫn còn nhiều chuyện phải lo các anh ạ. Qua so sánh với vùng bưởi nơi khác, bưởi Chín Chum chất lượng chưa bằng. Nếu về lâu về dài chưa biết thế nào? Nay mai loại cây này trồng nhiều, nơi nào chất lượng cao, mẫu mã đẹp sẽ chiếm được thị trường. Không phải đất nào cũng trồng được bưởi. Nó còn có yếu tố vi lượng của đất, tiểu vùng khí hậu, độ cao, độ ẩm, ánh sáng của từng khu vực. Có nơi bưởi trồng đã lâu vẫn đắng, he hoặc tép khô không ăn được. Chưa có khảo nghiệm chính thức về chất đất ở Chín Chum. Thôi thì cứ vừa làm vừa rút kinh nghiệm...

Vợ chồng Vinh Hoa mổ hươu khoản đãi. Đàn hươu anh chị mới gây được vài năm bây giờ đã thành đàn. Nhân tiện ngày thương lái hẹn thu bưởi, anh cho mổ để thết đãi mọi người.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Thế Kỷ đang tìm góc chụp các bức ảnh nghệ thuật vụ thu hoạch bưởi. Anh đang tìm ý tưởng xây dựng hình tượng, nét đẹp đất Chín Chum. Lúc anh đứng lom khom trong vườn bưởi, khi thì gần như nằm bò sát mặt đất, ngay bên gốc đào, cố tìm cho được tấm ảnh theo ý muốn. Trời se lạnh mà nghệ sĩ trán lấm tấm mồ hôi.

Còn tôi lại bận tâm điều ông hội trưởng hội làm vườn nói vừa rồi... Đúng là cuộc sống luôn luôn đi đôi giữa cơ hội và thách thức. Nhưng với những người như vợ chồng Vinh Hoa, những thách thức ấy không phải là quá lớn. Nếu đất này không ưa bưởi, thì trồng cây khác. Người ta có thể trồng keo, trồng mỡ mà vẫn khá lên. Không nhất thiết phải theo một loài cây duy nhất. Đất đai mỡ màu luôn sẵn lòng bao dung, chiều theo ý con người. Cái nên và cần phải có là sự lựa chọn chính xác của mỗi người, tùy theo hoàn cảnh của riêng mình, của từng loại cây giống, của từng loại đất.

Như để chứng minh cho ý nghĩ ấy của tôi, phía xa kia là cả vạt đất rộng hàng ha trồng cây sả. Giữa đám sả chạy ngang sườn đồi là cái lò chiết dầu, thiết kế khá hiện đại. Ống khói lò cất nhô lên như ống khói một nhà máy nho nhỏ, sơn màu nâu đỏ giữa bạt ngàn xanh.

Đã có thời từng có cuộc bàn cãi chưa ngã ngũ về lợi ích, nên hay không nên trồng cây sả? Còn bây giờ, khi đang ở đất Chín Chum này, không hiểu sao, tôi lại cứ lan man về mảnh đất, về con người khi đứng ở nơi đây. Nghĩ về các loài cây, cây khoai, cây bưởi, cả cây sả nữa.. Ý nghĩ miên man về ý nghĩa cuộc đời, về hạnh phúc những điều bình dị, tưởng như không quan trọng gì, mà lại không phải vậy...

Những người như vợ chồng anh chị Vinh Hoa, từng có lúc kém may mắn, biết bền bỉ vươn lên. Đất đai đối với họ không chỉ là nơi ở, còn là tình yêu, khát vọng, là hạnh phúc nữa.

Chân lý của những điều tốt đẹp nói về hạnh phúc là gì, nếu không phải là làm lợi, mang lại cơm no, áo ấm, tiện nghi đời sống cho người dân? Những người bộc bạch, chất phác như vợ chồng anh chị Vinh Hoa và bao người khác, ở Chín Chum và ở nhiều nơi...

 

Chín Chum ngày cuối năm 2017

H.G









Lượt xem: 68 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   TÌM EM, CÔ GÁI TÀY...TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ NA - Đăng ngày:  23/04/2018
   CUỘC GẶP MẶT 2 THẾ HỆ LÀM BÁO TÂN TRÀO. GHI CHÉP CỦA TRIỆU ĐĂNG KHOA - Đăng ngày:  23/04/2018
   MỜI CƯỚI. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN ĐÌNH LÃM - Đăng ngày:  23/04/2018
   KHÁM PHÁ HUYỀN BÍ HANG PHIA MỒN. BÀN XUÂN TRIỀU - Đăng ngày:  23/04/2018
   THƯ GIÃN VÀ TƯ LIỆU - Đăng ngày:  09/04/2018
   LỜI THÌ THẦM CUỐI NĂM. TRUYỆN NGẮN CỦA NGỌC MAI - Đăng ngày:  09/04/2018
   CHÙA LINH THÔNG - NƠI LINH THIÊNG XỨ TUYÊN. GHI CHÉP CỦA VÂN NHUNG - Đăng ngày:  09/04/2018
   ĐỀN MỎ THAN (THÁN SƠN). PHÍ VĂN CHIẾN - Đăng ngày:  09/04/2018
   SAY MỶ. TRUYỆN NGẮN CỦA BÀN LOAN - Đăng ngày:  09/04/2018
   YÊN NGUYÊN NGÀY ẤY, BÂY GIỜ. GHI CHÉP CỦA ĐỖ ANH MỸ - Đăng ngày:  09/04/2018

Tổng số: 359 | Trang: 1 trên tổng số 36 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
58

Lượt truy cập:
366.972