LỜI MẸ DẶN. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU BÌNH
Thứ 2, ngày 24 tháng 4 năm 2017 - 9:16

Sáng, sinh ra và lớn lên bên xóm nhỏ nằm nép vào chân núi Ông Voi. Tất cả những căn nhà của cái xóm nhỏ ấy đều làm theo một hướng. Lưng tựa vào vách núi, mặt quay ra sông. Mùa mưa, nước sông lên cao, cái xóm nhỏ như sống kề với nước. Mùa khô, sông thu dòng, cái xóm nhỏ lại hóa cheo leo, vì phải xuống một cái dốc dài mới đến mí nước. Đêm nay cái xóm nhỏ ấy tấp nập, náo nhiệt, tưng bừng cờ đèn kèn trống, các tổ chức đoàn thể, Thanh niên, Phụ nữ… Tổ chức liên hoan, tiễn đưa những chàng trai của làng  ngày mai lên đường ra trận.

Khi tiễn con lên xe, mẹ rưng rưng nước mắt, mẹ dặn Sáng: “Vào bộ đội, dù gian khổ, khó khăn không được đảo ngũ con nhé. Phải chiến đấu anh dũng diệt quân thù như truyền thống lớp ông cha thời đánh Pháp. Khi nào hết giặc con phải về quê với mẹ, rồi lấy vợ sinh cháu cho mẹ, con nhớ chưa!”. Lời mẹ dặn Sáng đau đáu trong tim.

Sau những ngày tập luyện, Sáng được điều động về đơn vị trinh sát. Sáng nhớ lại lần đầu tiên ra trận. Tổ trinh sát gồm 4 người; Nghị, Đại đội phó; Đấu, trung đội trưởng; Phúc, tiểu đội trưởng; Tuấn, chiến sỹ, máy đo xa; Sáng, chiến sỹ, kế toán pháo, ba giờ sáng phải hành quân để tiếp cận thực địa, tính toán tọa độ cho pháo binh của mặt trận mở màn chiến dịch. Đội hình hành quân, người cách người 5 m, trời đã sáng dần lên, nhưng sương mù vẫn dầy đặc bao phủ kín đồi gianh. Đang đi, đại đội phó, đột ngột ngồi xuồng, phẩy tay cho mọi người lại gần, “có người” trước khi đi đơn vị đã quán triệt là, có phối thuộc với đơn vị bạn, nên cẩn trọng không bắn nhầm vào quân ta. Sáng, khom người căng mắt nhìn về phía bên phải, thấy lờ mờ có người đi lom khom, cách chừng 20 m, Sáng hỏi to:

- Mật khẩu… Không thấy trả lời. Đại đội phó, phẩy tay “Bắn” Sáng lao nhanh lên nấp sau hòn đá, điểm xạ, sau loạt đạn. Địch tháo chạy nổ súng về đội hình của ta. Tiếng Đấu hét lên, “phía sau hòn đá có địch”, Sáng, nhanh như cắt quay nòng súng lại, 4 mắt nhìn nhau lóe lên như một tia chớp, Sáng nháy cò điểm xạ 2 viên xuyên ngực, tên địch hộc lên rồi đổ xuống ngay dưới chân. Sáng hoa mắt, ôm ngực ngồi xụp xuống hòn đá thở gấp, Phúc và Tuấn lao đến, hỏi: “Bị vào đâu, có đi được không”, “không sao, em sợ quá anh ạ, trận đầu tiên mà anh”. Ba anh em tiếp tục đuổi theo một tốp địch dưới khe suối cạn, lúc này địch cho hỏa lực bắn cấp tập vào đội hình của ta, đại đội phó và trung đội trưởng đã hy sinh, còn lại ba người; Phúc tiểu đội trưởng, nói:

-  Tìm cách thoát ra khỏi nơi này, bảo toàn lực lượng,  tiếp tục đi đo đạc, hoàn thành nhiệm vụ.

Ngay từ trận đầu. Sáng được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai và được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại mặt trận.

Khi đang chuẩn bị bước vào chiến dịch mùa khô năm 1971. Sáng, nhận được tin mẹ mất qua lá thư của Chinh, người con gái ở xóm Voi. “Anh Sáng thân mến Anh có khỏe không? Anh vẫn còn ghét em... Vì chuyện… Anh hãy tin em.

Hôm Chi đoàn Thanh niên xã, sang nhà anh chơi, động viên anh ngày mai lên đường ra mặt trận, trong gói quà Chi đoàn tặng anh, có quà của riêng em tặng anh nữa đấy! Anh có thấy gì là lạ không?, em đoán là không…! À mà thôi em không nói nhiều nữa, không anh lại hiểu lầm là em…! Anh ơi, anh bình tĩnh nghe em nói! Mẹ anh mất rồi!... Anh cứ yên tâm, đừng suy nghĩ nhiều mà ảnh hưởng sức khỏe. Thôi em dừng bút. Chúc anh giữ gìn sức khỏe, công tác tốt”.

-  Mày nhận được thư à! Nhưng sao buồn thế, lại bị người yêu đá chứ gì, thôi quên luôn nó đi, khi nào về quê tao, tao tăm cho mấy em, gái quê tao, mày mà nhìn thấy thì thôi rồi ngất luôn! À hay là mày làm em rể tao nhé, nó đang học lớp 10 rồi, xinh hơn con người yêu phụ tình mày là cái chắc.

- Dần ơi! Mẹ tao mất rồi.

- Ôi! Thế à, chia buồn cùng mày nhé, đừng buồn nhiều nữa, hãy mạnh mẽ lên, không về được đâu, như tháng trước đấy, mẹ của Thủ trưởng Lực cũng mất nhưng Thủ trưởng cũng có được về đâu, biết làm sao được, đang ở mãi bên Lào xa lắm.

Khi mặt trời vừa khuất núi cũng là lúc đơn vị hành quân. Đêm càng về khuya, trời càng tối, từng người dò dẫm, dán mắt vào những miếng lân tinh được gắn sau lưng người đi trước. Toàn đơn vị cứ thế lặng lẽ bước đi không một tiếng động. Sau 8 tiếng hành quân căng thẳng, đơn vị đã vào tới vị trí chiến đấu. Lúc này là 2h30, toàn đơn vị lao vào củng cố công sự.

Đêm ấy, trời không trăng sao, toàn mặt trận im ắng đến gai cả người, thi thoảng những chùm pháo sáng từ trên những cao điểm 1236, Nậm Cọ, Khang Co phụt lên bầu trời rồi tắt ngấm. Sáng sách súng, lên khỏi công sự, trèo lên ngồi trên đỉnh tổ mối, phía dưới là hầm đài quan sát pháo binh. Sáng, cứ chong mắt nhìn về phía đông, nơi ấy là Tổ quốc, quê hương, người mẹ thân yêu của Sáng vừa ra đi mãi mãi, mà Sáng không bao giờ được gặp lại, không bao giờ được nghe những lời dặn dò, nhắn nhủ yêu thương từ mẹ… Mẹ ơi! Con nhớ mẹ nhiều lắm, mẹ đừng trách con mẹ nhé, vì con đang đi làm nhiệm vụ, ở xa mẹ quá, không về tiễn mẹ được. Con hứa sẽ mãi mãi là đứa con ngoan và luôn nghe lời mẹ dặn…! Từ đấy, Sáng lại càng coi những lời mẹ dặn, như một lời trăng trối trước lúc mẹ đi xa. Những lúc nghĩ về mẹ, Sáng lại nhớ đến Chinh.

Chinh, có khuân mặt trái xoan, đôi mắt to trong sáng, tính tình hoạt bát, sôi nổi, có giọng hát chèo rất hay, cô là Phó Bí thư Chi đoàn xã Cao Tiến. Thực ra, Sáng và Chinh hồi còn sinh hoạt ở Chi đoàn Thanh niên, hai người đã rất mến nhau, đi đâu làm gì ở xã Chinh và Sáng thường đi với nhau, ngồi cùng nhau. Nhưng từ khi Sáng nghe tin, Chinh đã có người con trai, tên là Sơn, con ông Bản, đã sang nhà bỏ trầu dạm ngõ. Nghe đâu ngày xưa hai gia đình đã hứa hẹn với nhau, nếu một trong hai nhà đẻ con trai, con gái thì sẽ gả cho nhau… Vì thế mà Sáng, lánh mặt Chinh, cho dù trong lòng rất muốn có Chinh. Anh bất ngờ khi nhận được tin báo mẹ  mất, lại từ người con gái mà anh yêu thầm nhớ trộm. Sáng viết thư cho Chinh ngay, nhưng biết viết gì đây? Trong đời chưa một lần viết thư cho cô gái  nào…! Suy nghĩ một hồi lâu, Sáng viết: “Chào Chinh, lời đầu… cho anh gửi lời thăm Chinh và gia đình… Anh không biết nói gì… Anh cám ơn Chinh đã báo tin của mẹ cho anh… Anh rất nhớ mẹ, nhớ quê mình nhiều lắm và nhớ… Chinh nữa…! À… à…! Anh nhờ Chinh sang nhà anh, nói là anh vẫn khỏe. Hẹn Chinh, một ngày không xa. Chờ anh nhé. Phu Keo, ngày…tháng…năm”.

Đúng 5h sáng, sương mù còn dầy đặc cũng là lúc Bộ tư lệnh mặt trận ra lệnh nổ súng. Tiếng chuông máy bộ đàm reo lên...

- A lô, bộ phận trinh sát pháo xin nghe. “A lô Mắt pháo, tính nhanh tọa độ cho pháo bắn vào căn cứ chỉ huy của địch, nơi có nhiều cần ăng ten... A lô nghe rõ không”.

- Mắt pháo nghe rõ, mục tiêu từ trái sang phải tọa độ Z5, phần tử A, tầm ngắm V thả lợn. Ầm… ầm, đạn bay  qua đầu lao vào mục tiêu.

- Báo cáo đại đội phó, bắn cực tốt ạ!

- A lô, Mắt pháo báo cáo, lợn đã vào đúng chuồng, xin chỉ thị, hết!

- Tốt lắm, Bộ chỉ huy mặt trận có lời khen ngợi các đồng chí. Chuyển làn, bắn vào trận địa pháo của địch rõ chưa “A lô, rõ”.

- A lô, Mắt pháo đây, chuyển hướng pháo, cao điểm Phu Keng, tọa độ là Y5,  phần tử A, tầm ngắm P, thả lợn.

- Báo cáo, tiếp tục thả lợn sang bên phải, tọa độ K5, đánh chặn địch đang tháo chạy, để bộ binh xuất kích.

-  Hết lợn rồi, đang chờ vận tải chở lợn lên.

- Trời ơi! Mấy ông pháo làm ăn kiểu gì vừa mở màn, kêu hết lợn là sao? Thôi đừng để giành nữa tiếp tục thả đi, mục tiêu đang ngon, bắn hỗ trợ để bộ binh xung phong… Bùng… Đoàng pháo của địch từ đồi năm mỏm chúng bắn thẳng vào đội hình ĐKZ của ta. Một quả đạn pháo nổ trên không cắt mặt trước cửa hầm của đài, tổ mối bị phát đi mỏm cao, dây điện bị đứt, đài không liên lạc được với trận địa pháo của ta. Sáng bị vùi trong đống đất dưới giao thông hào, khi tỉnh dậy thấy Hải, y tá đang ga rô vết thương đùi cho Thảo tiểu đội trưởng bị gãy xương đùi. Hải mếu máo “Anh Sáng ơi, anh Cầu, đại đội phó hy sinh rồi, em vừa bế anh vào trong hầm, bị mảnh đạn vào ngực, vỡ tim anh ạ... Hu... hu...” Hải khóc nấc lên, “thôi đừng khóc nữa”.

Lúc này là 8h15’ sáng, trời đã bớt mù sương, phía trước, xung quanh đài, cỏ gianh, cháy, mùi thuốc súng khét lẹt, pháo từ cao điểm năm mỏm chúng vẫn bắn vào đội hình của ta đang ém dưới khe cạn chờ lệnh xuất kích. … Reng… reng, Sáng cầm ống nghe. Anh như trút cơn tức giận lên nòng pháo, địch vừa cướp đi người chỉ huy, người đồng đội thân yêu của anh.

- Bắn đi, bắn thật nhiều vào... Tọa độ P5m, còn bao nhiêu thả hết vào đấy dập đầu chúng xuống, bắn… bắn đi!

Sau loạt đạn pháo của ta, phía địch đã câm họng, bộ binh, xe tăng của ta xuất kích. Lợi dụng lúc pháo ta bắn, địch chưa kịp ngóc đầu dậy, các chiến sỹ bộ binh lao lên áp sát các mục tiêu. Khi pháo ta ngừng bắn, bộ đội ta nhảy vào các chiến hào, công sự của chúng. Sáng gọi điện cho pháo bắn lên cao điểm 1236, rồi vào nói với anh Thảo:

-  Anh nằm đây chờ vận tải vào cáng ra ngoài, cố gắng chịu đựng nhé, em đi với bộ binh truy quét địch rồi em sẽ quay lại. Sáng, xách súng AK, mang theo 4 quả lựu đạn, 200 viên đạn, lao ra ngoài nhanh như một con sóc đuổi theo bộ binh, vừa chạy được hơn 10 mét, anh gặp tổ súng cối 60 ly, cả 3 người vừa hy sinh, anh thấy đạn vẫn còn 12 quả, lập tức một mình lấy lại góc, tầm rồi thả đạn vào từng toán giặc Vàng Pao và lính đánh thuê Thái Lan đang tháo chạy phía bên phải, anh quan sát, thấy bên phải cạnh gốc cây khô to, một ổ đại liên của địch đang xả đạn về phía quân ta, quay súng, lấy lại tầm thả hai quả vào đấy, thấy tung xác lên trời, bộ binh thấy ổ đề kháng của địch bị tiêu diệt, nhanh chóng xung phong truy kích địch. Bắn hết 12 quả đạn cối, anh kéo 3 chiến sỹ vào nằm cạnh nhau, rồi lấy chiếc dù pháo sáng đắp lên người, anh tháo miếng lân tinh trên người một chiến sỹ đặt lên trên tấm dù để đêm tối các chiến sỹ vận tải vào lấy thương binh, tử sĩ nhìn thấy, Sáng, nói “Các đồng chí cứ nghỉ ngơi nhé, chờ đồng đội đến đón, tôi đi trả thù cho các anh đây”. Anh cầm súng, lên lưỡi lê để sẵn sàng đánh giáp lá cà, đang chuẩn bị chạy lên phía trước thì thấy có tiếng người phía sau gọi to, “Này đồng chí”.

- Đồng chí giỏi lắm, lính cối hả, hoan nghênh đồng chí, đã hạ được ổ đề kháng, để bộ binh xung phong. Đồng chí đơn vị nào? “Báo cáo, tôi là Nguyễn Đức Sáng, Trinh sát pháo, đại đội 11, tiểu đoàn 21 pháo 85 ly. “Tốt, bây giờ đồng chí vòng bên phải cùng với mũi tấn công của đại đội 9 đánh thẳng vào mỏm một”.

Ở vị trí đón lõng của đại 10, 11 bắt đầu vang lên tiếng súng. Các chiến sỹ ở đây phải giành dật với địch từng tấc đất, chiến hào, khe suối, diệt hết toán này đến toán khác. Lúc này tất cả các bộ phận, Thông tin, Trinh sát, Quân y, Anh nuôi đều tham gia đánh địch. Sáng nói:

- Đề nghị đại đội cho phát huy hỏa lực phòng không, hạ nòng đánh địch trên mặt đất. Đề nghị được chấp nhận. Đại đội trưởng, ra lệnh.

- Khẩu đội 2, 3 vòng bên trái, khẩu đội 1 vòng bên phải truy kích địch”. Sáng, bám theo khẩu đội 2, 3 vòng trái nấp sau một hòn đá, nhằm từng tốp lính Vàng Pao, điểm xạ 2 viên một, đang nổ giòn thì hết đạn, anh tụt xuống thấp, lấy đạn trong túi cơm ra lắp vào băng, chỉ còn chưa đầy một băng đạn nữa là hết cơ số đạn 200 viên, anh phải để giành lại 5 viên phòng thân, rồi anh vận động lên phía trước, tiếp tục truy kích địch. Trên đường truy kích địch, một xạ thủ của khẩu đội cối bị hy sinh, Sáng lao vào đỡ lấy súng, không kịp tháo bệ, anh vác cả bệ nặng hơn 40 kg lao lên phía trước, địch mỗi lúc một gần, không kịp giá súng. Sáng hô to, “đặt súng lên mô đất cao, ghìm nòng súng xuống mà bắn”. Các khẩu đội đều làm theo lời của anh, tiêu diệt tại chỗ hơn 100 tên lính Vàng Pao và lính đánh thuê Thái Lan. Sáng, giao súng lại cho chiến sỹ số 2, số 3, anh tiếp tục truy kích địch, tiêu diệt 16 tên nữa. Trời về chiều đã có sương mù, anh chợt nghĩ đến nhiệm vụ của mình là ở đài và còn hai đồng đội nằm đấy anh phải quay lại. Khi về đến hầm là 6h, trời tối om, lại có mưa phùn, chờ mãi hơn 8h bộ phận vận tải mới vào lấy thương binh, tử sĩ. Đêm ấy anh phải ngủ lại một mình trong hầm ngoài mặt trận chờ lệnh của trên.

Kết thúc chiến dịch, Tiểu đoàn 6 đã loại khỏi vòng chiến đấu 760 tên địch, thu 18 súng cối 81 ly, 8 ĐK 75 ly và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đại đội pháo 21 diệt 250 tên, bắn rơi 3 máy bay vận tải, phá hủy hoàn toàn bộ chỉ huy mặt trận và trận địa pháo của địch. Riêng Sáng, tiêu diệt 72 tên, góp phần đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn quan trọng Cánh Đồng Chum. Sau những trận đánh thắng giòn giã của quân ta trên nước bạn Lào. Hiệp định Viên Chăn được ký kết, chấm dứt mọi hoạt động quân sự tại Lào. Tin chiến thắng được truyền đi nhanh chóng, làm nức lòng mọi người. Sáng, cùng đoàn quân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, trở về Tổ quốc. Đơn vị đóng quân tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Nghệ An. Sau khi ổn định nơi ăn ở, Trung đoàn bước vào huấn luyện, chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công, mùa xuân năm 1975. Anh và một số đồng chí trong Trung đoàn, được  cấp trên cử đi báo cáo thành tích tại Hội nghị thi đua quyết thắng toàn quân. Sáng, lại một lần nữa vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều Bằng khen, Giấy khen của Trung đoàn. Anh được thưởng 10 ngày phép, anh mừng lắm.

Khi trở lại quê nhà, đã ba ngày phép qua đi, nhưng chuyện giữa hai gia đình anh và Chinh vẫn chưa được suôn sẻ, bởi vì gia đình bên nhà Chinh chưa trả cái lễ cho nhà bên kia (nhà Sơn). Ông bố của Chinh nói:

- Mày, vẫn đang là dâu, con, nhà người ta đấy con ạ. Chinh cãi lại bố:

- Ai bảo, tự dưng…. Con có đồng ý đâu, bố nói dễ nhỉ! Ai là dâu, con, nhà anh ấy, tự làm, tự chịu! Bố đồng ý cho con với anh Sáng lấy nhau đi, anh ấy chỉ còn mấy ngày nữa là phải lên đường trở lại đơn vị vào Nam chiến đấu rồi, anh ấy không có thời gian đâu, tối nay gia đình anh ấy sang thưa chuyện đấy, bố đừng làm khó dễ người ta! Không là, chúng con khác tự lên Ủy ban đăng ký đấy… Con đi đây!

- Này, quay lại tao bảo đã, chưa nói xong đã bỏ đi! Thế, con đã nghĩ kỹ chưa? “Con nghĩ kỹ rồi”! Được rồi, tối nay bố phải sang bên nhà người ta, nói với nhà người ta một câu, chả gì cũng là người lớn với nhau! “Vâng, hoan hô bố”.

Đám cưới của Sáng và Chinh, được tổ chức theo phong trào đời sống mới. Cũng giống như mọi đám cưới thời bao cấp lúc đó, đời sống còn khó khăn, thiếu thốn mọi bề. Khẩu hiệu: “Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ”. Quà mừng cưới, để ngay trên bàn cô dâu, chú rể, chậu men, phích nước, xoong quấy bột cho trẻ em, dép nhựa trắng tiền phong, bộ ấm chén… Tất cả để nguyên, không bao gói, ai cũng nhìn thấy. Bàn cô dâu, chú rể có một lọ hoa. Khai mạc có đốt pháo. Đại biểu xã, Đoàn Thanh niên phát biểu chúc mừng, hai gia đình căn dặn cô dâu. Rồi liên hoan văn nghệ, uống nước chè tươi, ăn kẹo vừng, hạt dưa, mỗi người một điếu thuốc lá Tam Đảo, vui vẻ nói, cười nghe hát những bài ca cách mạng…

Cũng lạ đấy. Ở cái thời khó khăn, thiếu thốn, đất nước vẫn còn chiến tranh, cái chết đến bất cứ lúc nào, nhưng người ta vẫn vui vẻ, vẫn hát say sưa những bài ca cách mạng: Cuộc đời vẫn đẹp sao…

Sau 10 ngày nghỉ phép, Sáng trở lại đơn vị. Vào những tháng cuối năm 1974, đầu năm 1975, cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến nhanh chóng ngày càng có lợi cho ta. Đơn vị anh nhận lệnh tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Hướng tiến công, Tây Bắc  đánh vào căn cứ thiết giáp, pháo binh, sau đó đánh thẳng vào tiểu khu Đắc Lắc, Sư đoàn bộ binh 23 ngụy. 9h sáng, ngay từ loạt đạn đầu pháo binh đã bắn trúng các mục tiêu, các ổ đề kháng, trận địa pháo của địch, một kho đạn pháo của địch nổ tung, 11h, ngày 11/3/1975 lá cờ quyết thắng của ta đã tung bay trên nóc nhà sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Ngày 23/3/1975 Buôn Ma Thuật được giải phóng. Sáng, lại cùng đoàn quân tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam, mùa xuân 1975. Trong chiến dịch này, một lần nữa anh vinh dự được Nhà nước, Quân đội tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đơn vị đã lập danh sách đề nghị Nhà nước xét tặng danh hiệu cao quý, “Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân” cho anh. 

Đất nước ta đã được hưởng hòa bình, mọi người, mọi gia đình hân hoan ngày đoàn tụ. Anh vui mừng khôn xiết, anh sẽ giải ngũ về quê, đoàn tụ cùng gia đình, với người vợ thân yêu, cùng nhau xây dựng kinh tế, sinh con, nuôi các con khôn lớn, hưởng một cuộc sống êm ấm, thanh bình bên dòng Lô quê anh. Nhưng có ngờ đâu, niềm mong ước ấy chỉ là trong giấc mơ của anh.

Tháng 3 năm 1979 “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới…” Anh lại cùng đơn vị hành quân lên biên giới phía Bắc, góp sức cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Thời gian trôi đi. Nhân chuyến công tác, anh tranh thủ về thăm nhà. Vừa về đến sân kho hợp tác, gặp ông Thông, anh gọi bằng ông chú, vẫy tay:

- Anh, về đấy à! Vào nhà chú, chú có chuyện muốn hỏi anh.

- Có chuyện gì thế chú!

Ông Thông, hút điếu thuốc lào, từ từ nhả khói lên trần nhà. Ông kể cho anh nghe những điều ông nghe được từ những người dân trong xã Cao Tiến, nói về  ông Thái, chú ruột anh Sơn, không xác nhận giấy tờ gì đấy có liên quan đến anh. Ông Thông tức giận đập cái chén xuống bàn, làm nước chè tươi bắn tóe cả vào mặt Sáng.

- Quân khốn nạn! Nó thù anh cái chuyện anh với chị Chinh lấy nhau đấy! Nó đi nói khắp nơi là anh cướp vợ người khác, anh công thần… Tôi đã vào nhà nó, và lên tận Ủy ban xã, tôi nói như tát nước vào mặt chúng nó, vì đã đặt điều nói xấu anh. Tôi, hỏi anh! Đơn vị có về xác nhận giấy tờ, lý lịch cho anh không?

- Dạ, cháu cũng không rõ lắm, việc này là do cấp trên… Mới lại việc của tổ chức, người ta cũng không cho mình biết đâu ạ!

Đúng là anh không biết thật. Có phải chăng vì chuyện này, mà việc đề nghị cấp trên phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho anh bị trục trặc không? Anh nghĩ, thành tích của anh là từ trong chiến đấu ở chiến trường, đã được Nhà nước, Quân đội công nhận, địa phương thì có liên quan gì đến những chiến công, thành tích của anh, mà lại đòi xác nhận. Còn bảo anh công thần và cướp vợ của người khác, lại càng không đúng sự thật…!

Sáng, nghĩ mông lung. Anh không về nhà ngay, khoác ba lô lên vai, đôi chân đưa anh ra bờ sông Lô, nơi chan chứa nâng niu, bao kỷ niệm, vui buồn một thời của anh. Mùa này dòng sông phẳng lặng, nước trong xanh, chảy êm đềm. Chiều đang dần buông, một làn sương mờ màu tím, phủ lên mặt sông, lan tỏa ra một khoảng rộng, trùm kín cả bãi bồi giữa sông…!  Tiếng chuông nhà thờ phía bên kia sông, vang lên… Binh… bong, như  cùng Sáng thả hồn vào khoảng không vô tận. Sáng ngẩng mặt lên trời nói to! “Mẹ ơi! Con đã trở về với gia đình, hàng xóm, vui với ruộng đồng như lời mẹ dặn”.

 

 

N.H.B

Tin mới nhất









Lượt xem: 703 views    Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
8

Lượt truy cập:
380.992