SUỐI LÊ VƠI ĐẦY... BÚT KÝ CỦA LÊ NA
Thứ 4, ngày 6 tháng 12 năm 2017 - 7:53

Minh họa: Lê Cù Thuần

Từ khi còn học sinh, tôi đã thuộc lòng bài thơ dài Việt Bắc của Tố Hữu. Những địa danh trong thơ gắn liền với quê hương cách mạng Tân Trào, Tuyên Quang lịch sử. “…Nhớ từng rừng nứa, bờ tre/Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…”. Câu thơ ghi dấu một thời lòng dân Việt Bắc đã chở che, nuôi dưỡng Bác Hồ và cán bộ cách mạng, làm nên cách mạng Tháng Tám thành công. Những câu thơ ấy đã đi dọc cuộc đời tôi, một người con của núi rừng Việt Bắc. Tôi có suy nghĩ, cho dù có đi hết cuộc đời này cũng không trả hết nợ ơn sông suối, đất đai quê mình. Suối Lê, tên gọi nghe sao gần gũi, thân thương. Dòng suối chảy xuôi canh cánh bên lòng thôi thúc tôi làm cuộc hành trình này.

Tháng mười, đã vào tiết cuối thu. Nắng nhạt màu là non. Từ thành phố Tuyên Quang đến trung tâm xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, chúng tôi rẽ trái. Các cụ dạy “Tam nhân bất đồng hành” vậy mà ba người chúng tôi háo hức lên đường. Thầy giáo Lê Đức, một người đam mê chơi ảnh. Là một người yêu trẻ, lại mê môn nghệ thuật ánh sáng, thầy Đức đã đi khắp vùng này, trước hết là vì công việc, vận động trẻ đến lớp, điều tra, khảo sát điều kiện giáo dục vùng sâu, vùng xa. Nhiếp ảnh gia Công Sáng người cặm cụi ghi chép hình ảnh côn trùng, ong, bướm, sâu, bọ…

Lưu vực thượng nguồn suối Lê nằm trọn trong xã Đạo Viện. Dấu tích của mùa mưa còn lại những đoạn đường núi bị sạt lở được máy ủi san gạt, bùn đất chưa khô. Song hành với suối là con đường ngoằn ngoèo như vết con trăn khổng lồ vừa trườn qua. Gọi là cùng đi, nhưng mỗi người một sở thích. Tôi tha thẩn với đồng bào dọc suối Lê. Gặp ai cũng muốn trò chuyện. Cứ như họ là người thân của mình, lâu mới gặp.

Tôi tạt xe vào quán nhỏ ven đường. Chủ quán, Lý Thị Hà, người Cao Lan xã Tiến Bộ, Yên Sơn về làm dâu một gia đình công nhân Đội 874 thuộc lâm trường Yên Sơn trước đây. Nghe tên đội, biết đơn vị này được thành lập đã bốn mươi ba năm. Cơ ngơi của cơ chế cũ chỉ còn lại dãy nhà xây cấp bốn rộng rênh, vắng người. Hỏi thăm thì biết đội trưởng Nguyễn Văn Tân đi vắng. Xung quang bạt ngàn màu xanh của rừng trồng. Bồ đề, keo, mỡ và mới đây cây bạch đàn được trồng trở lại. Thỉnh thoảng có từng mảng đồi keo, bồ đề bị khô lá. Hơn chục hộ vốn là công nhân lâm trường, tụ lại đây đang chung chiêng về quản lý hành chính. Vào đơn vị chủ quản thì xa tới hai chục cây số. Hộ tịch, hộ khẩu làm “ké” vào bản Rịa. Chi hội Phụ nữ và Người Cao tuổi cũng về bản Rịa sinh hoạt. 

Đi tiếp, gặp cây đa cổ thụ, ngay ngã ba Ngòi Khù. Bóng cây trùm cả ngã ba suối. Thân cây sừng sững. Những mảng lỗ thủng xuyên qua thân. Rẽ phải về thôn Ngòi Khù, con suối như ngón tay út, từ làng người Mông về đây. Mấy chục hộ dân có một điểm trường mới. Thật không ngờ cô em cùng xã Kim Phú, Hoàng Thị Lợi là giáo viên Mầm non ở đó. Hằng ngày cô Lợi từ xóm Oăng, Đạo Viện đi xe máy đến điểm trường. Mười triệu đồng tiền lương cũng chưa đủ bù đắp cho những khó khăn thường nhật trên con đường núi mưa trơn, bùn đất dính đầy xe.

Đã có dự án nâng cấp đường đi Ngòi Nghìn, thôn tận cùng của Đạo Viện. Nhưng cứ nơi nào mở đường là đoạn đó đi lại khó khăn. Mặt bằng vừa san gạt mở rộng gặp mưa là lầy thụt. Đường rộng ra nhưng lối đi chỉ vừa bánh xe. Vết hằn in sâu xuống bùn, hình thành vết xe người đi trước. Vậy là hai chân như hai mái chèo, đạp vào “sống trâu” tạo thêm đà cho xe tiến.

Tôi dừng xe bên một nhà có máy xát thóc vệ đường. Thực ra tôi định hỏi thăm đường. Chủ nhà đon đả mời vào nhà uống chè. Ông Triệu Minh Quang, sáu mươi tám tuổi, người Dao Thanh Y. Ông xúc ấm, pha trà rồi thong thả chuyện. Thôn Ngòi Rịa có 34 hộ, hai dân tộc Mông và Dao. Nhờ có nguồn nước thuận lợi, trồng lúa nước cũng tạm ổn. Thôn cấy giống Tám Thơm, ngót hai tạ một sào. Nhà ông đủ ăn. Ông có sáu con, mười tám cháu nội ngoại. Dân trong thôn tới một nửa thuộc diện nghèo. Hai bên đường lác đác nhà xây, quán tạp hóa, chữa xe máy… Ngòi Rịa là một nhánh của suối Lê bắt nguồn từ núi Cả xuống. Nó chảy hướng chếch từ tây xuống đông. Cạnh đó là Ngòi Dân. Đây là một nhánh nhỏ chảy từ trên đỉnh Pù Luông, có độ cao 800 mét so với mực nước biển. Trước đây thôn chỉ có người Dao Thanh Y sinh sống. Chiến tranh biên giới có thêm đồng bào Mông từ Xín Mần, Hà Giang chuyển về. Người Mông đã quen dần canh tác lúa nước. Hai dân tộc chủ nhân đất đai, rừng suối nơi đây. Họ đã kết bạn, nên duyên chồng vợ, cùng nhau xây cuộc sống mới.

Đi sâu về phía núi mờ xa. Mấy chục lần qua, lại một dòng chảy. Đến giờ thì không còn tên suối Lê nữa. Nó được gọi theo các nhánh ngòi. Theo cách gọi này, ngòi sẽ nhỏ hơn suối và được đặt cho tên thôn.

Nếu không bị lạc đường, tôi không biết Ngòi Đầu. Đi quá đến gần hai km. Định bụng gửi xe máy nhà dân để đi bộ. Cô gái chủ nhà, đang nấu rượu bảo tôi đã nhầm đường rồi. Đây là Làng Đầu. Bùn lầy quyện bết vào xe. Không thể dắt nổi. Tôi quay xe, cạo bớt lớp bùn đất. Ngòi Đầu bắt nguồn từ núi Khuôn Ninh cũng theo hướng chảy từ tây sang đông…

Lê Đức gọi cho tôi báo tin đã tới Ngòi Nghìn.

Trưa, tôi mới đến Ngòi Nghìn. Bản người Mông nằm lẫn trong màu xanh rừng trồng. Những mái nhà bằng tấm lợp, chìm dưới cây. Một thung lũng hẹp, có con ngòi chảy men chân núi. Ngòi Nghìn hay còn gọi ngòi Đèo La là nơi xa nhất của Đạo Viện. Phía bắc, lớp lớp núi đứng ngồi, nối nhau giăng thành. Có đường mòn vượt sang xã Tân Tiến, Kiến Thiết. Nhà văn hóa thôn xây trên một gò đất rộng. Bà con tranh thủ phơi thóc. Người già, trẻ con túm lại hàng váy áo Mông của bà Dính. Bà Dính là người Mông ở Xín Mần về đây thỉnh thoảng bà ngược chợ phiên Cốc Pài lấy hàng về bán cho dân bản và các chợ phiên quanh vùng.

Tôi ngồi trò chuyện với Chẩn Seo Pao, 56 tuổi. Năm 1979, chiến tranh biên giới, gia đình anh từ xã Nàn Ma, Xín Mần về. Vợ chồng anh có năm con. Thỉnh thoảng anh vẫn lên quê cũ thăm họ hàng. Từ hơn ba chục hộ, nay đã sinh sôi thành bảy mươi chín hộ Mông với trên ba trăm nhân khẩu. Họ vẫn giữ gìn nét văn hóa riêng. Đó là tiếng nói, trang phục và tập quán canh tác. Nhà trình tường đất chỉ còn đôi ba ngôi. Hầu như không còn ai nấu mèn mén.

Dạo quanh bản, gặp loại phương tiện vận chuyển, leo núi, vượt suối bằng động cơ. Nó là thứ giống như xe máy, có hai bánh và tay lái. Người ta dùng để vận chuyển thóc, ngô, rau, củi, hoặc cả gia đình, bốn năm người. Nghe tiếng cành cạch, có khi rít lên náo động cả bản. Nó giống con ngựa thồ, chỉ khác là biết ăn xăng.

Rẽ xuống nhà Chẩn Văn Thanh, bốn mươi ba tuổi. Ngôi nhà trình tường đất, rộng rãi. Ngô, lúa, khoai, chất đầy gác. Rau, chuối, bí xếp cả ngoài hiên. Vợ chồng Thanh đang dùng máy tuốt lúa nương. Do thời tiết mưa nên gặt muộn, bông lúa đã chín rũ. Ba bốn đứa trẻ đang đùa với chó, mèo. Hôm nay thứ bảy nên học sinh cả mẫu giáo được nghỉ. Lê Đức mải mê chọn góc cho bức ảnh “ngóng mẹ”.

Đức đã báo cơm trước tại nhà thầy giáo Hoàng Văn Chính. Thầy Chính là người Mông, đã hợp đồng dạy bốn năm tại thôn, chưa được biên chế chính thức. Mức lương hai triệu đồng một tháng. Để lo nuôi con, Chính làm nương, ruộng, như một nông dân thực thụ. Căn nhà mới làm, bưng gỗ chưa kín. Tài sản còn có một đàn gà và một phương tiện đi. Hằng ngày thầy lên lớp với mười sáu học sinh. Lớp một chín em và lớp ba bảy em, học chung một gian nhà. Dân bản tin quý vì thầy giáo vừa dạy chữ, lại dạy cả tiếng Việt. Thầy dành thêm thời gian cho các em có hoàn cảnh khó, như Hoàng Thị Hiền, Giàng Thị Hoa… Ngòi Nghìn còn có một giáo viên lớp hai và hai giáo viên Mầm non. Hằng ngày họ từ ngoài vào dạy học, tối lại về. Nhiều hôm đường trơn, núi lở thầy Chính phải dạy thay. Từ lớp bốn các em ra Làng Phào học, cách bản hơn ba km.

Chúng tôi không ở lại làng Mông vì lo mưa bất chợt. Công Sáng, Lê Đức đã gặt hái niềm vui của chuyến đi. Những ánh mắt trẻ thơ hồn nhiên. Bao nếp nhăn hằn ký ức của người mẹ Mông. Cỏ cây, hoa lá, côn trùng hay nét sinh hoạt đời thường của bà con đã được ghi lại. Nó gắn liền với đời sống văn hóa của đồng bào nơi ngọn nguồn suối Lê.

Từ lâu, tôi đã nghe tên Làng Phào với những khao khát khám phá. “Đến Làng Phào, vào không muốn ra”. Năm mươi năm trước, làng chỉ có 14 nóc nhà. Cuộc sống nơi đây như một ốc đảo biệt lập, bình yên. Một thung lũng bằng phẳng, núi rừng giang tay ôm ấp. Muông thú đầy rừng. Khỉ từng đàn đi trộm lúa, ngô. Cá lội tung tăng dưới suối. Chuyện xưa, săn bắn hoang thú, bị gấu cào, beo, lợn rừng đuổi đã trở thành cổ tích.

Trên căn nhà sàn gỗ thênh thang, những cột to cả vòng ôm, tôi cùng Bí thư Chi bộ - Đinh Văn Ngoan, năm mốt tuổi, nhâm nhi chén trà nóng, nói chuyện làng, chuyện nước. Người Làng Phào có truyền thống cách mạng, góp công, góp của cho Chính phủ. Hôm nay, làng quê sầm uất nhà xây, nhà sàn kề nhau san sát. Làng đã ngót bẩy chục hộ. Bốn dân tộc Kinh, Tày, Nùng và Dao chung tay xây dựng nông thôn mới. Chuyện về người Kinh ở nhà sàn và người Tày không biết tiếng Tày; Về gian truân hơn sáu km đường ra xã; Về những bậc tiền bối đến khai khẩn đất hoang dựng làng; Về thâm canh hơn hai mươi lăm ha lúa nước… để hai trăm tám sáu khẩu không bị đói nghèo rình rập. 

No ấm đã về sàn. Nhà nào cũng chất chồng ngồn ngộn bao túi. Nhìn ra cánh đồng, trơ gốc rạ. Khói đốt đồng như dòng sông trắng trôi về trời. Khói thơm, quấn quýt bên trâu bò, gà vịt. Xa, phía chân đồi, bạt ngàn ngô đã trổ cờ, khoe trái. Tôi bước xuống cầu thang, chia tay lão nông, bàn tay chắc và chặt. Nắng chiều như nán lại chưa muốn về núi.

Lòng tôi cũng như nắng chiều muốn nán lại một miền quê bình yên. Miền đất của chiến khu Việt Bắc, của thi ca nhạc họa. Năm dân tộc nơi đây như năm nhánh ngòi đổ về một suối Lê; Như năm ngón trên một bàn tay, khuya sớm đoàn kết bên nhau vun trồng sự sống. Mưa nắng, thời gian có thể làm suối Lê đầy vơi, nhưng người dân ATK (An Toàn Khu thời kỳ chống Pháp) vẫn tròn vạnh một lòng thủy chung với Đảng, Bác Hồ.

Suối Lê, tháng 10/2017

 

L.N









Lượt xem: 121 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
68

Lượt truy cập:
366.972