NĂM THÁNG ĐI QUA. TRUYỆN NGẮN CỦA THÙY DUNG
Thứ 4, ngày 17 tháng 8 năm 2016 - 14:31

Trước ngày lên thăm con, bà Thành ra mảnh ruộng gốc ngõa ngồi đó hàng giờ. Mảnh ruộng vừa mới gặt còn trơ gốc rạ thoang thoảng mùi thơm của giống lúa mới. Bà thì thầm: “Mảnh ruộng này của mày đấy Biên ạ, mẹ đã làm hộ mày mấy chục năm rồi… Mày chả về hộ mẹ, cứ đi biền biệt thế hả con??” Kéo đuôi chiếc khăn vuông đội đầu, bà chấm chấm hai  khóe mi.

Nắng chiều tháng Bẩy vừa oi nồng vừa gắt gao. Gỡ cái nón đã bung vành trên đầu, bà dừng lại ở ngõ phe phẩy quạt, mồ hôi hai bên thái dương, trên trán chảy ròng xuống mặt, quệt tay áo lau một lượt từ trán xuống đến cằm nhưng mồ hôi vẫn còn đọng vì những nếp nhăn hằn sâu dưới lớp da nhăn nheo.

Ông bà lấy nhau rồi mới bắt đầu yêu vậy mà cũng sinh được năm người con, ba con trai, hai con gái, đặt tên con lần lượt là Điện, Biên, Vang, Chiến, Thắng.  Anh Điện từ khi sinh đã ốm yếu, mụn nhọt đầy người như cái giẻ vắt vai nên mãi 5 năm sau ông bà mới sinh cậu con trai thứ hai rồi từ đó sòn sòn năm rưỡi một đôi. Trộm vía, những đứa sinh sau đứa nào cũng bụ bẫm, khỏe mạnh.

Ông là con trai duy nhất lại có những năm người con, còn bố mẹ già nên trong diện ưu tiên không phải ra mặt trận chống Mỹ. Nhưng sau chiến dịch Mậu Thân, đất nước chìm trong đau thương, tất cả nhân lực, vật lực dồn cho chiến trường, ông trốn gia đình ghi danh vào bộ đội, để lại phía sau bố mẹ già, vợ và năm đứa con thơ dại. Vợ ông tần tảo làm lụng không kể khuya sớm lo đảm bảo cuộc sống cho tám miệng ăn, thôi thì bữa đói bữa no, bữa cơm độn khoai bữa chỉ toàn sắn cũng qua tháng, qua năm.

Ông trở về, tặng lại cho bà những cơn đau vết thương khủng khiếp, quằn quại vì trong người ông còn mảnh đạn không gắp ra được. Bị thương trong chiến trường Quảng trị, mảnh đạn trúng bụng khi chuyển ra viện quân y thì vết thương đã nhiễm trùng, lại chuyển gấp ra Hà Nội. Sau khi vết thương ổn thì lại nhiễm trùng vết mổ, vì vậy mấy tháng trời ông nằm trong bệnh viện, khi được ra viện thì ông được phục viên. Trên bụng ông dấu vết còn lại là đường mổ hình chữ Y. Mỗi lần kể lại chuyện chiến đấu với vợ con ông đều nói “chiến tranh là chiến tranh, chiến tranh không phải trò đùa…”  Nhiều đêm trong cơn mê ông còn vùng dậy hô “Xung phong”.

*

Lại chiến tranh.

Khi chiếc loa phóng thanh đầu làng vang tiếng quân nhạc cũng là lúc những tin tức được đưa về từ biên giới, kéo dài từ phía Tây sang phía Đông của sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Ngồi trên hè lắng nghe, ông Mỳ thở dài: “Tổn thất, thương vong trong chiến tranh không có một thứ gì so sánh được, nói gì thì nói cũng phải tôn trọng sự thật…” bà từ dưới bếp lên xen vào “Thì đài vừa nói đã loại khỏi vòng chiến đấu bao nhiêu tên địch đó thôi, ta chiến thắng…” Ông không nói thêm câu nào lẳng lặng bước vào giường nằm vắt hai tay lên trán.

Mỗi ngày, trên con đường quốc lộ từng đoàn xe tải đón những chàng trai trẻ ra chiến trường. Từng tốp học sinh đã đứng hai bên đường đợi đoàn tân binh đi qua, họ ném lên xe hoa quả, bánh kẹo, thuốc lá, giấy bút… Những lời chào đan xen nhau, quyện vào tiếng động cơ của xe tạo nên một âm thanh hỗn độn “Các anh lên đường mạnh giỏi, mang chiến thắng trở về nha…”, “ra chiến trường nhớ viết thư về cho chúng em đấy”…Từ trên xe cũng vọng xuống những nụ cười “Chào bà con, chào tất cả mọi người, chúng tôi ra mặt trận đây…” Những bàn tay vẫy vẫy chới với nhỏ dần khuất sau lớp bụi. Người ở lại bùi ngùi, rút trong túi chiếc mùi xoa lau nước mắt…

Buổi chiều hôm đó, ông tha thẩn đi vòng quanh khắp làng, mỗi nhà ngồi dăm ba câu chuyện về mùa màng, thóc lúa về chăn nuôi về chuyện học hành của con cái rồi lại xoay quanh chiến sự. Đến nhà ông Thái, người bạn lính cùng thời đi B. Ông Thái xách ra chai rượu, hai ông nhâm nhi với mấy quả chuối xanh. Uống cạn ly rượu, giọng ông Thành buồn buồn:

- Thằng Điện con tôi đấy, hai tư hai lăm tuổi rồi mà lơ ngơ như đứa trẻ mười ba, kể cũng buồn ông ạ. Giá như nó khôn ngoan thì tôi cũng đã có con dâu, có cháu bồng bế rồi đấy.

Ông Thái động viên:

- Thôi ông ạ, bàn tay còn ngón dài ngón ngắn. Con cái là của trời cho, trời cho thế nào thì mình được vậy. Anh Điện anh í hiền lành như vậy cũng là may rồi.

Chiều muộn, ông mới lảo đảo bước về.

Trái ngược hẳn với anh Điện, Biên rất thông minh, học giỏi. Luôn đứng số 1 trong tốp học sinh giỏi của trường. Mỗi khi họp phụ huynh ông rất hãnh diện vì  thầy hiệu trưởng luôn lấy anh làm gương cho những học trò khác. Mỗi khi cầm giấy khen của con mang về, ông lại giao nhiệm vụ:

- Con phải cố gắng phấn đấu để sau này trở thành bác sĩ, một bác sĩ thật giỏi để cứu người.

Anh tủm tỉm:  - Vâng ạ!

Chiến tranh biên giới càng ngày càng ác liệt, hàng ngày vẫn chiếc loa phóng thanh đưa tin từ chiến trường, mỗi lần nghe xong ông đều bần thần, đôi mắt xa vời vợi nhìn khoảng không trống rỗng. Mỗi ngày, trên con đường quốc lộ những chuyến xe chở tân binh đi qua. Tiếng chào tạm biệt, tiếng dặn dò cùng những giọt nước mắt như cũng da diết hơn.

Khí thế chi viện cho tiền tuyến sôi sục từng trường học, từng ngõ xóm. Biết bao nhiêu học sinh những năm cuối cấp ba, khai tăng tuổi, trốn gia đình cắt máu viết đơn tình nguyện. Khi khám tuyển cố nhét vào túi quần mấy cục đá cho đủ cân. Anh Biên con trai ông cũng nằm trong số đó.

Hí hửng cầm giấy báo “Trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” khoe với bố mẹ, cả nhà ngớ người… Mẹ đấm thùm thụp vào lưng anh:

- Ai cho mày trốn bố mẹ đi khám hả con? cuối năm mày mới tốt nghiệp cơ mà. Mẹ không cấm nhưng mày phải lấy vợ, có con rồi mày muốn đi đâu thì đi?

Anh im lặng, lâu lắm sau anh mới vỗ nhẹ vào tay mẹ:

- Mẹ ơi! Con đủ tuổi rồi mà. Con muốn được ra mặt trận cầm súng đánh nhau với kẻ thù. Con trai lớp con đứa nào cũng đăng ký mẹ ạ.

Lúc này thì bà mới bật khóc:

- Con ơi! Đó là nơi một sống hai chết chứ có phải đi tham quan đâu hả con? Nhỡ mày đến đó rồi mày không về nữa thì sao?  Mày mà chết thì mẹ sống làm sao được chứ?

- Con làm sao mà chết được, mẹ cứ yên tâm hết chiến tranh con sẽ trở về, trở về con mới lấy vợ.

Từ khi biết con gia nhập ngũ, bố anh không nói gì linh tính đã cho ông biết thằng con trai của ông sẽ không bao giờ ngồi yên trên ghế nhà trường đâu, ông biết từ khi mấy thằng cùng lớp thì thụp chúng nó nói là đi chăm thầy giáo nằm viện nhưng làm sao qua được mắt ông. Rồi cái ngày nó trở về, vết băng trên tay còn rỉ máu, nó nói tay nó bị đứt vì nó rứt cái mầm chít để ăn… Đêm đó, nằm bên con, ông chỉ dặn dò: “Trong chiến tranh mọi chuyện đều có thể xảy ra, con là đứa con ngoan, học giỏi, bố hy vọng con sẽ là một chiến sĩ tốt”. Nói đến đó, ông đã thấy tiếng thở của con rất đều rồi. Ngồi dậy nhìn con từ đầu đến chân, đúng là con ông đã lớn “bằng sào, bằng gậy” thật rồi, nó có suy nghĩ, có lý tưởng riêng cũng như ông thủa xưa.   

Buổi tối trước ngày anh lên đường, thằng Toàn có biệt danh Toàn “cộc” đưa cho Biên bộ quần áo lót nó nói:

- Mẹ tao mua đấy, tao chưa mặc đâu tặng cho mày, mỗi lần mày mặc thì nhớ đến tao nhé, mày đi trước sang năm tao mới đủ tuổi. Hẹn gặp mày ngoài mặt trận.

Đưa lại bộ quần áo cho Toàn, Biên cười:

- Tao làm sao mà mặc được quần áo của mày, mày cầm lại đi.

- Không quần áo lót mặc rộng tí cũng không sao, rộng cho nó mát.

Cái Tâm dúi vào tay Biên bộ bàn chải, kem đánh răng:

- Ở đó chỉ toàn con trai mày cũng không được ở bẩn đâu đấy.

Sáng hôm sau, ông đèo con lên huyện đội.

Đều đặn mỗi tháng ông, bà đều nhận được thư của anh. Trong thư anh nói, anh khỏe, thao tác trong huấn luyện rất tốt vẫn luôn được khen.

Hết ba tháng huấn luyện anh gửi thư về chỉ vẻn vẹn:

Con đã hoàn thành đợt huấn luyện, kết quả Tốt. Ngày mai con chính thức ra mặt trận. Khi nào đến đơn vị mới, con sẽ viết thư về. Bố mẹ và gia đình mình giữ gìn sức khỏe nhé! Kính thư - Con trai!

Từ lá thư đó, mãi tận gần năm tháng sau, bố mẹ anh mới nhận được thư, trong thư anh nói anh đã đến và hiện tại đang ở Vị Xuyên “…Họ nói đây là mặt trận ác liệt nhưng Trung Quốc chỉ quãi đạn thôi chứ làm sao mà trúng vào bộ đội ta được. Chúng con ở trên này đều khỏe, anh em rất yêu thương nhau, lúc nào cũng vui như tết, ăn uống đầy đủ và ổn, bố mẹ yên tâm đừng lo nghĩ gì ảnh hưởng đến sức khỏe. À, lâu nay bố còn hay đau vết thương không? Mẹ có tuổi rồi, cần nghỉ ngơi nhiều hơn việc đồng áng để cho mấy chị em chúng nó làm, mẹ nhé! Trời tối rồi, con không viết được nữa đâu… Con chào bố mẹ! Cho con gửi lời hỏi thăm bà con trong xóm…”.

Ông, bà cứ chờ đợi những lá thư tiếp theo nhưng chờ mãi, chờ mãi mà không nhận được thêm lần nào nữa. Bà sốt ruột cứ nhắc đến anh liên tục. Linh cảm của người lính qua chiến tranh khiến ông im lặng, mỗi buổi tối nghe tình hình chiến sự từ chiếc đài ông lại nằm nhìn trân trân lên trần nhà, rân rấn nước mắt.

Hơn một năm sau, vào buổi chiều mùa hè nắng như đổ lửa, một anh bộ đội đạp chiếc xe Thăng Long cũ đến nhà ông.

Từ trong bếp nhìn ra ngõ thoáng  bộ quân phục , chân bà nhíu lại không bước nổi, nói không thành tiếng “Thằng… Biên… thằng… Biên… nó về này ông ơi! Các con ơi! Anh Biên về này…”. Giây phút này ngay anh bộ đội cũng ngỡ ngàng, đứng như trời trồng giữa sân. Phát hiện ra người lính ấy không phải con mình, bà ngẩn người giây lát rồi mới bình tĩnh mời anh vào nhà. Anh giới thiệu:

- Con tên là Dũng, học cùng lớp,  nhập ngũ cùng ngày và sau này cùng đơn vị với Biên.

- Thằng Biên nó có khỏe không hả con? Sao nó không gửi về cho bác cái thư?

- Biên vẫn khỏe, không biết con về nên Biên không kịp viết thư, con về lấy gạo cho đơn vị ghé qua nhà tí con đi ngay thôi.

Lẽ ra, anh báo tin cho gia đình biết bạn đã hy sinh nhưng anh không biết bắt đầu từ đâu và nói như thế nào với ông, bà. Trong ba lô chiếc kim đồng hồ cứ tí tách, kỷ vật cuối cùng mà anh lấy ra từ túi áo trước khi cõng bạn, cái xác mất chân phải về tuyến sau. Cuối cùng, anh quyết định không nói gì.

Tiễn anh ra tận đầu làng, ông Thành cầm ghi đông xe đạp nhìn sâu vào mắt anh:

- Anh hãy nói thật cho bác biết, thằng Biên nó hy sinh rồi đúng không?

Ôm chặt vai ông, bặm răng cắn vào môi dưới, nhìn ông bằng đôi mắt nhuốm nước - anh gật đầu. Ông Thành buông thõng tay, nặng nề ực khan:

- Tôi biết ngay mà! Thấy anh về là tôi đã đoán ra rồi, rất cảm ơn anh vì anh đã không nói, chứ bà nhà tôi biết thì bà chết mất. Thế bây giờ thằng Biên nó nằm ở đâu?

- Bạn hy sinh tại Thanh Thủy, Vị Xuyên vào ngày 12/7/1984. Hiện đang nằm tại nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên, đây là chiếc đồng hồ cháu gửi lại bác.

Cầm chiếc đồng hồ, tay ông run bần bật, mồ hôi và nước mắt chảy ròng trên khuôn mặt xương xảu. Mãi sau, ông nói:

- Thôi anh đi đi, kẻo muộn. Khi nào về thì ghé qua nhà tôi anh nhé!

  Ông giấu nhẹm chuyện đó cho đến ngày gia đình nhận “Giấy báo tử”. Biết con trai không bao giờ trở về, bà rầu rĩ  khóc rồi ốm lăn lóc, mấy tháng trời như vậy khiến bà tiều tụy gầy như cái xác ve. Ông suốt ngày bên vợ động viên, an ủi dần dần bà mới bình tâm, nguôi ngoai.

Minh họa: Tân Hà

 

Ngày nằm chốt ép mình trong vách đá giữa chốn biên thùy sương giăng và lạnh, hai thằng gối súng cạnh nhau Dũng nói với Biên:

- Nếu còn sống trở về, tao sẽ làm em rể của mày khi đó tao với mày ngồi uống rượu ôn lại chuyện bắn nhau ở đây thì hết sẩy nhỉ?

Biên vỗ vai bạn:

- Nếu tao hy sinh, mày còn sống thì mày thay tao chăm sóc bố mẹ tao nhá.

Dũng lại tiếp:

- Nếu tao hy sinh thì sao?

- Thì ngày truy điệu của mày tao sẽ bắt em gái tao cái Vang đội khăn trắng.

Hai người cười, cười cũng không dám cười to rồi lại khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi khi nhắc đến người thân. Mỗi lần nhớ lại chuyện này, Dũng lại ngồi bần thần cả giờ đồng hồ.

Hết chiến tranh Dũng trở về không phải vì lời hứa mà yêu thương em của bạn thật sự, thế rồi họ nên duyên. Anh xin bố mẹ vợ cho ở rể, âu là phần trách nhiệm với lời hứa đối với người đã khuất. Từ ngày đó, trong nhà đã có những tiếng cười, những bữa cơm vui vẻ hơn.

Những người lính trận trong mặt trận Vị Xuyên trở về, họ mang trong lòng vết thương chiến tranh không bao giờ xóa nhòa, nhất là trận chiến đêm 11 và 12 tháng Bẩy. Trận đánh mà phía ta tổn hại nặng nề nhất, mấy quả đồi pháo địch quần thảo chỉ còn trơ lại một màu đỏ au của đất, của máu và thi thể quân nhân, chi chít hố mìn và đạn pháo không một ngọn cỏ nào có thể ngoi lên được. Nỗi đau như thấu đến trời bởi những  ngày đó, trời mưa tầm tã nên dẫu việc tải thương vất vả nhưng nhiều đồng đội được cứu sống. Và… cũng còn rất nhiều đồng đội của các anh nằm lại chính những sườn đồi những khe đá và cả vực thẳm này. Sau này, các anh lấy ngày 12 tháng Bẩy hàng năm là ngày Giỗ trận. Ngày giỗ đặc biệt của những người lính cận kề cái chết còn may mắn trở về - Giỗ đồng đội!

Nhận được cuộc gọi của anh trưởng ban liên lạc, nói ngày, giờ tập kết để “Thăm lại chiến trường xưa” cả ngày anh Dũng  bần thần. Anh quyết định năm nay sẽ cho mẹ và vợ con đi cùng. Biết tin, mấy đêm liền bà không sao ngủ được.

Chiều hôm ấy bà bảo với anh Dũng:

- Con đi chặt cho mẹ ít lá chuối, lá bánh tẻ còn lành đấy nhé!

- Vâng, mà mẹ lấy lá chuối để làm gì ạ?

- Mẹ bảo chặt thì cứ chặt về cho mẹ…

 Đêm trước hôm đi bà dậy từ ba giờ sáng  nấu cơm, thịt gà rồi nắm từng nắm gói cả cơm và thịt bằng lá chuối cho vào túi xách.

Đến điểm cao 468. Dũng chỉ tay về phía đồi đối diện giải thích cho mẹ và vợ:

- Trước kia con với anh Biên nằm trong mỏm đá đó suốt cả tháng trời, ăn lương khô và uống nước lấy lên từ con khe này dưới thung lũng.

Nhìn theo hướng chỉ tay của con

bà hỏi:

- Thế thằng Biên nó hy sinh ở

chỗ nào?

- Anh ấy hy sinh ở phía bên này -Dũng chỉ tay chếch về phía bên trái quả đồi có tên 772, trên đó còn một phần thi thể của anh mà con không thể nào tìm thấy.

Bà nheo nheo đôi mắt hướng về phía bên đó, cây cối đang lên xanh trở lại, đâu đó vọng về tiếng chim, gió lao xao khiến những lá cây vẫy vẫy. Trên bầu trời cao xanh, có hai dải mây trắng hình hai chú chim ưng bị gió đẩy lại gần nhau gối trên mỏm  núi chìa màu trắng đá vôi. Chưa bao giờ bà can đảm như lúc này, trái ngược hoàn toàn với sự chuẩn bị tâm lý của con rể, anh lo mẹ sẽ xúc động... mẹ sẽ gào khóc khi đến đây.

Bà ngồi xuống, mồ hôi bết những sợi tóc bà gặt vắt lên hai bên tai. mồ hôi thành dòng chảy dài xuống cổ, xuống lưng áo... bà lẩm nhẩm: “Vậy là đã 32 năm”.

Năm tháng đi qua cuộc đời một con người vô tình hay cố ý đều mang những dấu ấn hằn sâu trong tâm trí họ. Một thời điểm nào đó có thể ta lãng quên nhưng nó sẽ bùng dậy khi ta chạm vào ký ức.

Vừa trải tấm vải đỏ xuống mặt bàn, vừa bày lên đó những nắm cơm với thịt, thắp mấy nén nhang cắm vào bát, bà gọi:

- Biên ơi! Các con ơi về ăn cơm!

Bà hướng đôi mắt nhìn phía đồi đối diện nheo nheo, u uẩn chỉ cần chớp sẽ có những giọt nước lăn ra, bà nói: - Cha bố nhà anh, ngày xưa anh nói với tôi là khi hết giặc anh về mới lấy vợ, giá như anh về thì bây giờ anh đã là ông rồi đấy… anh, lừa mẹ!

Bà ngồi xuống bẻ từng nắm cơm như thể chia phần, cầm một miếng vừa ăn bà vừa nói:

- Gạo này là ở cái mảnh ruộng mẹ chia cho mày đấy Biên ạ! Bây giờ các em nó làm nếu mày về có phải đỡ đần cho các em đỡ vất vả không chứ? Mày cũng không muốn ở lại nơi này, mày cũng không muốn phụ công bố mẹ đúng không con? Mẹ thương mày lắm, thương mày nhất nhà mày có biết không con?

Tất cả mọi người xung quanh lặng đi. Những giọt nước mắt bắt đầu trào khỏi bờ mi, những nén hương kẹp giữa hai bàn tay khói theo dòng nghi ngút, run rẩy.

Bà lại tiếp:

- Nơi mày ở các bạn đông vui thế này, mẹ chả đón mày về nữa đâu, ở đây có các bạn cùng trà cùng lứa, đứa nào cũng khôi ngô cũng oai phong, cũng súng đạn đầy người thế này cơ mà, ở đây để rồi nếu giặc tràn sang thì chúng mày còn ngăn bước chúng nó chứ?

Nói xong, bà đứng dậy cầm từng miếng cơm chia cho mỗi người có mặt.

Nắng bắt đầu len lỏi qua đám mây ẩm ướt trên đỉnh núi, xuyên qua khoảng không màu trắng đục, hơi nước tạo nên màu sắc huyền ảo, lung linh. Mẹ bước vào trong nhà tưởng niệm, lật vạt áo đến lượt cuối cùng, cẩn thận tháo kim băng mở miệng túi mẹ cầm nắm tiền bỏ vào “hòm công đức”.

Ngoảnh nhìn những mỏm núi nơi một phần thi thể con trai và đồng đội của con vẫn còn gửi lại, mẹ lặng lẽ… khóc! Rồi vội vã xuống núi, bóng của mẹ cứ nhỏ dần, nhỏ dần, từng đợt gió nhẹ thổi mái tóc màu sương, tà áo lụa của mẹ bay bay, nhịp gõ của tiếng dép lê nhỏ dần rồi lẫn trong màu xanh ngút ngát.

 

T.D

 









Lượt xem: 1326 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   NHỮNG DẤU ẤN CỦA VĂN NGHỆ TUYÊN QUANG. TẠ BÁ HƯƠNG - Đăng ngày:  05/06/2019
   NGÀY TẾT, BỐ THÔNG CẢM. KỊCH VUI CỦA XUÂN ĐẶNG - Đăng ngày:  16/03/2016

Tổng số: 2 | Trang: 1 trên tổng số 1 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
57

Lượt truy cập:
379.372