ÔNG LÃO BẢN TÀ PHIỀNG. TRUYỆN NGẮN CỦA TẠ NGỌC DŨNG
Thứ 2, ngày 7 tháng 12 năm 2015 - 7:39

Lão Han vùng dậy, chạy ra ngoài sân trong cơn mê sảng. Tiếng người vừa gọi lão trong mơ đang nhỏ dần rồi mất hút trong cơn gió đông đang thổi hun hút từ các dãy núi trên bản Tà Phiềng. Ngoài sân, một màu đen đặc quánh vẫn đang bao phủ, mới nửa đêm mà, trời cuối đông lạnh buốt, nhoi nhói như hàng ngàn mũi kim đâm vào da thịt đang nóng hừng hực làm lão bừng tỉnh. Dạo này, hằng đêm lão vẫn thường gặp những cơn mơ như vậy, trong cơn mơ ảo ảnh, lão thường gặp những giọng nói, gương mặt của những người thân đã khuất từ lâu, nói chuyện với lão. Lão thấy vợ con, người dân bản, có cả những người mặc quân phục tả tơi, nhàu nát, vẫn về nhắc một chuyện gì đó mà khi tỉnh, lão lại quên hết “Ôi, ta đã già rồi, hay mộng mị, cái con ma nó lại luôn về hành hạ mệt mỏi quá! phải đi tìm về chỗ cũ thôi”, ngồi thừ trên phiến đá kê cạnh sân, lão nghĩ lẩn thẩn.

Trời vừa tờ mờ sáng, người bản Tà Phiềng đã thấy lão Han lưng đeo gùi, tay cầm con dao quắm, vừa đi vừa phát cây cỏ dẹp đường, vượt qua ngọn núi Lang. Tới một thung lũng, có vẻ như xưa kia, ở đây là một ngôi bản nhỏ, vẫn còn lờ mờ ít vết tích còn lại ở mấy vạt ruộng bậc thang  cây cỏ mọc um tùm, vài cái cột mục ruỗng nằm trong hàng rào đá rêu xỉn màu thời gian. Loanh quanh một lúc, đến một mảnh đất bằng bằng lão rẽ cây vào, tới cây đào có mấy nấm đất xung quanh gốc ngồi xuống, dòng nước mắt đùng đục chảy ra từ hai con mắt cũng đùng đục lăn trên gò má nhăn nheo. Lão lẩm bẩm “Lâu nay tao yếu, không lên thăm chúng mày được, đừng trách tao nhé!”.

***

Trận pháo kích chụp vào bản Tà Phiềng cũ cũng lúc sáng sớm như thế này, hơn ba mươi năm trước.

Lão Han đang dẫn đứa con gái lớn đi lên núi kiếm lá thuốc, thường thì một số cây thuốc hái lúc sáng sớm, đang ngậm sương mới chứa trong mình chúng nguyên vẹn các chất dược liệu tốt nhất. Nhà lão có nghề làm thuốc cha truyền con nối, cứ đời cha lại truyền cho con trai trưởng, đến đời lão thì thật không may, lão sinh ra những bốn đứa con gái, đứa lớn nhất mười tuổi, đứa nhỏ nhất hai tuổi, nhưng chẳng lẽ để thất truyền những bài thuốc mà bao đời tổ tiên nhà lão mất công nghiên cứu. Con nào cũng là con, gái cũng truyền, còn hơn là để sau này không ai chữa bệnh cho bà con dân bản nữa. Lão quyết định dạy cho con bé cả, sau khi nói với gia đình.

Sương trắng giăng mờ mịt khắp ngọn núi Lang, như một bức màn trắng khổng lồ chụp xuống cái bản người Tày nằm dưới chân ngọn núi. Hai bố con, người này nhìn không rõ người kia dù chỉ cách vài bước chân, đang dò dẫm vạch những tán lá ướt đẫm leo lên, thì lão nghe thấy có tiếng vo vo như đàn ong bị vỡ tổ bay loạn xạ qua đầu, tiếp theo những tiếng nổ trầm đục dưới chân núi vọng lên, lão ớ người ra nghe một lúc rồi như sực tỉnh, hét lên với đứa con cũng đang ngẩn ngơ: “Pháo bắn vào bản mình rồi, chạy về mau!” rồi chụp tay nó, hai cha con vừa tụt vừa lăn lông lốc xuống, chạy về hướng nhà mình.

Cảnh tượng trước mặt thật hãi hùng, suốt đời lão không bao giờ quên được cái khoảng khắc chứng kiến khi ấy, cái bản nhỏ gần hai chục nóc nhà ven con suối Cuôn bị phá nát tanh bành, cháy rừng rực, người chết, gia súc, gia cầm xác bị xé nát văng khắp nơi, cháy đen, vàng ửng. Gần như không ai chạy kịp, khi những loạt đạn pháo bất thần, tàn nhẫn và rất chính xác bắn từ bên kia biên giới sang lúc tờ mờ sáng, khi dân bản còn chưa dậy. Khói đen bốc cuồn cuộn che kín bầu trời, trùm lên khắp bản thay cho màn sương trắng yên bình mới cách đó một lúc.

Lão như chết đứng trước ngôi nhà đang cháy của mình, rồi ngã vật xuống, bên tai vẫn nghe văng vẳng tiếng gào khóc lạc giọng của đứa con gái.

***

- Chúng nó nghịch lắm! - Vần, vợ lão vừa nói vừa chỉ tay hướng cây đào, mấy đứa con lão đang túm tụm trên đó.

- Hầy, chúng mày là con gái mà cũng leo trèo à, xuống ngay, ngã đấy! - lão quát lên, có vẻ bọn trẻ con không nghe thấy tiếng của lão, chúng mải đu cành đào. Cũng lạ, cây đào lão trồng đã lâu, mà mỗi khi mùa xuân về, quanh các sườn núi, những rừng mận nở hoa hồng rực, nó vẫn không cho ra một cánh hoa nào. Đứa con út mới hai tuổi đang đu đưa, cành cây oằn mình rồi gãy đánh rắc  làm lão điếng người, vội lao đến, nhưng không kịp, chỉ túm được  cành cây, đứa con lão biến mất ngay khi lão tới, Vần và hai đứa còn lại cũng vậy. Lão hét lên “Vần ơi! các con ơ... ơ... ơi!”.

***

- Ông ơi! ông kêu gì mà sợ thế? Dậy uống thuốc cho nóng đi ông!

Lão Han vẫn đang trong cơn mộng du, mở mắt nhưng tay nắm chặt cô gái đang đứng trước mặt “Vần, mày vẫn ở đó đấy à, các con đâu, chúng nó đâu?” khiến cô gái hoảng sợ, luống cuống “Không, cháu là Hoa đây mà, cháu không phải bà, ông tỉnh đi ông!”.

Nhìn đứa cháu gái đang lúi húi thổi lửa đun ấm thuốc sắc trên bếp, lão Han bần thần người, mẹ nó chính là đứa con duy nhất còn sống sót nhờ đi theo ông lên núi ba mươi năm trước, mẹ nó lấy chồng ngoài phố huyện, bận túi bụi, dạo này bố ốm không về chăm sóc được, may quá con Hoa đang học cấp III được nghỉ đông, liền cho nó về ở với ông nội. Hoa càng lớn càng giống bà nội từng tý một, từ khuôn mặt, dáng đi cho đến mái tóc dài đen dày vấn quanh đầu, nó không biết điều ấy, và càng không biết hôm xõa tóc gội đầu bên bờ suối nó bị ông nội quát lên nhà “Dân phố huyện, chúng mày sung sướng quen, lên đây bắt chước con gái bản, gội đầu bị gió cảm chết à!”  ngạc nhiên nghe ông nói vậy nhưng lại thấy chính ông nó lảo đảo ôm đầu như người bị trúng gió.

Nó giống bà nó quá, trong các cơn mơ, ông thấy Vần, người vợ ông đang cởi chiếc khăn cúi đầu thả làn tóc xuống dòng nước. Cái hồi ấy, khi lão còn trẻ, anh Han mới mười tám hai mươi tuổi, mỗi lần chiều tà, khi nắng sắp tắt trên núi Lang, khi đi lấy củi trên núi, hay xách vài con sóc, con don, con dúi săn bẫy được, về đi qua nhà Vần thấy cô đang gội đầu dưới suối, mái tóc đen, dày cùng cái gáy trắng ngần thấp thoáng sau khuôn áo chàm khiến anh ngẩn ngơ nhiều lắm. Sau này khi thành vợ thành chồng, có với nhau mấy đứa con, lão vẫn hay thích ngắm vợ như thế mãi.

Từ sau cái hôm đi lên chỗ nền nhà cũ ở bản Tà Phiềng cũ, lão về ngả một trận ốm kịch liệt, rồi như kẻ ngẩn ngơ, hàng đêm nằm mơ kêu vang khiến bà con dân bản tưởng lão bị ma ám, kêu gọi thầy mo, lão gạt đi “Tao bị yếu thần kinh thôi mà, cán bộ trạm y tế bảo thế, đừng cúng ma, lạc hậu lắm rồi, tao không ưng cái bụng đâu”.

***

- Pá ơi, đừng bỏ bọn con đi nhé!

“Không, không, pá không bỏ các con đâu”, lão thảng thốt: “Lại đây với pá nào!”.

- Sao chúng mày, đứa nào cũng đen như này? tiếng hỏi của lão như rơi vào thinh không. Mấy đứa trẻ, cả Vần nữa, cô đeo đứa nhỏ nhất trước ngực, mặt xám bụi tro. Lão chạy tới ôm vợ con vào lòng, nhưng khi với tay chạm vào Vần cùng lũ trẻ con, họ như tan biến, chỉ còn hình dáng lờ mờ ẩn hiện sau làn sương.

Đứa con gái nhắc lại, “pá đừng bỏ chúng con nhé! Không có pá, chúng con, cả mế nữa, buồn lắm!”.

Lão Han nhất quyết không chịu tản cư về phía sau, dù cho người cán bộ biên phòng nói thế nào lão cũng không chịu: “Vợ con tao ở đây, dân bản tao còn ở đây, tao phải trông cho chúng nó, không đi đâu hết!”. Người sĩ quan thở dài, lắc đầu chịu thua, nhưng rồi anh cũng thuyết phục được lão, gửi đứa con gái về dưới huyện. Nhìn đứa con nước mắt ngắn nước mắt dài bám vạt áo quân phục người lính lếch thếch đi về tuyến sau, lão thấy se lòng. “Con về dưới ấy khác có nhà nước lo, trên này với pá nguy hiểm lắm!” rồi lão bắt tay vào cùng những người dân quân bản bên dọn dẹp, thu những xác chết đã cháy đen đem chôn. Ngay nền nhà lão làm mấy nấm đất, như người dưới xuôi làm mộ gió cho người đã khuất, cho vợ và các con lão, trồng lên một cây đào, xong chặt gỗ, lấy tranh làm một túp lều nhỏ ngay bên cạnh. Như vợ con vẫn sống cùng lão.

Những người lính mang quân hàm đỏ lên đông lắm, thay cho những người mang quân hàm màu xanh. Trận đánh vừa rồi, cái đồn công an vũ trang chỗ mỏm núi bị thiệt hại nặng, họ gần như chẳng còn người nào. Các đơn vị bộ đội vào chỗ đồn cũ, đào hầm hào, công sự, súng to súng nhỏ cồng kềnh vác qua cửa lều nhà lão, đặt khắp nơi. Tự nhiên, nơi ở của lão thành chỗ trú chân cho những người lính, mỗi khi lên chốt hay về phía sau lấy vũ khí, lương thực, họ đều tạt vào uống với lão một chén nước trà rừng đặc chát hay chén rượu ngô khê nồng lão tự nấu. Lão và họ trở thành những người bạn thân thiết, kiếm được cái gì trên rừng cũng mang biếu họ, và ngược lại, có người lính nào ra huyện về lại mua biếu lão vài thứ vật dụng lặt vặt như con dao, ít thuốc lào, đôi pin con thỏ hay chia sẻ vài món nhu yếu phẩm trong cuộc sống lính chốt khó khăn của họ như đôi giày, bánh xà phòng...

***

Một cái bản mới được dựng ngay bên bờ con suối Cuôn.

Người tản cư từ các vùng lân cận về đông lắm, có cả người Kinh dưới xuôi cũng lên. Họ nhanh chóng bắt tay vào chặt gỗ, cắt tranh dựng những ngôi nhà tạm để ở.  Ban đầu, họ được nhà nước hỗ trợ những vật phẩm, lương thực hàng ngày để sinh sống. Núi rừng rộng lớn, chim thú có nhiều, ngày ngày, người vào rừng đốn củi, phát nương trồng lương thực, người may vá thêu thùa, trồng cấy rau cỏ quanh nhà, sau mấy năm cuộc sống đã ổn định dần. Lúc này, người dân bản mới ngồi nghĩ một cái tên để gọi cho bản của mình.

Người ta thống nhất, vẫn lấy cái tên Tà Phiềng, cái bản sát biên giới, đầu nguồn con suối Cuôn chảy từ bên kia sang, đã bị trận pháo kích xóa sổ, đặt tên bản mới, để tưởng nhớ những người đã khuất.

Người ta cũng nhớ tới bố con lão Han, những người còn sống sót sau trận pháo ấy. Họ cho người lên gọi, lão vẫn không chịu về, đứa con gái lão, người ta đã đưa xuống tỉnh, vào học một trường nội trú.

***

Những đốm sáng ma quái lấp lòe, lúc đỏ lúc xanh nhảy nhót trên đỉnh núi Lang, lão đứng ngắm mãi, băn khoăn “Hầy, sau hồi này ở đâu ra nhiều thế nhỉ, ngày trước còn hay lên đó lấy lá thuốc, ta đâu có gặp”.  Vài đốm sáng chợt bay thẳng về hướng lão đang đứng, khi đốm sáng tắt, lão nhận ra:

- “Ồ, mấy cán bộ biên phòng, cả thằng Phìn dân quân nữa, vợ con tao đâu?”.

- “Chúng nó đang ở với lão đấy chứ, cả dân bản nữa, họ đang uống rượu lễ cơm mới đấy, lão không thấy à?”.

Nghe người dân quân nói, lão mới nhận ra, mình đang đứng ở cái bãi đất trống giữa bản, cạnh một đống lửa to, dân bản đang túm lại thành từng toán, cười nói, chiếc sừng trâu truyền tay nhau, mỗi người tợp một ngụm rồi trao qua người khác.

- “Lễ cơm mới năm nay bản làm chung à?”, lão lại hỏi. Một người trả lời: “Nhà cháy hết rồi, ra đây làm chung thôi, không có gì ăn, bọn tao phải uống nước suối đấy!”.

Một bàn tay mơ hồ giật giật gấu áo lão từ đằng sau. Vần với mấy đứa con đang đứng cạnh: “Con đói, pá về lấy cơm cho bọn con ăn!”.

Bẵng đi được một thời gian, tiếng súng pháo lại vang rền trở lại, không gian lúc nào cũng luẩn quẩn mùi thuốc súng, có lần pháo bắn vào cái bản hoang, sát gần chỗ lão ở, nhưng không trúng vào túp lều của lão. Những người lính từ mỏm núi nhìn thấy khói bốc lên vội chạy về xem lão bị sao không, thấy lão chả sứt mẻ gì, họ đùa: “Chắc là vợ con bố phù hộ, không cho đạn bay vào nhà đấy, nhìn xem, xung quanh có còn gì đâu”. Cả dãy núi cây cỏ gần như cháy hết, đúng là còn mỗi cái nền nhà lão, vẫn tươi tốt. Người cán bộ chỉ huy, nghe lính của anh gọi là chính trị viên cứ tới nhắc lão chuyển chỗ ở, anh lo cho lão. Nhưng rồi anh cũng thất bại như người chỉ huy biên phòng dạo trước, lão nói “Tao còn ở đây cho chúng nó ăn cơm chứ, có chết thì ở đây cùng vợ con luôn”.

Trận đánh lớn nổ ra, suốt buổi sáng, tiếng súng nổ đì đoàng chỗ dãy núi chạy dọc đường biên, lão ở nhà sốt ruột không yên, khoác khẩu súng kíp lên vai định lên trên đó xem có giúp gì được mọi người không, thì gặp những người lính đang khiêng vác nhau về, người bị thương, bị chết nằm la liệt ngay trước túp lều “Bọn con thắng trận này, nhưng bị hy sinh nhiều quá bố ạ!” một người lính nghẹn ngào. Trong những người bị thương, lão nhận ra cả anh chính trị viên, bị một viên đạn vào mồm, trổ ra phía sau gáy, máu phun ra sủi bong bóng ở mồm, lỗ thủng đằng sau cùng tiếng lọc khọc khi  thở, anh chết ngay trên tay lão, khi đang định cố nói điều gì đó.

Không có thời gian và điều kiện chuyển hết tử sĩ về tuyến sau, những người lính chôn ngay đồng đội tại quanh vườn nhà lão, rồi họ quay lên chiến đấu tiếp.

***

Lão Han bật dậy, trong tay vẫn nắm khư khư cái gậy chống, lại một cơn mơ ảo ảnh nữa, con Hoa vừa cùng mẹ nó lay lão, thấy lão tỉnh dậy khóc sụt sịt. Sao hôm nay trong nhà lão đông người thế này, cả vợ chồng con gái, cả cán bộ trạm y tế và có cả vài người dân bản nữa. Hóa ra lão bị sốt mê man mấy ngày hôm nay, liên tục mê sảng, gọi tên hết người này lẫn người kia, khiến đứa cháu sợ quá phải đi báo mọi người, người y sỹ trạm xá sau khi tiêm cho lão một mũi, dặn Hoa liên tục lấy khăn ướt chườm cho lão, xong mọi người lục tục ra về.  

Người chính trị viên đứng trước mặt lão từ lúc nào, mặt nhòa một màu nâu đỏ. Sau lưng anh, mấy người lính, quần áo quân phục rách nát, ám khói quện với bùn đất. Giọng của anh phát ra như bị hụt hơi, lọc khọc trong miệng nhưng vẫn rõ tiếng “bố à, về tuyến sau đi, ở đây không an toàn đâu, bọn con vừa đánh giặc vừa phải lo cho bố thế này không yên tâm chút nào cả”, “Hết chiến tranh lâu rồi mà, đơn vị chúng mày đâu có còn, sao chúng mày không về nhà đi?”. Người cán bộ chính trị hồ hởi: “Hết chiến tranh thật rồi hả bố?” Nhưng rồi anh nghiêm nghị: “Chúng con muốn về nhà lắm, nhưng chưa được giải ngũ bố à, bọn con vẫn là lính, vẫn đang làm nhiệm vụ, phải ở đây gìn giữ, bảo vệ điểm chốt này”. Lão ngơ ngác, nhìn sang mấy người lính đang ôm súng, thấy người nào cũng gật đầu. Những người lính này đã chết rồi mà, chính tay lão chôn họ, thấy lão có vẻ không hiểu một người nói thêm “Chúng con sẽ ở mãi đây, trên dải đất này, gác biên cương, khi nào người nhà lên, bố dẫn họ vào chốt bọn con chơi nhé! nhớ bảo họ mang cho bọn con nhiều thuốc lào và quần áo vào đấy, bọn con rét lắm”. Rồi lão thấy họ xếp hàng, theo người chính trị viên đi, không phải, như bay lên các mỏm của núi Lang. “Năm nay, bọn con sẽ xuống chỗ bố ăn Tết cùng mọi người dân bản bố ạ!”, tiếng chính trị viên văng vẳng vọng xuống.

Rồi lão lại thấy những người dân bản cũ, trong đó có Vần cùng mấy đứa con, mặt người nào người nấy vẫn đen nhẻm, đứng xung quanh cái gốc đào đầu túp lều. “Cho chúng tôi ở nhờ nhé, năm nay sẽ có hoa đào nở Tết đấy!”.

Minh họa: Tân Hà

 

Chiếc chiếu nhựa được trải ra trên nền nhà cũ, bày la liệt những bộ quân phục bằng giấy, những bó thuốc lào sợi vàng rộm. Nén hương cắm khắp nơi quanh vườn tỏa mùi thơm phảng phất cùng làn khói hư ảo mơ hồ, những người dân bản Tà Phiềng mới đang  tò mò nhìn một nhóm người mặc quân phục, đeo huy hiệu cựu chiến binh làm lễ cho đồng đội, dân bản đã mất ở đây. Trong số họ, cũng ít ai biết về cuộc chiến tranh ba mươi năm trước có một ngày xảy ra sự kiện thật đau thương chính nơi họ đang đứng, vì họ chỉ là thế hệ con cháu, cũng chỉ nghe qua câu chuyện từ những người lớn tuổi kể lại.

Lão Han run run chống cây gậy ra chỗ cây đào, những chiếc nụ phơn phớt hồng đang nhú ra xen các búp lá non xanh thắm, hứa hẹn vài ngày nữa sẽ cho ra những đóa hoa bích đào đỏ thắm. Lão thì thầm “Vần ơi, các con ơi, dân bản ơi, các bộ đội ơi, chúng mày đang về đây đấy hả, đồng đội cùng dân bản mang cho chúng mày nhiều thứ lắm, hãy lấy đi nhé!”.

Trên con mắt đùng đục của lão, chảy ra hai dòng nước cũng đùng đục, lăn xuống gò má nhăn nheo, chợt qua hai hàng nước mắt nhạt nhòa, lão thấy những người dân bản quen thuộc, những người lính đang đứng quanh gốc đào, mỉm cười với lão, những linh hồn lưu lạc, đang ở lại chốn này, ngày đêm canh gác biên cương.

Đã đến tháng Tết, xung quanh cây cối cũng đang đâm chồi nảy lộc, xanh mơn mởn đầy sức sống, màn sương quanh ngọn núi Lang đang loãng bớt dần đi. Xuân đã về.

T.N.D









Lượt xem: 466 views    Bản in

Các tin đã đăng:
   BÍ MẬT VÀ THẦN CHẾT - Đăng ngày:  04/07/2019
   THỜI ĐÃ QUA. TRUYỆN NGẮN CỦA TRIỆU ĐĂNG KHOA - Đăng ngày:  04/07/2019
   CỰU PHÁO BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ KỂ CHUYỆN. GHI CHÉP CỦA ĐỖ ANH MỸ - Đăng ngày:  04/07/2019
   CHỌN ĐỒ NGHỀ. TRUYỆN NGẮN CỦA QUANG KHÁNH - Đăng ngày:  04/07/2019
   NGHỀ BÁO VÀ NHỮNG KỶ NIỆM. BÀN MINH ĐOÀN - Đăng ngày:  04/07/2019
   HAI NHẠC SỸ NGƯỜI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG. MẠC NINH - Đăng ngày:  22/06/2019
   ĐÌNH THỌ VỰC. PHÙ NINH - Đăng ngày:  22/06/2019
   GIA DŨNG MỘT ĐỜI CHO THƠ. LÊ NA - Đăng ngày:  22/06/2019
   DƯỚI MÁI NHÀ SÀN. TRỊNH THỊ THỨ - Đăng ngày:  22/06/2019
   BẠN CHỮ. TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ XUÂN THU - Đăng ngày:  22/06/2019

Tổng số: 524 | Trang: 1 trên tổng số 53 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 07/GP-TTĐT ngày 06/1/2015 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Mai Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
81

Lượt truy cập:
379.373