Cái đê bạc
Thứ 4, 1/6/2022 - 11:6
* Truyện ngắn dự thi của Hồng Giang

Minh họa của An Bình

 

Trần đời. Chả có ai lo được cho con như cụ Đa. Người ta lo cho con đến năm mười tám, đôi mươi tuổi đã là hết trách nhiệm làm mẹ đối với con. Từ đó trở đi con cái phải tự lập, phải có nghĩa vụ, trách nhiệm lo trở lại với đấng sinh thành. Ngay cả thời hiện đại như bây giờ, cha mẹ có điều kiện cũng chỉ lo thêm năm bảy năm, khi con học xong đại học, chưa kiếm được việc làm.

“Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”, mấy ai lo được cho con đến già đâu? Thậm chí không hiếm người làm mẹ, cứ mặc sức đẻ, con cái cả đàn, trứng gà trứng vịt một lũ, mới bảy tám tuổi đầu đã phải tự kiếm lấy mà ăn.

Có người tệ hơn, con còn đỏ hon hỏn đã buông bỏ cổng chùa, góc chợ, hay là bán cho người khác kiếm tí tiền độ thân!

Tôi đi đây đi đó, gặp gỡ cũng nhiều, nhưng chưa từng nghe thấy ai như cụ Đa. Ông con đã ngoài bốn mươi, sắp nửa trăm tuổi, bà mẹ vẫn lo cho từng bữa ăn, giấc ngủ. Y như thể ông con vẫn còn “con đỏ”, chưa thể tự lo thân để vào đời.

Sáng nào cụ cũng dậy từ lúc chưa rõ mặt người, nấu cơm nấu nước. Phần cơm giữa nồi cụ múc ra để vào cái liễn da lươn ủ vào cái chăn cũ để khi tỉnh dậy ông con có cái ăn, còn cụ chỉ ăn miếng cháy và thêm củ khoai hấp lại cùng với cơm. Thường là lúc ấy, mặt trời lên đã cả con sào. Ông con mới dậy rửa mặt, chải đầu, khoan thai ngồi bên cái bàn bằng trúc từ từ mở phần cơm. Ông ăn nhỏ nhẹ, thong thả từng miếng một như người chả vội gì. Ăn xong ông mở cái ấm ủ, rót ra bát nước chè xanh có tẩm gừng, sẽ sàng uống từng ngụm, như kiểu người ta uống thuốc. Rồi ông ngồi cả tiếng trên cái tràng kỷ bằng tre chuốt những móng tay để dài cong cong như vuốt mèo của mình. Chán chê mới ra võng nằm đọc truyện Kiều, hay thơ của Chu Thần Cao Bá Quát. Trên mặt bàn gần đấy có đủ cả “Chinh phụ ngâm”, “Hồng Lâu Mộng”, “Đại Việt sử ký toàn thư”... Có cả những cuốn bằng giấy ta, viết chữ Hán đen xì. Những cuốn sách chả biết bằng cách nào bà mẹ mua cho ông tự hồi ông biết đọc sách và lõm bõm học chữ Hán từ ông thầy đồ hồi còn ở quê. Bây giờ, khi bà cụ đã sang bên kia đèo, vào một làng người dân tộc. Bên nách cụ cắp chiếc thúng đan bằng mây có nắp đậy. Trong thúng có cái đê, con dao bài rất sắc, cái kéo nhỏ cắt vải cùng đủ loại chỉ màu ngũ sắc. Mùa hè cụ khâu màn, may yếm cho các bà các cô, vá áo xống cho các ông già, các cháu nhỏ. Mùa đông cụ may đệm, vá chăn cho những nhà khá giả.

Từ ngày lên rừng, cụ còn học thêm được lối thêu thổ cẩm của người đồng rừng. Thời của cụ, máy may còn hiếm. Cả huyện may ra có một vài cái, mà lại ở tít dưới tỉnh, xa cả chục cây số.

Hầu hết công việc may vá trong vùng chủ yếu đều làm bằng tay. Công việc này không phải ai cũng biết làm. Cụ khéo léo và có hoa tay làm những việc này từ hồi còn con gái. Kể cả thêu thùa, dưới quê cũng ít ai bằng cụ.

Ở vùng này người ta chủ yếu ăn chắc mặc bền, tay nghề thêu thùa của cụ ít khi được dùng đến. Năm thì mười họa mới có người đặt hàng khi có đám cưới hỏi đâu đó trong vùng. May mà dân vùng lam lũ, vào rừng đi núi nhiều, quần áo ít người lành lặn, vá víu là việc ai cũng cần. Liễn cơm cụ ủ ấm trong chăn đủ cho ông con ăn cả bữa trưa, không phải nấu. Cơm thổi bằng thứ gạo nương, vừa thơm, vừa dẻo. Giả như để đến chiều vẫn nóng hôi hổi, con cụ chẳng phải lo gì. Chiều buông, cụ chào nhà chủ cắp thúng ra về, sau khi đã nhận tiền công. Khi thì dăm đấu gạo nương, lúc mấy đồng tiền.

Dân làng có năm thất mùa, nhưng công việc của cụ vẫn chẳng ảnh hưởng là bao. Người đồng bào ai cũng quý người. Người có “công nghiệp” giúp được người khác như cụ lại càng được quý. Có nhà ngoài tiền công, còn  biếu thêm chục trứng gà. Mùa nhãn cho nhãn, mùa na biếu na. Ngày Tết nhỏ còn có cả bánh gai, bánh khảo... Ông con chả đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà mà của ngon vật lạ mùa nào thức nấy.

Dọc đường khi qua cánh đồng, lúc lội suối chẳng khi nào cụ không có thêm món mới. Lúc mớ cua đồng, khi vốc tôm suối, con nào con nấy trắng lây lẩy, trong suốt to bằng ngón tay út. Hôm nào không có gì cụ mới phải ghé quán Cây Vông mua chút tép khô, về chưng với lá sả. Đấy là những bữa kém chất tươi mà cũng hiếm khi xảy ra.

**

Có người không biết cho rằng ông Điệp là người không bình thường, bệnh tật, không vợ không con sao đó, nên cụ Đa mới phải chăm lo cho ông như vậy?

Thực ra ông chả làm sao, khỏe mạnh lại đẹp giai nữa là đằng khác. Nom bề ngoài ông có vẻ giông giống ông giáo làng hơn là người ở thôn quê chân lấm tay bùn. Dáng ông cao ráo, khuôn mặt sáng sủa, đôi mắt đen to dưới vầng trán cao, đôi môi hồng như môi con gái. Móng tay ông để dài, chuốt tỉa cầu kỳ, bóng bẩy.

Ông Điệp mồ côi cha từ năm lên sáu tuổi. Mẹ ở vậy nuôi một mình ông không đi bước nữa. Người ở quê lên nói gia đình ông ngày xưa khá giả. Từng có lúc bị quy oan thời cải cách ruộng đất. Bố ông bị đi cải tạo rồi mất trong tù. Đến khi sửa sai, được xuống thành phần thì ông bố không về nữa. Người ta cho mẹ con ông mảnh đất kề bãi tha ma của làng, mẹ con làm túp lều ở với nhau. Vùng quê ông mở hợp tác xã, nhưng mẹ ông vẫn là hộ cá lẻ. Mẹ con bà sống bên lề cuộc sống của dân làng, gần như không công ăn việc làm. Chính nghề may vá giúp mẹ ông vượt qua được đận này. Bà gửi ông bên đằng ngoại rồi ra Hà Nội kiếm việc gửi tiền về nuôi con. Nghề may vá bà học được những ngày cơ nhỡ, khó khăn này. Đến tuổi, ông theo học trường làng. Dù thành kiến giai cấp chưa hẳn được xóa bỏ, người ta vẫn cho những đứa trẻ như ông đến lớp. Đó như một đặc ân của thời bấy giờ.

Cũng là những năm tháng buồn, sau này ông rất sợ, không muốn nhớ đến. Dù cho có học giỏi hơn bạn bè cùng lớp, chúng bạn vẫn chẳng mấy thiện cảm đối với mình. Ông như chú vịt lạc giữa bầy thiên nga, đơn độc. Mẹ ông nói mẹ cũng chẳng mong gì sau này. Thôi thì học cho biết chữ. Con nhà “thành phần” ai người ta cho đi đâu mà vội tưởng?

Rồi ông lớn lên, trải qua từng đận của kiếp người. Nghĩa là cũng phải lấy vợ, sinh con như người ta.

Nhân sinh vạn nẻo, ai cũng có nẻo của mình.

   Những năm đó chiến tranh ác liệt, trai tráng hầu hết ra chiến trường. Anh nào ở lại hiếm, quý như “mì chính cánh” là cách như người ta hay nói thời bấy giờ. Nhớ rằng đó là thời “mì chính” còn là thứ đắt như vàng, cả làng may ra mới có một hai nhà “có điều kiện” đủ tiền mua. Anh nào còn có mặt ở làng là quý giá lắm. Có anh gù lưng, thọt chân, thậm chí méo mồm, ngọng líu ngọng lo vẫn đắt hàng, lấy vợ xinh như mộng. Khổ nỗi cho dù có dị dạng, xấu trai vẫn còn có giá hơn anh, nhà có vấn đề. Nói là sửa sai, xuống thành phần, anh Điệp vẫn là gia đình có vết.

Con cụ Đa, anh Điệp vẫn rất trở ngại khi muốn yên bề gia thất. Con nhà danh giá, nết đẹp người duyên chả đến lượt. Điều này càng khiến mẹ anh thương anh hơn. Chẳng biết có thực lòng hay bà nói để động viên, an ủi con mình: “Ồi dào, đào hoa bạc phận, vợ đẹp là vợ người ta, anh nào cũng dòm. Chả gì bằng chân chì hạt bột, xấu tý cũng được nhưng yên trí là vợ mình. Chả sợ đầu ở với chồng, đít ở với giai... Có các bạc nhà này cũng không ham”.

Rồi cụ tìm cho con trai một chỗ khả dĩ, một cô “đội sổ” về nhan sắc làng bên. Cô này hai gò má cao gồ, mặt lúc nào cũng nhăn nhăn như khỉ ăn gừng. Vừa khô chân, gân mặt, mình mỏng, khô như cái mo héo. Người như thế tưởng chừng khó khăn đường con cái. Nhưng không, cô mắn đẻ đến kỳ lạ. Cứ ba năm đôi, sòn sòn ba nhịp, sáu đứa con như thế ra đời. Cảnh nhà đã khan, đông con như thế lấy gì mà ăn? Giữa thời “hợp tác, hợp te” khó chồng lên khó.

Anh Điệp được mẹ cưng chiều từ bé chẳng biết làm gì, suốt ngày chịu vợ đay nghiến. Bà cụ Điệp thương con nhín ra tí vốn, mua cho anh bộ đồ cúp tóc. Anh ra chợ Đầu Đê làm cái quán cắt tóc. Hóng từ sáng đến chiều chả có ma nào đến cắt tóc, cạo râu. Mãi đến gần tối mới có anh đánh dậm từ ngoài đầm Vạc mò về, vào cắt tóc. Lóng ngóng thế nào, khi cạo anh Điệp làm sứt tí tai người ta. Anh này to con, bặm trợn, vừa mới ra quân về làng. Anh bị một vết thương vào đầu, tính tình ảnh hưởng sao đó, không bình thường. Chẳng những không trả đồng nào thoi luôn cho ông thợ nửa mùa mấy cái thụi vào mạng mỡ vì cái tội “cắt tóc đểu”! Anh Điệp lăn quay ra bất tỉnh. Đau sườn mãi gần tháng mới lành. Từ đấy anh không ra quán, chỉ ru rú ở nhà. Chị vợ càng được thể. Đi đâu chị cũng rêu rao vớ được của nợ, thà chẳng có chồng còn hơn! Cụ Đa uất lắm. Con cụ đẻ ra cụ chưa nói nặng nó bao giờ. Bây giờ lại có thứ đàn bà lăng loàn, xỉ vả nó như thế. Nó mà cả nghĩ, chẳng biết cơ sự gì xảy ra? Cụ cho mời mấy bà hàng xóm đến làm chứng, chỉ mặt nàng dâu mà rằng:

- Mẹ con nhà chị sợ chồng ăn hết phần thì từ nay ở riêng, có gì giữ lấy mà ăn. Con tôi tôi lo, không phiền đến cái mặt nhà chị.

Vợ anh Điệp không nói gì. Chỉ lủng bủng trong miệng không rõ tiếng. Mấy người hàng xóm cũng chẳng biết phân xử ra sao cũng lớ lẩn chuyện khác, rồi chào về.

Từ bữa đó, cụ Đa cho người ngăn đôi nhà bằng tấm giấy dầu đen xì mua ngoài chợ, người ta vẫn thường dùng lợp nhà thời ấy. Từ nay một hộ mà hai bếp, sáu ông đầu rau.

Anh Điệp vẫn ngày ngày lúc quạ sang sông mới dậy. Vợ con ở ngay cạnh đấy muốn làm gì anh cũng mặc kệ, chả quan tâm.

Bà cụ sáng nào cũng dậy sớm ra chợ Đầu Đê, buôn đầu chợ bán cuối chợ. Có gì kiếm được hai mẹ con thổi nấu, ăn với nhau. Bà con dâu với đám cháu nội sát vách coi như người ngoài.

Thời gian sau đó ít lâu, địa phương có chính sách đi vùng kinh tế mới. Nghe nói Nhà nước có chủ trương mở vùng trồng cây công nghiệp, cần di chuyển một số dân trong làng. Gia đình cụ Đa có tên đầu tiên trong danh sách.

Một bữa trống dong cờ mở. Đích thân ông Phó Chủ nhiệm hợp tác xã đưa bà con đi. Ô tô chạy mất ngày đường, lên đến nơi ở bây giờ.

Nơi bốn bề vách núi cheo leo, lau sậy rậm um tùm. Nơi “trâu gõ mõ, chó leo thang” toàn người dân tộc lúc bấy giờ chưa biết dân tộc gì? Chỉ thấy đàn bà mặc áo chàm dài quá gối, để răng đen. Người già người trẻ rất khó phân biệt. Tay người nào cũng nhựa chàm dính đen xì đến tận khuỷu tay.

Vẫn theo mô hình hợp tác xã như mọi khi. Chỉ khác không trồng khoai, cấy lúa như ở dưới quê. Ngày hai buổi vợ con ông Điệp ra đồng trồng mía ăn công điểm. Tháng tháng hợp tác cứ theo số lương thực công ty mía đường chuyển về mà chia cho xã viên. Lâu lâu trên phân về theo tiêu chuẩn xã viên mỗi người dăm lạng thịt, cân đậu phụ, chai mắm ngon.

So với ngày ở nhà, cuộc sống mấy mẹ con bà vợ ông Điệp tươi hơn một chút vì có đông nhân khẩu, phần được chia khá hơn người khác.

Riêng bà cụ Đa không còn sức ra đồng, chỉ vào các làng lân cận khâu vá, trần chăn bông cho người đồng bào. Tiêu chuẩn của hợp tác chẳng có gì, vì không có công điểm theo hợp tác, nhưng cụ kiếm được tiền, đời sống cũng không đến nỗi. Vẫn của ai người nấy ăn. Đồng rừng cây que sẵn, cụ thuê người cất cho gian nhà ở riêng hẳn ra chứ không chung căn nhà tập thể làm cho ở chung ngày mới lên. Hai mẹ con vẫn ở với nhau như ông Điệp chưa từng lấy vợ, chưa từng có con.

Lâu lâu có đứa con ông tự bên nhà sang chơi thăm bà, thăm bố rồi chúng lại về. Cũng may toàn đứa hiền lành, mỗi tội đứa nào cũng đần. Sang chơi bà mà hỏi câu nào trả lời câu ấy, ngơ ngơ như gà ông. Chả biết thớ lợ là gì.

Mô hình cây công nghiệp về sau vướng mắc sao đó, người ta bỏ. Hợp tác xã quay ra kiểu canh tác như ở dưới quê nhà. Được cái đất đai rộng rãi, hợp tác quản không hết, nhà nào cũng làm thêm một hai đám. Nhờ vậy so với hồi trồng mía có khi cơm ăn áo mặc khá hơn. Nhà thì tậu trâu, nhà mua đài, mua xe.

Riêng mẹ con cụ Đa chả sắm sửa gì. Ngoài ăn tiêu sinh hoạt hằng ngày, có người nói cụ còn dành dụm để cho con trai sinh sống sau này, khi cụ quy tiên, con trai chỉ còn có một mình!

Tình mẹ thương con đến thế là cùng. Tôi chưa thấy ở đâu, người nào lo cho con đến già như thế!

***

Năm tôi đi lính về làng thì bà cụ Đa đã qua đời. Những câu chuyện trên chỉ là tôi nghe người ta kể lại chứ chưa tận mặt nhìn thấy lần nào. Tôi nghe chuyện mà cứ nửa tin nửa ngờ. Làm sao trên đời này lại có người như thế được?

Nếu không có lần ông Điệp đến quán của mẹ tôi đưa cho mẹ tôi cái đê bằng bạc. Có lẽ tôi vẫn không tin. Đây là cái đê hình ống nho nhỏ, tròn tròn, dài độ hai phân. Những người may vá, thêu thùa chuyên nghiệp thường hay lồng ngón tay vào để mũi kim khỏi đâm vào tay.

Ông đến ngồi nhâm nhi chén rượu với lạc rang một lúc khá lâu như mọi lần rồi mới rụt rè bắt đầu câu chuyện. Khác hẳn mọi khi ông kể chuyện cho đám trẻ con chăn trâu bò. Chúng cứ hễ thấy bóng ông là kéo đến, xúm lại bảo ông kể chuyện. Sau rồi chúng trả công cho ông bằng cách nhổ tóc sâu, hoặc bóp vai, đấm lưng cho ông.

Quanh đi quẩn lại câu chuyện của ông vẫn là: “Tống Chân Cúc Hoa”, “Phạm Tải Ngọc Hoa” hay “Chiêu quân cống Hồ”. Hôm nào hứng lên ông mới kể chuyện “Võ Tòng đả hổ trên núi Cảnh Dương”. Hay chuyện “Lý Quỳ để hổ ăn mất mẹ”. Ở chốn khỉ ho cò gáy này, ngoài ông ra làm gì có ai biết được để kể những câu chuyện ấy?

 Có lần ông nói với tôi: “Một đời ăn cơm đọc sách, có những câu chuyện chẳng thể nói được với ai. Cái đó làm tôi buồn tôi chả thiết việc gì cậu ạ!”.

Tôi nghe thì biết vậy. Cũng chẳng để ý trong tâm tưởng ông còn có điều gì, chưa tiện nói ra? Nhưng tôi nghĩ, người ta bảo “khởi thủy là hành động”. Biết nhiều mà chẳng làm gì, cũng không ích lợi. Nghĩ là nghĩ thế, tôi không dám nói, sợ ông phật lòng.

Thấy ông giở trong bọc ra cái đê tôi cũng hơi tò mò. Ông bảo nó nặng hơn đồng cân, giá trị bằng nửa chỉ vàng. Ông bảo muốn nhờ mẹ tôi “cầm” hộ, ông cần ít tiền cắt thuốc. Ông nói gần đây ông thấy trong người khó ở, ăn không thấy ngon, đêm không ngủ được. Ông muốn có tiền cắt vài thang thuốc. “Chứng này bệnh của người già chẳng riêng gì ông”. Mẹ tôi nói thế. Ông vẫn nằn nì:

- Bà cố gắng cầm giúp em. Hay có người nào người ta muốn mua em nhờ bà bán hộ. Cam đoan là thứ này cả vùng không ai có đâu bà ạ. Bằng bạc thật đấy chứ không phải làm bằng xăng căng đâu. Bạc thì tôi biết, còn “xăng căng” thì chẳng hay nó là thứ khỉ gió gì?

Tôi bảo ông đưa cái đê tôi xem. Quả thật nó được gia công rất tinh xảo. Có hình con rồng chạm nổi, vờn quanh đám mây. Hai đầu lại còn họa tiết hoa dây rất đẹp.

Mẹ tôi thực tình không muốn mua vì khi đấy nhà tôi làm gì sẵn tiền để mua sắm vàng, bạc?

Cuối cùng ông nói thật. Số vốn liếng bà mẹ để lại đến nay ông đã tiêu hết. Như người ta có dấn có vốn làm ăn thì mỗi ngày mỗi khá. Còn ông đâu biết làm gì? Miệng ăn núi lở. Dành dụm chi li đến mấy rồi cũng hết.

Ông ân hận giá ngày trước bà cụ đừng giữ, bắt ông không được làm việc vất vả, có lẽ ông không gặp thảm cảnh bây giờ. Một đời không để mắt, không lo gì cho vợ cho con, giờ già vác xác về cậy nhờ vợ con, ông không muốn.

Tình mẹ thương con vô bến, vô bờ, nhưng thương như bà cụ Đa thì thật là tai hại. Tình thương nó mặn như muối, không thể thiếu trong đời, nhưng phải có chừng mực. Quá lắm, mặn quá liệu có ai ăn nổi không?

- Văn hay chữ tốt, thông hiểu kim cổ đông Tây mà vô tích sự, tôi buồn lắm cậu ạ! Chả trách người ta bảo văn hay chữ tốt, không bằng thằng dốt lắm tiền. Tôi là người thừa ở xã hội này. Bây giờ có nghĩ gì cũng không kịp nữa rồi. Ông nói mà nghèn nghẹn, rưng rưng. Tôi chẳng biết an ủi ông thế nào cho phải. Nhìn ông rơm rớm nước mắt cũng cảm thấy ái ngại trong lòng. Ngày ấy tôi đi xẻ gỗ thuê cho người ta cũng dành dụm được một chút. Định bụng mua cái xe Phượng Hoàng để lấy cái đi. Thanh niên trai tráng mà đi đâu cứ nhăm nhăm cuốc bộ, xem ra cũng kỳ lắm. Nhưng thấy tình cảnh ông Điệp thế này chả nhẽ mình làm ngơ. Thôi thì mua giúp ông dù chưa biết để làm gì. Đây là bạc thật, có cũng không đến nỗi thừa, cứ coi như của để dành vậy! Ông bảo cứ tạm đưa ông hai trăm. (Tiền lúc bấy giờ, hai trăm có thể tậu được con trâu mụng). Khi nào ông có, ông sẽ chuộc lại, coi như cho ông vay mà không tính lãi. Ông về rồi, mẹ tôi mắng tôi một trận nên thân.

Mẹ tôi bảo “tình cảm con người cũng quý như tài sản, không phải chỗ nào cũng mang ra đãi. Tiêu pha như con khó mà nên người”. Tôi không cãi. Trong bụng cũng còn phân vân, chưa biết mình làm thế đúng hay sai? Có cần thiết không? Ông ấy tiêu hết chỗ tiền ấy thì lấy ở đâu ra để sống tiếp phần đời còn lại?

Anh con lớn của ông kém tôi hai tuổi. Cậu ta cũng vừa ra quân. Thỉnh thoảng hay ghé tôi chơi, rủ đi chỗ này chỗ nọ. Cả hai chúng tôi đều chưa vợ, cặp kè với nhau là chuyện đương nhiên, rất bình thường. Tại sao tôi lại không nói câu chuyện này với cậu ta nhỉ? Chuyện ông bố cậu ta dù sao cũng thuộc về dĩ vãng, chẳng có gì để bàn. Mọi người mặc nhiên nó là chuyện bình thường không ai để ý vì người ta đã quá quen rồi. Nhưng đó là chuyện với người dưng. Lẽ nào cậu và các em cậu cũng không thấy có điều gì đấy phải xem xét và suy nghĩ lại? Ý nghĩ ấy của tôi chưa kịp nói với anh con ông Điệp thì đêm hôm ấy xảy ra một việc.

Nửa đêm ông Điệp dậy đi giải, không may dẫm phải con hổ phì ngay dưới gầm giường. Ông la lối, làng xóm vội vàng chạy đến. Bà vợ và mấy đứa con cõng ông về bên nhà mình, nhờ người lấy thuốc lá đắp tạm rồi đưa đi viện. Thuyền máy chạy gần đến bệnh viện thì ông mất!

Thời đó đường đi lối lại khó khăn, không như bây giờ. Cái chết của ông làm cho bà vợ và những đứa con ân hận mãi về sau.

Sau tứ cửu ông Điệp ít ngày, bà vợ ông ấy đến tìm tôi. Không biết ai nói chuyện mà bà biết trước ngày mất ông có đưa tôi cầm giúp cái đê. Tôi nhận là có cầm và đưa trả bà. Bà rơm rớm nước mắt nói:

- Giá như ông ấy không tự ái nặng quá, về với vợ với con thì đâu đến nỗi. Mà tôi với các con cũng có cái sai. Dù cả đời ông ấy không làm gì cũng giống như nước phải có vua, nhà có cây nóc. Cây nóc nhà có phải gánh vác gì như cột kèo đâu?

Nhưng không có không được. Con có cha. Bà còn kể một thôi một hồi nữa trong lúc chờ tôi lấy cho bà cái đê hôm nào. Tôi hỏi bà lấy cái này về làm gì, có thấy bà khâu vá bao giờ đâu? Bà bảo mang về làm kỷ niệm. Đời người dù đúng hay sai, có những thứ vẫn cần phải giữ lại. Nó như sự tích, bài học cho đời sau.

Bà Điệp đã mất hồi giáp Tết năm ngoái. Đôi lúc nhớ lại, tôi cứ hay nghĩ vơ vẩn: Chả biết cái đê ấy bây giờ có còn không và ai đang cầm?

H.G

Lượt xem:238 Bản in









Các tin đã đăng:
   Đường về bản - Đăng ngày:  22/07/2022
   Cổ tích nơi non ngàn - Đăng ngày:  25/07/2022
   Đất canh nông xưa - Đăng ngày:  20/07/2022
   Khi người lính trở về - Đăng ngày:  22/07/2022
   Dòng sông con gái - Đăng ngày:  04/07/2022
   Ngược nguồn Na Hang - Đăng ngày:  27/06/2022
   Bến đỗ bình yên - Đăng ngày:  07/07/2022
   Trai bản xuống phố - Đăng ngày:  29/06/2022
   Cô gái vùng chè - Đăng ngày:  12/07/2022
   Nỗ lực ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc - Đăng ngày:  20/06/2022

Tổng số: 726 | Trang: 1 trên tổng số 73 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
212

Lượt truy cập:
823.124