TÌNH TRĂNG.TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ ANH MỸ
Thứ 5, ngày 21 tháng 12 năm 2017 - 14:16

Cái xích xe đã mòn còn khô dầu, tằng tằng tằng lăn dưới chân Khánh. Cái xe Vĩnh cửu đi vài năm, răng đĩa, líp nhọn như vây rồng. Mỗi lần bố để mắt đến cái xe đạp đầy bùn đất, là bố gầm, bắt Khánh bỏ hết mọi việc: - Đi lau cái xe đi! - Ông thường thế, không nói nhiều, không cằn nhằn như mấy ông hàng xóm, lúc nào cần, ông mới nói, hễ nói là ông gầm. Ông sót cái xe thế nào, ông gầm lên thế. Khánh sợ nhất lau xe, mỗi lần đụng phải vây rồng, y như rằng tay bị chảy máu. Xin tiền thì bố chả cho. Mà có tiền, cũng lấy đâu ra mà mua. Hàng công nghệ phẩm bán phiếu cán bộ. Có chăng, ra mua cái líp đắp, đĩa đắp của ông thợ sửa xe. Phải nói, thợ sửa xe Hà Nội giỏi. Cái líp, cái đĩa mòn như thế, họ đắp thép vào, rồi mài, dũa, lại như mới. Cái xích mòn thì đem đột mắt, lộn mặt trong ra. Trục ắc mòn, thì xoay góc mòn đi chỗ khác…, có cái còn đi được cả năm. Nhưng nhà Khánh, đồ đắp, đồ lộn cũng không kiếm đâu ra tiền. Thôi cứ tằng tằng tằng mà đạp. Hè này, Khánh cố kiếm ít củi bán, lấy tiền về trường tiêu pha. Ở nhà thế nào cũng xong, ra thành phố thiếu tiền, cực lắm. Sinh viên đại học chiều thứ bảy tranh thủ nhảy tầu, trốn vé lên Lạng Sơn, áp phe thuốc lá lạng về cuốn, giao cho mấy bà hàng nước. Các bà thông cảm sinh viên đói, trả tiền không để dây dưa. Cũng có bà bất chấp, ăn quỵt cả của sinh viên. Một suất cơm nhà bếp, đổi được hai điếu thuốc cuốn. Có bà còn bảo:

- Thông cảm các cậu thì đổi, về cho lợn, cho gà, chứ cơm này, ai ăn!

Thôi thì, đã trót đi học, đành để ai hành thế nào thì hành. Ngày xưa, các cụ còn lều chõng đi thi. Giờ, mình sướng chán. Hai bó củi đèo sau gác-ba-ga càng làm cho cái xích xe kêu nhão nuột hơn. Khánh gò lưng vượt dốc Bò Lăn. Cái áo không còn chỗ thấm mồ hôi. Mồ hôi chảy xuống hai mông. Xe tằng tằng tằng nhoai dốc. Da bụng dán da lưng, quặn theo đôi chân nhún trên đôi bút chì pê-đan tồng tộc. Nắm lá cây, mấy cái đòng đòng lau, mấy quả đùm đũm ngắt ăn đỡ đói, giờ trôi cả đi đâu? Không biết hồi xưa, cây bút nào đã trải qua cuộc đời kiếm củi đi học, để mà viết? Còn Khánh, chàng sinh viên đại học kinh tế này đã nếm trải từ hồi cấp hai, nên chả có gì phàn nàn. Xe lên đỉnh dốc Bò Lăn, Khánh thả phanh. Cái xe tồng tộc lao dốc. Nếu dốc Bò Lăn không có những hòn đá to như nắm đấm chèn vào bánh xe, dồn cái xóc lên ghi-đông, thúc lên hai vai, xóc lên đỉnh đầu, thì lúc này xuống dốc là lúc sướng nhất đời. Gió thổi tóc bay phấp phới, lộng vào ngực, bay tung tà áo, xua cái nóng oi ả chiều tháng bảy.

Bỗng cơn dông thúc gió mạnh dần. Khánh thuận tay phanh cúc áo cho tà áo bay phần phật. Tâm hồn đang lồng lộng, thì mây đen kéo đến. Trời đất mịt mù. Cơn dông kéo theo những đám bụi cuồn cuộn dọc con đường đá, quật sang bên này, dội sang bên kia. Bụi bay mù mịt, phủ kín những túp lều xiêu vẹo bên đường. Dông bắt đầu đổi hướng tứ tung, giật vào bụi tre, lay răng rắc những cành trám, nghiêng ngả vật vã cành cây xà cừ. Cảnh vật hai bên đường nép mình khiếp sợ. Gió giật từng hồi, kéo theo những cơn lốc dứt đứt những ngọn cây non bên đường. Bụi cát, lá cây mịt mùng tung lên, quất vào mặt, vào mắt người qua đường. Cái xích xe bị át tiếng tằng tằng tằng.

Mưa bắt đầu rắc hạt. Hạt mưa núi to như hạt ngô, quất vào mặt, vào vai rát như roi quất. Mưa ào ạt đổ xuống khe núi. Gió quật ngang, quật dọc cánh rừng. Cái nắng, cái đói thế thôi, cái xích xe còn tằng tằng tằng bò đi được. Còn cái mưa tháng bảy, đừng ai dại mà đọ với nó. Không nói khỏe được đâu. Cành trám còn bị nó bẻ cho gãy. Vô phúc bị nước mưa, trúng cảm thương hàn, cả tháng kiếm củi không đủ tiền thuốc. Khánh vội đẩy xe, dựng vào gốc xà cừ, núp dưới bạnh cây. Dông thưa dần, những tia chớp ngoằn ngoèo bắt đầu lóe lên, rạch ngang trời xanh lét. Tia chớp phóng lửa xuống mặt đất, giội lên tiếng nổ xé trời. Khánh ra hứng nước rửa mặt, tắm mồ hôi. Chợt thấy nhoàng trong ánh chớp, một cái bóng ôm túi du lịch, bước từng bước tơi tả. Gió quật bốn bề khiến cái bóng xiêu vẹo, ngả nghiêng: - Con chim non bị ướt cánh! - Khánh thoáng nghĩ trong đầu, bất thần lao về phía bóng người. Cô gái đầu trần, mặt trắng bệch, mắt xanh lét, nước chảy tràn khuôn mặt, không ai nhận ra là nước mưa hay nước mắt. Khánh xềnh sệch kịp kéo cô gái về gốc cây, thì một tia chớp xanh phóng tiếng nổ xuống chỗ cô gái vừa đi qua. Mặt cô tái xanh, vội lẩn ra phía sau gốc cây, co ro ngồi ôm gối. Khánh lấy mũ ra hứng nước, đến dội lên đầu cô, nói như ra lệnh:

- Bạn gội đầu đi, không sẽ bị cảm đấy!

Cô gái giật mình khó chịu. Khánh không để ý, tiếp tục dội nước lên đầu cô, như một mệnh lệnh thi hành. Ngỡ ngàng, khó chịu, bị bất ngờ, cô gái xoa mặt, vuốt tóc theo phản xạ. Khánh lại ra hứng nước. Cô gái nhìn theo, cảnh giác anh chàng lạ lùng cùng cảnh ngộ. Nhìn chàng trai vẻ nhút nhát, thật thà, kẻng trai, tốt bụng, thì yên tâm. Khánh lại đem nước đến, lại ra lệnh: - Bạn xoa người đi!

Cô gái thấy Khánh không nhìn mình, lặng lẽ đưa tay vuốt cổ, xoa xuống hai vai, ngoài áo, rồi trong người. Dội hết ba mũ nước, Khánh đứng ra, bảo:

- Không sợ cảm nữa. Bài thuốc chống cảm lạnh của người trong làng đấy!

Khánh nhường chỗ, sang đứng sau gốc cây. Cô gái thu mình, ngồi úp mặt, ôm gối. Khánh thì thầm hỏi:

- Bạn tên gì?

- Em tên Hằng, Lệ Hằng! - Cô gái vẫn gục đầu trên gối, bẽn lẽn thưa.

- Đi đâu mà lên đây một mình?

- Em lên trường sư phạm, nhập học! Trường còn xa không anh?

- Hai cây nữa! Nhà mình cũng ở

đằng ấy!

- Anh về hè phải không? - Thấy chàng trai có dáng thư sinh, không có vẻ một tiều phu đẵn củi, Hằng ướm hỏi, bắt chuyện cho đỡ sợ.

- Mình học xong năm thứ nhất, trường kinh tế quốc dân!

- Anh học Hà Nội à? Sướng thật đấy! - Mắt Lệ Hằng vụt sáng: - Anh tên gì?

- Tên Khánh, biệt hiệu Khánh khoai lang!

- Tại sao lại Khánh khoai lang? - Hằng ngạc nhiên, hỏi lại.

- Hồi còn học lớp tám, có lần mình đút củ khoai nướng vào túi quần đi học, bị bọn con gái phát hiện. Bọn nó húm vào bóp nát củ khoai. Thế là thành tên!

Cô gái tủm tỉm cười, cái cười dành cho chàng ngốc, chưa ai khảo, đã xưng.

Những tia chớp đã kéo cơn mưa về cuối rừng. Trời tạnh hẳn. Khánh bảo, để Khánh đưa Hằng về nhà. Nhà Khánh cũng có em gái. Ngày mai, hong khô quần áo, Khánh đưa Hằng lên trường. Hoàn cảnh này, gặp người tử tế, cô gái lần đầu xa nhà không còn có lựa chọn nào khác. Chiếc xe đạp tằng tằng tằng đưa hai người về xóm Cây Sui. Hai bó củi nằm lại chân dốc Bò Lăn, vùi qua loa trong bụi cỏ.

Về đến đầu xóm, Khánh gặp cái Hà, em gái, đi xới cỏ nương, cũng bị mưa ướt như chuột. Cái Hà ngơ ngác nhìn hai người, hỏi:

- Sao sáng nay anh bảo đi lấy củi? Củi của anh đâu? Em mách bố!

- Anh để dưới dốc Bò Lăn. Anh gặp chị Hằng bị mưa ướt...!

- Em ứ biết! Em cứ mách bố!

- Thế giả tao đôi dép lê hôm nọ

tao mua!

- Em đùa thế thôi! Em chào chị Hằng! Chị ở quê lên thăm anh Khánh à?

- Mình lên nhập học trường sư phạm, bị trời mưa, may gặp anh Khánh!

- Em cũng bị mưa, ướt hết này. Em đùa thôi. Chị vào nhà em mà nghỉ. Mai khô ráo hẵng đi!

Không biết cái Hà cũng tốt bụng như anh, hay nó sợ Khánh đòi lại đôi dép lê, trở nên tử tế. Chuyện Khánh đưa được cô gái xinh đẹp về nhà, làm cho cả xóm Cây Sui ngạc nhiên. Đám thanh niên đồn đại:

- Bìm bịp đã bắt được gà sống thiến!

- Mèo mù vớ cá rán rồi!

- Quý nhân đãi kẻ khù khờ!

Khánh cũng không có gì phải xấu hổ, cũng chả sợ mang tiếng với ai. Khánh lớn rồi, đã đi học ở Hà Nội, chả gì cũng nhất xã! Xã này đã ai biết cái cầu Long Biên, biết công viên Thống Nhất ở đâu đâu. Giờ làm được một việc tốt, Khánh còn thấy hãnh diện.

Cô Hằng mà Khánh đưa về đã có đôi răng duyên, còn má lúm đồng tiền, nói năng nhỏ nhẹ dễ nghe. Hằng không giấu chuyện gia đình. Cha cô là cán bộ miền Nam tập kết. Hằng thấy nhà Khánh ai cũng tốt bụng, lành hiền. Riêng Khánh có cái cười bẽn lẽn như con gái. Khánh đã chiếm được cảm tình của cô bạn mới. Một ngày đến ở nhà Khánh, Hằng thấy thoải mái. Cả nhà thân thiện. Hai đứa em thấy Hằng xinh đẹp, tính tình vui vẻ, suốt ngày chị chị, em em. Hằng bắt đầu thích nhà sàn. Ngày xưa, nghe kể trong làng mà sợ: Trâu nhốt dưới sàn; lợn thả ra vườn; đàn bà mặc quần một ống. Con trai con gái thích nhau, nửa đêm lừa cả nhà ngủ, leo cột lên tình tự. Giờ, Hằng mới thấy, nhà sàn rộng rãi, tiện nghi; tình người thân thiện. Hằng thích cái máng nước lần đưa nước về tận cầu thang, thích nhà sàn bốn bề lộng gió; rừng bạt ngàn tre, nứa. Những vạt rừng vầu thẳng tuột. Mùa xuân, mưa xuống, măng vầu mọc tua tủa. Dưới ao nhung nhúc cá, rộng như ao hợp tác quê cô.

Rồi những ngày chủ nhật, Hằng quên về thăm mẹ, thích đến nhà Khánh chơi với cái Hà. Hai chị em dắt nhau đi hái củi, hái măng, lên nương nhổ sắn.

Khánh không giấu bạn bè cùng lớp chuyện gặp Hằng. Niềm vui đem sẻ cho đầy. Ngày lớp 9C, Khánh chơi với cả lớp, thân nhất là Lân, bạn tồng cùng tuổi. Hồi đầu cấp ba, bố Khánh chưa mua xe đạp, sáng nào Lân cũng đến đèo Khánh đi cùng. Tính Lân thẳng thắn, ra đường gặp chuyện bất bình chẳng tha; ra tay bênh kẻ yếu. Lân mến Khánh, như Khánh đối với mình. Rồi đang lớp chín, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Phía Bắc, nạn kiều đẩy quan hệ hai nước láng giềng đến đỉnh điểm bất hòa. Lân, An cùng mấy bạn 9C đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Gần thấy thường, giờ xa, bỗng nhớ. Cả lớp mến mộ tinh thần nhập ngũ của họ; cả lớp viết thư cho An và Lân. Thành thử, khi Lân biết chuyện Khánh có bạn gái, cả lớp cũng biết rất nhanh, ai cũng ngạc nhiên. Có đứa bảo:

- Thằng Khánh nhát gái nhất lớp, lại có bạn gái trước nhất hội!

- Mà quen kiểu ấy, phải thôi! Sở trường của Khánh khoai lang mà. Đẹp trai, tốt bụng. Cô bé Hằng có khi xin chết trước nó cũng nên!

Từ ngày có Hằng, Khánh thấy trong lòng khi ấm áp, lúc lại mênh mang. Anh chàng luôn để câu Kiều cửa miệng: "Người đâu gặp gỡ làm chi...?" Ngày xưa, các cụ có câu, con trai kén vợ, ra đồng mà đứng. Cô nào không biết cầm cày cầm bừa, không biết cầm liềm, cầm hái, xinh mấy cũng chỉ để ngắm! Đàn bà “Khô chân gân mặt, đắt tiền cũng mua!” Con trai trong làng lấy vợ hơn dăm ba tuổi là tốt. Cha mẹ cưới dâu về làm đỡ. Con gái Cao Lan đi lấy chồng, phải học hát Sình ca. Con trai không biết hát Sình ca, không biết chiều vợ! Đàn ông Cao Lan phải biết làm nhà, biết đào cái ao, biết đẽo cái cày, cái bừa, biết lo cúng ma. Đàn ông theo đít con trâu đi cày, đi bừa là phí! Ngày mùa, phụ nữ ra đồng, đàn ông ở nhà chăn trâu; vui bạn rủ nhau vào rừng đi săn..., hội hè, cưới xin, ngày này qua tháng khác. Giờ, con trai, con gái trong làng đều đi học. Người học giỏi, đi làm thầy giáo, đi làm bác sỹ, kỹ sư. Không đi học, ở nhà chăn trâu, đào ao thả cá. Khánh học ở Hà Nội tầm mắt mở xa. Về hè, biết bố mẹ còn túng thiếu, ngày ngày lên rừng kiếm củi bán, dành tiền đi học. Cái thị xã xanh nhỏ bé bên bờ sông Lô còn nghèo. Lao động nhàn rỗi ra phố CCCP (cót, cát, củi, phên) kiếm việc. Bao giờ, tri thức ở vùng cao thật sự cần, sinh viên mới có thể đi làm gia sư kiếm tiền ăn học, chứ bây giờ, CCCP cả!

Từ bữa xuống trường, mỗi lần nhớ Hằng, hình ảnh cô gái tơi tả đi trong mưa, mặt cắt không chảy máu cứ hiền hiện trong đầu Khánh. Hằng hôm ấy trông thật đặc biệt. Trời mưa và nước mưa đã tạc cho thân hình cô đẹp hơn cái đẹp sẵn có mà ông trời ban cho, hơn mọi tấm ảnh người đẹp mà Khánh từng thấy. Khi đứng dội nước cho Hằng, Khánh quay mặt đi, cốt để cô Hằng tự nhiên. Thực tình, Khánh đã ngắm Hằng từ lúc chạy ra kéo cô vào gốc cây xà cừ trú mưa rồi. Mỗi lần nét ấy hiện về, Khánh muốn xếp sách vở, đáp tầu một mạch về quê. Khánh chưa biết, Hằng cũng có nỗi niềm khó quên. Hằng từ nhỏ được mẹ bảo ban khuôn phép, chưa một lần dám ngồi với bạn trai. Ở lớp, Hằng chỉ có bạn gái. Xa bố, Hằng ở với mẹ. Mẹ Hằng bảo: “Con trai là thứ mà con gái muốn thành đạt, phải tránh xa!” Hằng tin lời mẹ, vì thấy mẹ là người như thế. Cơn mưa tháng bảy đưa Khánh đến với cô. Lần đầu xa nhà gặp mưa dông sấm sét, sợ hãi đến tột cùng, Hằng được một chàng trai tốt bụng che chở. Cũng là lần đầu, Hằng chạm da thịt mình vào da thịt một chàng trai. Anh ấy đẹp trai, đang lúc cởi trần hứng nước mưa cho cô tắm. Hôm ấy trời rét, vừa sợ, vừa tủi thân, nếu không nhớ lời mẹ dặn, Hằng đã ôm lấy Khánh mà khóc! Khi ở nhà, mỗi lần sợ mất vía chuyện gì, cô vẫn ôm mẹ như thế. Hôm ấy, Hằng ngồi ôm gối. Mỗi khi một mình, cái cảm giác êm dịu lần đầu chạm vào da thịt chàng trai trắng trẻo thư sinh có bộ ngực nở nang, ấm áp của Khánh lại dìu dịu xô về. Cái cảm giác ấy sao thật khó quên! Có lần ngồi một mình, Hằng bồi hồi đưa cái cảm giác ấy trở về, lại thấy lòng man mác!

Nhớ thế, nhưng cứ phải đến kỳ nghỉ hè, Khánh mới về với Hằng. Bận học, mà có phải hè nào Khánh cũng kiếm được nhiều củi bán đâu. Từ lần quen cô Hằng, củi kiếm được càng ít. Một năm nghỉ hè, Hằng ở lại trông trường. Khánh rủ Hằng lên rừng hái củi, đi tìm tổ sáo, đặt bẫy đánh con cầy, con sóc; vào rừng đào con dúi; xuống suối tát cá, tìm bắt ba ba. Việc gì Hằng cũng thấy Khánh rất thạo. Hằng đã học câu cá, học vào rừng hái măng giang, về giã nhỏ, bóp muối, bó vào móm lá cọ, gác lên gác bếp, đem xào thịt, kho cá, thật ngon. Hằng thích món măng củ kiếm về thái mỏng, ngâm chua, xào thịt trâu, múc cả nước nấu canh cá thì..., không gì bằng. Có lần, em gái Khánh rủ Hằng đi hát Sình ca. Hằng bảo nó dạy cho mấy câu, nhẩm mãi mới thuộc. Hằng vừa cất lên, đám con trai đấm nhau cười, phá chạy. Mãi sau mới biết, Hằng đã phát âm sai. Hằng thích bài cô gái đuổi chó cho người yêu:

“Cáu pựi vach vach, cáu pựi

Sênh cáu pựi tình sin sênh cáu sênh

Nhình nà, mấy lơi cúng tông

Héc tú sỉ tang su cù nhát sềnh”

Ý là: Chó cắn ngoài sân em vội ra

Tưởng là ai nữa, hóa ra là...

Sao anh đứng đó, ngây như gỗ

Xin anh đừng sợ, hãy vào nhà!

Trai gái trong làng thường trọng thủy chung. Có câu hát rằng:

Chai chiu lớt lớt hác mìn pay,

Chiu chí hàn tìm thút tiều ây

Phu, say háo nhấu pài tần sủi

Cù sềnh hàn háo di phan lầy!

Ý là:            

Quả chuối thơm ngon vẫn bóc trần.

Yêu đương lắm lối, tình trăng gió...

Phu thê dù xấu, đẹp vẫn chung chăn.

Hạnh phúc dài lâu trọn nghĩa tình!

Những tối cuối hè, Khánh rủ Hằng lên gốc cây Sui ngắm trăng. Trăng núi to lạ lùng. Khánh đọc cho Hằng nghe bài thơ trăng: “... Mùng một lưỡi chai/Mùng hai lá lúa/Mùng ba câu liêm/Mùng bốn lưỡi liềm/.../Mười rằm trăng náu/Mười sáu trăng treo/.../Mười chín đụn dịn/Hai mươi giấc tốt/Hai mốt nửa đêm”.

Một đêm trên gốc cây Sui, gió thổi xào xạc lá vầu. Đêm sương lạnh. Hai đứa ngồi tựa bên gốc cây Sui. Hằng không quên lời mẹ dặn. Bỗng từ dưới bờ ao vọng lên tiếng hai con cầy cắn nhau choe chóe. Hằng giật mình, mất vía, nhoài người về phía Khánh. Khánh chìa vai, đỡ Hằng tựa vào vai mình. Tiếng con cầy cái the thé hét lên. Nhưng con cầy đực khàn khàn cố gào lên to hơn. Hằng thầm thì, cốt để tự lấy lại hồn vía:

- Chắc hai con cầy tranh nhau mồi!

- Nó làm tình đấy - Khánh thật thà.

- Sao lại thế?

- Động vật mỗi loài làm tình mỗi kiểu. Chim bồ câu thích bạn, thì gù gù hôn hít lên đầu, lên mỏ nhau. Giống gà đuổi nhau sã hai cánh. Còn con cầy, lúc làm tình nó cắn nhau đấy!

Hằng im lặng, xoay người, nhìn vào mắt Khánh. Tình cờ, chân đạp phải cành cây, vô tình ngã vào lòng Khánh. Hai đứa mất đà, lăn một vòng dưới gốc cây Sui. Cái cảm giác dìu dịu hôm trú mưa trên dốc Bò Lăn bỗng xô về. Đêm khuya thêm lạnh, Hằng ngồi thu mình trong vòng tay của Khánh, vô cảm. Khánh rụt dè đặt tay lên đôi vai mềm. Cô gái rùng mình. Gói kẹo bột trong tay bắn ra tung tóe. Cành lá rải ngồi xô đi mỗi cái mỗi nơi. Hai đứa chưa kịp ngắm trăng hai mươi mốt, nửa đêm, thì gà rừng đã gáy gọi đàn. Nghe tiếng gà gáy, hai đứa giật mình bối rối, xộc xệch chạy về trước khi trời sáng.

Từ đêm ấy, Khánh vừa sợ, vừa xấu hổ, bối rối không dám tìm gặp lại Hằng. Liệu Hằng có tha thứ cho mình!? Chắc Hằng sẽ đau khổ? Mình đã vô tình trộm mất cái quý giá nhất của người con gái! Giá mình nói lời cầu hôn với Hằng rồi đã đành, đằng này...! Nhỡ mai, Hằng có chuyện gì, phải làm sao đây?! Cứ mỗi lần nghĩ đến điều đó, Khánh ôm chặt lấy đầu, không dám ngẩng mặt. Chuyện con trai đi lấy vợ được cả mẹ cả con, người trong làng còn làm đám cưới to hơn. Nhưng còn chuyện đi học của Khánh, của Hằng. Cô Hằng mà bị đuổi học, thế nào cũng khai mình ra! Nhà trường sẽ thông báo về xã! Thế là bốn năm kiếm củi, đốt trong một đêm! Việc lớn tày đình, Khánh không dám chia sẻ với ai. Mấy tuần xuống trường, bạn bè thấy Khánh gầy đi trông thấy, ăn ngủ thất thường.

Hằng ân hận, cố lao vào học. Cô không dám nhớ đến Khánh, cố quên những mũ nước mưa Khánh dội lên đầu cô; quên đêm trăng dưới gốc cây Sui. Nhưng càng cố quên, thì tiếng hai con cầy cắn nhau lại the thé vọng về. Hằng tự trách mình, còn làm liên lụy đến Khánh. Không biết, Khánh có thông cảm cho cô? Sợ anh lại nghĩ, mình là đứa con gái...! Liệu Khánh có biết, Hằng đã rất mến anh? Khánh là người con trai đầu tiên cô chạm thịt vào da. Nếu như Khánh đã tỏ tình, thì chắc chắn, là mối tình đầu đẹp nhất của Hằng. Mỗi lần nghĩ đến đây, Hằng ôm mặt, khóc không có nước mắt. Cô chắp tay cầu mong Khánh hiểu cho tình cảm của cô. Bạn bè thấy Hằng tự nhiên xanh gầy, kém ăn, kém ngủ, giục cô đi khám bác sỹ. Vào học được mấy tuần, Hằng thấy người mệt mỏi, buồn nôn, chợt nhớ chuyện đêm con cầy, cô giật mình, run hết chân tay, vuốt tay xuống bụng, bối rối!

Hằng nghĩ không thể giấu được mãi, cô đem chuyện tâm sự với chị Tâm. Chị Tâm học cùng lớp, ở cùng phòng, hơn tuổi Hằng. Sống ở thị xã, nên chị từng trải, chuyện gì cũng biết. Hằng bé nhỏ, khiêm nhường, nên chị quý như em gái. Chị bàn, phải báo tin cho Khánh. Ai ngờ, Khánh ngốc nghe tin, bở hết hồn vía! Từ hôm biết chuyện, ở lỳ dưới trường, không dám ló mặt về nhà. Ân hận, tự trách mình, nhưng trong lòng có lúc khấp khởi, hồi hộp. Đến khi bình tĩnh, một hôm Khánh viết thư xin lỗi, hứa hẹn, rồi chả biết thế nào, cuối thư lại viết:

- ... Nếu là trai, mình sẽ đặt tên là Lâm, Hoàng Sơn Lâm. Nếu là con gái, đặt là Hằng Nga...!

Nhưng nói thế, nhà Khánh nghèo. Hai đứa lại đang đi học, mỗi đứa mỗi nơi, làm đám cưới thế nào bây giờ!? Mà hai đứa, đã ai dám nói với bố mẹ đâu! Làm sao Hằng dám nói chuyện này với mẹ! Hằng bối rối như gà mắc tóc.

Một chiều nắng xiên khoai, cái nắng đốt vàng quả bưởi, thầy chủ nhiệm lớp cho chị Tâm gọi Hằng lên phòng. Hằng giật mình, sợ hãi. Chả nhẽ, thầy chủ nhiệm biết chuyện của mình rồi? Chắc chị Tâm đã không giữ lời hứa? Thế là hết! Hằng hoang mang, rụt dè bước đến phòng thầy chủ nhiệm, với những phương án đề phòng. Có lẽ mình thật thà khai nhận với thầy, rồi xin thầy tha thứ. Đời con gái dễ bể dâu! Hằng trót dại lần đầu, chắc thầy cũng sẽ bao dung. Rồi mình bí mật xuống thị xã xử lý. Để lại thì không được rồi. Sẽ phải khai ra ai là bố của nó đây?! Khai thật, để cả hai đứa bị đuổi học, liên lụy đến cả Khánh ư? Tương lai con mình sau này sẽ ra sao? Mà cứ giấu, có giấu được mãi đâu? Mẹ mình mà biết! Trời ơi! Có khi mẹ không chịu nổi! Cô rùng mình, toát mồ hôi, mặt đã xanh, càng thêm nhợt nhạt. Hằng run run gõ cửa, bước vào phòng thầy chủ nhiệm.

Thầy chủ nhiệm cao, gầy, có cặp lông mày bọ róm, cài vội trên cặp mắt đuôi lươn, nhìn qua đã thấy xộc xệch. Cái cằm dài nhọn, lốm đốm râu, cạo cẩu thả. Tuổi băm nhăm, thầy chưa xây dựng gia đình. Không biết, vì thế mà tóc thầy đã bạc, hay thầy xấu máu? Cũng chả biết vì hình thức, hay tính cách, mà hết lớp sinh viên này đến lớp sinh viên khác gọi thầy sau lưng là “Nhân vật phản diện”. Chiều nay, thầy đứng ngồi không yên. Có lúc tự cười một mình; lúc lại thấy ra đứng đầu nhà huýt sáo. Mặt thầy bí ẩn. Tay thầy lúc lại nắn cái cổ áo một cách vô thức, lúc lại đập nhẹ lên nắp túi áo ngực cồm cộm, tự mỉm cười. Hằng bước vào, thầy Phùng chủ nhiệm giật mình, mồ hôi trên trán thầy đổ ra. Thầy kéo ghế, đặt cạnh ghế của thầy, nhếch mép như muốn cười, tay lóng ngóng chỉ vào ghế, ra hiệu bảo Hằng ngồi. Hằng kéo ghế, định đặt ra đầu bàn. Thầy đưa tay giữ lại, mỉm cười. Trên lớp, sinh viên chưa bao giờ thấy thầy Phùng chủ nhiệm cười. Thì ra, người ta cười, trông dễ tính hơn, và cũng trẻ ra! Một phút, cái cười trên môi thầy vụt tắt. Thầy chủ nhiệm run như bị trúng gió, hắng giọng, ực hực mấy lần, nghiêm túc hỏi:

- Em biết thầy gọi em lên về việc

gì không?

Chắc thầy Phùng chủ nhiệm cũng nhận thấy Hằng đang run lên như thế nào? Người Hằng lạnh toát, gai ốc nổi khắp người. Hằng ấp úng, nhìn vào mắt thầy thăm dò, tìm câu trả lời. Khi hai ánh mắt chạm nhau, đến lượt mặt thầy chủ nhiệm đỏ lựng; mắt thầy vội tránh ra cửa sổ. Hằng tranh thủ liếc xuống cái bụng, nhún vai. Vừa lúc, giọng thầy chủ nhiệm run run, thầm thì, ấp úng, thầy bảo:

- Thầy đã để ý… Hằng lâu rồi!

Bỗng thầy lại im lặng. Sự im lặng kéo dài lúc này như có ai cầm con dao dọa trích vào bụng cô. Rồi thầy xoa hai bàn tay vào nhau, nói không mấy lưu loát:

- Thầy đã về nhà em..., đã gặp mẹ em..., gặp cả em gái em... Con chó nhà em tợn lắm!

Xuýt nữa mà thầy không kịp buông thêm mấy câu ấp úng, thì Hằng đã đành nhắm mắt, khai ra tất cả. Lúc này, nụ cười trên môi thầy vụt tắt. Mặt thầy phút biến sắc, tái dần. Thầy nhăn nhó, ân hận, vì đã đưa con chó vào không đúng chỗ. Thực tình, thầy chỉ muốn chứng minh, thầy đã đến nhà Hằng. Đến lượt mồ hôi thầy chủ nhiệm tháo ra. Thầy lúng túng, lục tìm khăn mùi xoa, thấm lấy thấm để lên cái trán chả lấy gì làm rộng. Mùi nước hoa tầu theo ra. Thầy như sực nhớ, rụt dè đưa tay lên túi áo ngực, lấy ra túi ny lông nhỏ, gói vuông vắn, dèn dẹt, trong cồm cộm cái khăn mùi xoa, là gấp vuông vức và một lọ nước hoa nhỏ, nước hoa tầu. Tay thầy do dự đặt cái gói xuống bàn, đẩy về phía Hằng. Thầy lại lau mồ hôi, bước vội ra cửa, đảo mắt nhìn quanh. May quá, không có ai nhìn thấy!

Tai Hằng không dám nghe thầy nói thêm điều gì. Giá chiều nay, thầy đổ lửa lên đầu cô, như ở trên lớp thầy thường làm với sinh viên, Hằng còn dễ hiểu. Đằng này...! Lời thầy cắt ngang suy nghĩ của Hằng:

- Em về đi!... Giữ kín cho thầy chuyện này!... Nhớ nhé!

Thầy mở cửa, một tay với vội túi ny lông, dúi vào tay Hằng, mắt lấm lét, sợ có người nhìn thấy. Hằng loạng choạng bước qua cửa, mồ hôi đột ngột đổ ra, rôm xảy cắn khắp người. Hằng về ngã vật ra giường, ôm gối khóc nức nở. Nếu chị Tâm không từ trên lớp về, chắc Hằng còn khóc đến tối. Chị Tâm nóng lòng muốn biết, chuyện gì đã xảy ra, thương hại hỏi:

- Khai hết rồi à?

- Chị Tâm ơi! Không phải thế!

- Thế làm sao phải khóc? Mà khai ra những gì rồi? Thầy không tha cho à?

Mặt chị Tâm càng quan trọng hơn. Chị lắc mạnh vai Hằng. Hằng rút túi lấy gói khăn mùi xoa, lọ nước hoa chìa cho chị xem. Một thoáng ngỡ ngàng, rồi chị Tâm phá lên cười ngặt nghẽo, bảo:

- Được rồi! Để đấy chị lo! Tương kế, tựu kế!

Hằng chưa hiểu ý chị Tâm, nhưng cái cười của chị làm cho cô quên bớt đau khổ. Tối hôm ấy, chị Tâm thầm thì:

- Chết đuối vớ được cọc rồi!

Rồi chị khuyên Hằng quên anh chàng trong làng vô tích sự, nhút nhát, nghèo kiết kiệt ấy đi. Đành phải học, phải làm mẹ đã thôi! Thì ra, chị Tâm còn lắm mưu mẹo hơn Hằng tưởng. Hằng giờ, như con chim bị thương, mặc cho chị Tâm một tay chăm sóc. Nhưng mỗi lần thấy thầy Phùng chủ nhiệm, cô nem nép, ghê cổ, cứ phải nhắm mắt, cúi đầu mà bước. Thầy Phùng chủ nhiệm còn bối rối hơn. Hằng không sao quên được Khánh. Cứ mỗi lần nghĩ mình sắp trở thành kẻ phản bội, cô lại rùng mình đau đớn, lại một lần đưa tay vuốt xuống cái bụng đang ngày một tròn ra. Có nhẽ chị Tâm đã đúng! Phải học ra trường, phải làm mẹ trước thôi, cũng đành nhắm mắt đưa chân.

Hằng theo chị Tâm về xin mẹ cho nhà trai đến chạm ngõ. Chị Tâm về giãi bày với mẹ trước rồi. Mẹ khóc thương con, không nói được điều gì. Đám cưới được cơ quan tổ chức linh đình, Công đoàn đứng ra lo liệu. Ai cũng bảo, thầy chủ nhiệm tinh đời, cao tay, thả con săn sắt, bắt con cá xộp!

Học xong, Hằng được thầy chủ nhiệm xin cho làm văn thư, bố trí công tác ngay trong trường, rồi về nghỉ đẻ bên nhà bà ngoại.

Cái tin Hằng đẻ con thiếu tháng, mẹ khoẻ, con khỏe..., khiến thầy chủ nhiệm phấn khởi, mừng ra mặt. Chiều chiều, thầy đạp xe về thăm con, mua sắm đủ thứ đồ chơi đẹp nhất. Nhưng rồi, lâu ngày nghe lời ong ve, thầy sinh nghi. Tin loan khắp trường: Thầy chủ nhiệm nuôi con thiếu tháng! Đám học trò không ưa thầy chủ nhiệm càng bàn tán công khai. Thầy Phùng vẫn rất yêu vợ, vì cô Hằng xinh đẹp lành hiền. Xong, nhiều khi thầy cũng khó chịu. Thầy quyết định, chuyển cả nhà về dạy học ở trường làng, bên quê nội. Thuyền theo lái, gái theo chồng. Thật tình, Hằng đã muốn như thế. Càng đi được xa xóm gốc Sui, Hằng đỡ vấn vương đến Khánh. Nếu cô đi được biệt tăm, càng tốt!

Khánh ra trường với một tấm bằng đỏ, được tin Hằng đã lấy chồng, sinh con gái, tên là Hằng Nga. Hằng đã về dạy học bên quê chồng. Cái tin Hằng lấy chồng, làm Khánh ngẩn ngơ. Tin cô Hằng đẻ con thiếu tháng, tên là Hằng Nga, theo mẹ về quê bố, càng làm tim Khánh quặn đau. Khánh giận Hằng, căm ghét sự tự ty, nhút nhát, oán giận sự nghèo túng. Hình ảnh Lệ Hằng và con gái Hằng Nga ám ảnh đêm ngày. Khi tay Khánh đã kéo Hằng ra khỏi tia chớp bên đường; khi Hằng im lặng gội đầu nước mưa. Khánh ra bờ ao, thấy Hằng ngồi câu cá; vào rừng, thấy Hằng ngồi bên Khánh đào cái hang con dúi. Con dúi bắt lên từ dưới hang, Hằng sung sướng hét toáng cả rừng. Hằng từ dưới xuôi lên, mà cô chóng quen. Mới một mùa hè, cô đã biết bẻ măng, bó củi, biết bóc cái đòng đòng lau, biết tìm cái lá chua chát, biết cái dây củ mài, hái măng giang về làm măng chua. Ban ngày, Hằng lom khom rửa chân ở cầu thang. Chân trắng như cái nõn cây chuối. Tối vừa lặn mặt trời, Hằng đã co rúm người, bắt Khánh lai xe giả về trường. Khánh hớt hải mò lên chỗ gốc cây Sui. Gốc Sui còn đó, cành lá ngồi trông trăng cái còn, cái đã bị mối xông, xô đi mỗi cái mỗi nơi! Hai tay Khánh cào xuống mặt đất, vơ mấy cành khô, huơ lên trời, cười sằng sặc. Khánh nằm vật dưới gốc cây Sui, ngửa mặt lên trời khóc nức nở. Khánh gào tên Lệ Hằng, gọi tên Hằng Nga. Rừng nghe tiếng gọi, ào ạt vọng âm thanh lên núi. Tiếng gọi âm vang rừng vầu. Đêm ấy, Khánh ngủ trên gốc cây Sui.

Khánh về nhận công tác ở một huyện biên cương, vội xin phép đi tìm Hằng. Khánh phải tìm được Hằng! Khánh muốn nhìn vào mắt Hằng để hỏi, nghe Hằng nói một lời; được thấy mặt con gái Hằng Nga, rồi sau sao cũng được! Khánh tìm về quê Hằng. Tới nơi, cha Hằng đã đón cả nhà về Nam. Khánh đến Phố Núi. Chiếc ba lô theo Khánh đến các phòng giáo dục, tìm tăm, không thấy cá. Có người bảo, thầy chủ nhiệm quê ở Núi Hồng. Khánh tìm đến nơi, vợ chồng Hằng vừa chia tay. Hằng dắt con về ở nhờ một người bạn mới, mãi dưới đồng bằng. Chiếc ba lô lộn lại theo Khánh về xuôi. Ngày đi, đêm nghỉ, khi khóc, khi cười. Đêm, chọn chỗ bến tầu, bến xe, vừa không mất tiền trọ, lại tiện hỏi thăm; hết tiền, dừng chân tìm việc làm thuê. Mấy năm đại học, Khánh đã quen tiếp thị việc làm. Đi khắp đồng bằng trở về, mặt Khánh võ vàng, chân đi bước thấp bước cao. Chiếc ba lô lộn không biết quên đâu, có khi đã đổi thành vé ô tô đi đường? Khánh thay đổi tâm tính, quát tháo cả nhà, sợ chỗ đông người, ngày tha thẩn trên rừng vầu, tối lên ngủ trên gốc cây Sui. Một bữa, Khánh hớn hở chạy từ gốc Sui về, đánh thức cả nhà. Khánh bảo, Khánh đã gặp mẹ con Hằng Nga trên cung trăng. Cô Hằng đứng im lặng, Hằng Nga vẫy gọi bố, bảo:

- Bố về đi! Mẹ Hằng nhỡ tay đánh vỡ chậu hoa, bị đuổi xuống hạ giới. Đến tuần trăng treo, mẹ con con lại về với bố!

Vợ chồng anh cả nhiều đêm bị Khánh làm cho mất ngủ, lộn ruột, bảo Khánh rồ! Mẹ âm thầm thương con, khóc khô nước mắt. Khánh lang thang đi tìm con, khi nhớ tìm đường về cơ quan, thì nhận quyết định buộc thôi việc. Sự hẫng hụt khiến Khánh tỉnh cơn mê, nhưng thời chiến, kỷ luật biên cương là kỷ luật chiến trường. Khánh bỏ cơ quan, như lính đào ngũ. Khánh đào nhiệm đi tìm vợ con để biên giới ai trông! Khánh lại tha thẩn khắp nơi. Khi tìm được về nhà, tóc dài ngang vai, râu đâm tua tủa, trên người còn bộ quần áo cuối cùng. Từ đó, ngày ngày một mình lên ngồi hát trên gốc cây Sui.

Lớp 9C có lần hội khóa. Khánh tằng tằng tằng đạp xe phượng hoàng về gặp mặt. Cái xe ngót hai chục năm, lộn xích mấy lần, dựa bên những chiếc xe A-còng, Dremes, lác đác mấy ông chủ bụng to ngồi xe hơi. Khánh tíu tít bắt tay gọi tên từng người, nhớ cả biệt danh, gặp ai cũng vỗ ngực giới thiệu: - Khánh khoai lang đây!

Nhiều người ái ngại nhìn Khánh. Cánh bụng phệ buột miệng: Khánh rồ, rồ tình! Mấy người lên giúp Khánh dựng lại lều cá. Rồi ngày ngày con cá, mớ rau, cái củ, cái măng..., bạn bè thi thoảng lên thăm, Khánh nguôi ngoai. Một hôm, Khánh từ lều cá về, nói với vợ chồng anh cả:

- Tôi lấy vợ!

Chị dâu nghe nói, mắt tròn xoe, nghiêm mặt, nhưng dịu giọng:

- Chị xin chú! Bây giờ, chú yên tâm chữa bệnh đi đã. Khi nào khỏi...!

Miệng chị nói thế, bụng chị lại nghĩ, mấy héc-ta rừng, mấy chục mét đất mặt đường, cái ao, con trâu, đàn chó..., không thể chia ra. Còn anh trai, không sâu sắc như vợ, nói thẳng:

- Giờ vợ chồng tôi nuôi chú chưa xong. Chú đi lấy vợ, lại còn nuôi thêm mấy miệng ăn. Mà đứa nào dám lấy chú? Nó có dám, là nó dám lừa chú, lừa tôi. Rồi chú lại rồ, nó đuổi chú ra đường. Nó chiếm đất, chiếm nhà. Chú lại lang thang...!

Khánh không nghĩ đời phức tạp đến thế. Một hôm Khánh đạp xe tìm đến nhà Lân, nói sự tình, gặp con gái Lân đi học về:

- Cháu chào chú Khánh.

- Chào cháu. Con bố Lân lớn thế này rồi à?

- Năm nay cháu học lớp chín ạ!

- Cái Hằng Nga nhà chú mà sống, nó cũng học lớp chín...! - Khánh bưng mặt khóc như trẻ con. Hồi lâu quay sang bảo Lân: - Tôi lại đi tìm mẹ con nó!

- Vô vọng thôi!... lần trước,... chắc Hằng đã thấy cậu rồi, nhưng phải có lý do, nên cô ấy tránh. Bạn cũng nên tôn trọng quyết định của Hằng!

Lân động viên. Thực tình Lân nghĩ, để Khánh đi lần này, không gặp, trở về sẽ tệ hơn lần trước. Hai bạn quyết định, thông tin tìm trẻ lạc trên ti vi. Nửa năm vô vọng. Đến kỳ trăng tròn tháng Tám, Khánh lại đến tìm Lân, bảo:

- Có một cô dưới xuôi lên làm thuê nhận lấy chú Khánh...!

Khánh kể, vợ chồng anh cả ngăn cản. Bạn bè đưa “hai chú cháu” đi “khám sức khỏe”, vợ chồng anh cả chịu thua. Một ngày tháng Tám, đám cưới được lớp 9C tổ chức, vắng mấy xe hơi kính râm, bụng to mắt híp ở xa. Bố Khánh đã lỡ về già, không kịp thấy con trai cưới vợ. Người hạnh phúc nhất, là mẹ Khánh. Bà thấy bác Lân đâu, cũng ôm lấy bác mà khóc!

Lại nói, Hằng từ hồi theo chồng sang dạy học bên quê chồng, tưởng xa xóm Cây Sui, là quên được Khánh, sẽ có những ngày yên ổn. Cô đi không để lại dấu vết để Khánh có thể lần theo. Thầy chủ nhiệm, sau khi tin chuyện Hằng Nga, càng khắt khe với vợ. Từ trường sư phạm, về trường làng, tinh thần hẫng hụt, khiến thầy đổi tính, lại thêm khùng. Một học sinh đến lớp không thuộc bài, đứa khác đánh nhau, chửi bậy, bỏ học..., đều là lý do để thầy đổ đủ thứ lên đầu con bé Hằng Nga. Hằng thương con, nín nhịn chiều chồng. Bé Nga chưa kịp lớn, Hằng quyết định đẻ đứa thứ hai, biết đâu, anh Phùng sẽ quên chuyện, Hằng Nga thiếu tháng. Thằng bé quý tử, còn bé mà cái mắt, đôi lông mày cứ hệt như cha. Thầy Phùng thay đổi đối xử với Hằng, nhưng luôn hắt hủi con gái. Thầy đã có con thầy, con trai! Hằng lên lớp, Phùng ở nhà bắt con bé cõng em. Để em khóc, con bé bị đánh lằn hai má, phải nhịn cơm, phạt không được đi học. Các thầy đồng nghiệp thấy Phùng ngược đãi con gái, đem ra Hội đồng nhắc nhở. Bị phê bình, Phùng càng như lửa bị đổ thêm dầu. Hai mẹ con Hằng càng nhận được những trận đòn kín đáo. Bé Nga mấy lần liều bỏ nhà đi. May nhờ các phụ huynh che chở. Không chịu nổi đòn, xấu hổ, thương con, sót cuộc đời mình, Hằng đành phải ly hôn, ẵm con nương tựa một người bạn, một đồng nghiệp dưới đồng bằng. Bạn bè giúp Hằng chuyển vùng, giữ nghề dạy học. Nghĩ từ đây, cuộc sống sẽ yên, mẹ con Hằng sẽ làm lại từ đầu!

Minh họa: Tân Hà

 

Rồi một đêm, Hằng Nga thổn thức kể với mẹ, trên ti-vi có ông tâm thần tìm trẻ lạc. Bạn ấy bỏ đi theo mẹ mười sáu năm. Có tên giống tên con. Có mẹ giống tên mẹ. Mấy đêm, con mất ngủ...! Hằng thương con, giận mình nông nổi, đã để hai mẹ con ra nông nỗi! Đẩy Khánh đến cảnh tâm thần! Thương con, sót mình, Hằng trách Khánh! Thương đứa em càng lớn càng giống bố! Hằng không thể không nhớ thầy Phùng, người có cái tên sinh viên đặt “Nhân vật phản diện” ấy dù ích kỷ, phũ phu, nhưng anh yêu Hằng thật, giúp Hằng tìm việc, cho cô sớm được làm mẹ. Hằng bỏ anh, đời anh dang dở. Hằng bịn rịn tình người, mặc dù cô cầu nguyện, đừng có cô gái nào nữa bước nhầm vào cuộc đời anh!

Hằng ôm con vào lòng. Hằng Nga năm nay tuổi trăng treo, mặt tròn, nước da như da mẹ ngày xưa. Khi vui, lúc buồn, mẹ con Nga thường ôm nhau. Nhưng hôm nay, Nga nhận ra cái ôm của mẹ rất khác. Nga đã tin, đứa trẻ lạc kia chính là mình. Người cha tâm thần ấy, chính là người mà bố Phùng luôn vô cớ đổ cơn thịnh nộ hết trận đòn này đến trận đòn khác vào hai mẹ con. Đã mấy đêm Hằng Nga xin mẹ vẽ đường cho em về xóm Cây Sui. Trước tâm nguyện của con gái đi tìm người cha tâm thần, Hằng chỉ biết ôm chặt con hơn, khóc thầm!

Mười sáu mùa trăng treo, một sáng mưa Thu lất phất, một người phụ nữ dắt hai đứa trẻ ngơ ngác trước cổng nhà sàn. Con chó hôm nay không cắn xô ra, quanh quẩn trước cầu thang sủa đánh tiếng. Mẹ Khánh trên nhà nóng ruột gọi con. Khánh lững thững đi ra, sững sờ! Những cặp mắt lần lượt nhìn vào mắt nhau, long lanh, nhạt nhòa. Hằng lặng lẽ nhìn xác pháo vương dưới chân mình, chân con, lòng nặng trĩu, vội quay gót. Mẹ Khánh thấy khách ngẩn ngơ, kịp ra giữ lại.

Mùa đông năm ấy, dưới bến Tân Kiều bên dòng Lô Giang xuất hiện một ngôi nhà xinh xắn. Ngôi nhà được dựng bằng những cây cột đẵn từ trong rừng vầu, mọc quanh gốc cây Sui.

 

 

Đ.A.M









Lượt xem: 138 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
25

Lượt truy cập:
369.072