Những ngày không quên
Thứ 4, 11/5/2022 - 8:25
* Ghi chép của Nguyễn Hữu Dực

Minh họa của Lê Cù Thuần

 

Tan cuộc họp với Ban Giám hiệu nhà trường về. Đại đội trưởng Đức mông lung với bao nhiêu câu hỏi: Như vậy là sắp có đánh lớn, phen này lính ta tha hồ trổ tài, nghĩ vậy, Đức phải trả lời bao nhiêu câu hỏi trong lòng mình. Đơn vị vừa mới kết thúc khoa mục cuối cùng, hôm qua Trung đội trưởng Trung đội 4 Trần Hòa sau ngày lái độc lập báo cáo khoa mục khá tốt, những đồng chí tay lái yếu sẽ bố trí đi cùng những đồng chí tay lái khá, còn những đồng chí tâm lý đi đường chưa vững sẽ để A trưởng bồi dưỡng thêm. Sau khi ghi chép một số chuẩn bị vào sổ, anh gọi chính trị viên Việt sang hội ý, và nhắc liên lạc gọi các A trưởng, B trưởng họp bất thường.

Trời vào đông, những đám mây che phủ kín đỉnh núi Ba Vì. Năm nay không nhuận, tháng sau đã Tết. Những khóa huấn luyện trôi qua mau, bình thường giữa thời chiến này, bốn mươi lăm ngày hoặc quá lắm là hai tháng, những chiến sỹ lái xe ra trường sẽ vào tuyến lửa ngay. Khóa này vừa kết thúc bốn mươi lăm ngày hôm qua. Vinh dự hơn đợt này cả thầy và trò vào tuyến lửa làm nhiệm vụ. Khó khăn nhưng đó là nhiệm vụ của người lính. Mình là cán bộ, còn anh em chưa một lần ra trận, mọi câu hỏi… và trả lời đều được định hình trong đầu óc của Đức.

Nhìn phòng họp đã đầy đủ Đức đứng lên nói ngay: Vì tình hình khẩn trương nên mặc dù sắp đến giờ ăn cơm trưa, đại đội triệu tập các đồng chí để quán triệt nhiệm vụ mới.

- Thứ nhất: Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương có ý định tháng 1 năm 1975 tập trung đánh Buôn Mê Thuột, nếu tình hình và thời cơ thuận lợi sẽ chiếm Buôn Mê Thuột làm hậu thuẫn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

- Thứ hai: Giao nhiệm vụ cho trường lái xe thành lập ba đại đội xe vận tải, phối hợp cùng Đoàn 559 làm nhiệm vụ trên đường Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam.

Vừa dứt lời tất cả những người dự họp đều đứng lên vỗ tay không dứt. Lòng Đức xốn xang. Ôi! Những người lính quả cảm họ mong từng ngày được ra chiến trường, rồi sẽ chẳng có gì ngăn cản được họ. Đức thấy vui vẻ, mặt anh hồng lên. Anh vỗ tay trấn tĩnh mọi người: Nhiệm vụ vinh quang đang chờ đón chúng ta, song để làm được phải chuẩn bị hết sức cẩn thận và chu đáo. Việc này tôi sẽ có kế hoạch cụ thể với các đồng chí B trưởng. Còn các đồng chí A trưởng lo kỹ thuật xe và căn dặn chiến sỹ của mình.

Tháng 1, những trận gió mùa đông bắc ùa về kết hợp với những đợt không khí lạnh tăng cường làm cho thời tiết đã rét còn khắc nghiệt hơn. Quá khuya Đức mới đi ngủ, hồi chiều cô văn thư đưa cho lá thư nhà, lá thư ngắn nhưng anh biết bố mẹ anh vẫn khỏe. Chỉ có điều Đức hơi băn khoăn. Cái Đào em ruột Đức cứ nằng nặc đòi đi thanh niên xung phong, nó cho rằng tình hình ngoài tiền tuyến rất khó khăn vất vả, các bạn cùng xã nhiều người đã xung phong, có người còn viết đơn bằng máu. Đức chỉ lo cho bố mẹ già ở nhà, nhưng anh nghĩ còn có bà con hàng xóm. Trong lúc sôi động này hãy để cho trí khí của những người thanh niên xung phong thử sức mình. Biết đâu anh em lại được gặp nhau nơi tuyến lửa.

Năm nào cũng vậy những ngày giáp Tết lượng người, xe đi lại rất đông. Đã gần hai năm đế quốc Mỹ không còn ném bom miền Bắc, bây giờ hậu phương lớn chuẩn bị nguồn lực, vật lực cho tiền tuyến lớn tất cả đang đi vào chiến dịch, ở đâu cũng thế từ cán bộ lãnh đạo đến chiến sỹ đều lạc quan yêu đời, sôi nổi một khí thế lập công.

Quá nửa đêm, đại đội của Đức mới đến Bằng Tường, đây là địa điểm giao nhận xe của nước bạn Trung Quốc, theo lệnh đại đội của Đức được nhận bốn mươi xe mới, gồm có xe Giải Phóng (CA10) và xe Hồng Hà (CA30). Trước khi nhận xe Đức quán triệt: Đây là xe mới nước bạn giúp ta, các đồng chí phải bảo quản giữ gìn thật tốt, thực hiện “yêu xe như con, quý xăng như máu”. Xe Hồng Hà là xe ba cầu tay lái nặng khó điều khiển trên địa hình đường khó, các đồng chí B trưởng bố trí cho những đồng chí có sức khỏe tốt, những đồng chí lái giỏi cho nhận một mình một xe. Còn lại hai đồng chí nhận một xe, những đồng chí lái yếu sẽ đi cùng với đồng chí A trưởng. Trên tất cả các xe đều đã có hàng, các đồng chí cho kiểm tra xe, hàng hóa sau đó đợi lệnh hành quân.

Đúng 6 giờ sáng lệnh hành quân được chuyển đi, chính trị viên Trần Việt đi đầu, tôi dặn tốc độ 25 - 30 km/giờ, cự ly từ 15 - 20 m/1 xe. Tôi sẽ đi cùng tổ thợ và đi xe cuối cùng.

Nhìn đội ngũ xe trùng trùng điệp điệp hành quân, lòng tôi bồi hồi một cảm xúc bâng khuâng khó tả, đẹp quá, dũng mãnh thật, những chiến sỹ của tôi sau bao ngày nhập ngũ họ mơ một ngày được ngồi lên điều khiển những con chiến mã nay đã thành hiện thực. Cám ơn Đảng, Quân đội đã tin tưởng giao nhiệm vụ cho họ. Những cân gạo, khẩu súng, viên đạn ngoài tiền tuyến đang chờ làm lên chiến thắng.

Chiều, đại đội xe đã hành quân đến Thanh Hóa, tôi nhắc khẩn trương ăn cơm sau đó hành quân, đi dọc đội hình tôi thấy có xe đã nổ máy nhưng lụp bụp không bốc được bèn dừng lại hỏi nguyên nhân, đồng chí lái xe cho biết đã chỉnh lại lửa nhưng vẫn không bốc được. Tôi cầm tô vít trèo lên tai xe, chỉnh lại má vít sau đó hãm chặt. Khi tiếng xe nổ đã bốc tôi nhảy xuống, đồng chí lái xe ồ lên - Tốt rồi, tốt rồi. Tôi giảng giải: Khi chỉnh xong má vít phải hãm chặt mới được, lúc nãy cậu chưa hãm nên khi cho nổ máy tia lửa đánh không đều nên xe không bốc được. Đồng thời tôi nhắc thêm mấy chú ý về kỹ thuật xe để các đồng chí biết và xử trí trên đường.

Gặp lại Quảng Bình - Vĩnh Linh mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Như bao quê hương trên đất nước Việt Nam, nơi khí hậu khắc nghiệt, gió Lào thổi xám da, xám thịt, mưa lũ triền miên, nơi có sông Bến Hải, cầu Hiền Lương chia cắt hai miền đất nước. Nhưng chính nơi này tôi luyện cho con người bất khuất kiên trung một lòng cho cuộc kháng chiến. Tôi nhớ năm 1972, trước lúc ký hiệp định Pari đế quốc Mỹ đã điên cuồng đánh phá miền Bắc, đại đội xe của tôi trong lúc qua phà Long Đại đã bị đánh bom hy sinh rất nhiều. Trong cái đêm hôm ấy được sự đùm bọc của nhân dân, thanh niên xung phong, những đồng chí bị thương đã được băng bó, cứu chữa mang xuống hầm, số xe còn lại gấp rút hành quân.

Sau khi ký hiệp định Pari tôi được điều về trường đào tạo lái xe. Thấp thoáng đã hai năm, ngày trở lại Quảng Bình trong tôi trào lên bao cảm xúc, ngồi trên xe tôi ngắm những ngôi nhà thấp nhỏ, bên bờ cát trắng, đâu người mẹ đã dành những củ khoai cuối cùng nuôi tôi cùng đồng đội. Ngày xa mẹ, mẹ nói: “Bữa nào vô nhớ về thăm mạ”. Nghĩ đến đây tôi trào nước mắt.

Đại diện Bộ Tư lệnh 559 đón chúng tôi ở Khe Sanh. Từ đây đại đội xe được biên chế tăng cường cho các tiểu đoàn vận tải trên tuyến đường Trường Sơn. Chia tay các chiến sỹ của mình về đơn vị lòng tôi bồi hồi xao xuyến. Tôi căn dặn: Tuy đã qua thử thách nhưng vẫn phải vừa đi vừa học, rút kinh nghiệm và linh hoạt trong mọi tình huống. Anh em bắt tay và ôm nhau, có người còn khóc hẹn ngày hòa bình lập lại. Tôi cười, bây giờ mình cũng đi vào chiến trường anh em ta sẽ còn gặp lại nhau.

Những chuyến hàng vượt cung tăng chuyến ngày đêm hối hả ra chiến trường. Trong đời tôi chưa thấy một lực lượng đầy đủ các quân binh chủng nhiều đến thế. Quân ra, quân vào gặp nhau chào ríu rít, nhất là gặp đồng hương, chỉ chốc lát thôi cũng biết tình hình quê hương, bố mẹ, vợ con, người yêu ở nhà, thôi thì cứ vui như Tết. Đất nước đang sống những ngày sôi động, nhộn nhịp, dân tộc đang đi trẩy hội mùa xuân. “Trường Sơn ơi! trên đường ta qua không một dấu chân người, có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác. Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát”. Và câu thơ: “Trường Sơn đông nắng tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa thấy mình”. Như hành trang, điệp khúc dẫn chúng tôi đi.

Đầu tháng 4 năm 1975 tôi ra Đông Hà chuyển quân đi Buôn Mê Thuột, lúc này Buôn Mê Thuột đã được giải phóng (11/03/1975). Nhìn những chiến sỹ mặt còn măng tơ, trong bộ quần áo mới tinh, lòng đầy thông cảm. Lại nhớ cái ngày mình mới đi nhập ngũ cũng như các bạn qua dăm trận sẽ dạn dầy. Thanh niên Hà Nội thì mơ về mái trường đại học, thanh niên Thanh Hóa, Nghệ An thì thúc giục các anh chạy nhanh lên, đạn chúng em đã lên nòng không thì đến nơi nhặt ống bơ rỉ thì buồn lắm. Họ hát vang khiến tay lái chúng tôi cũng phấn chấn nhịp nhàng. Đường Trường Sơn đất đỏ, bụi mù, những đèo, những suối, ngày mai vượt dốc Ong Bun, ngày kia đến Phu La Nhích, chiến trường đang ở rất gần.

Tình cờ và sung sướng, đến binh trạm 14 có lệnh cho bộ đội nghỉ ăn cơm, chiều tiếp tục hành quân. Ở đây có một đại đội thanh niên xung phong vừa đảm bảo đường giao thông, vừa làm giao liên dẫn đường cho bộ đội. Giữa chỗ nghỉ gặp nhau nhất là có nam có nữ. Không khí chiến trường càng sôi động. Đang cầm thanh lương khô, tôi bỗng nghe: Đoàn các anh có người Tuyên Quang không?

- Chúng tôi toàn Hà Tây, Thanh Hóa.

- Anh của em viết thư về bảo cũng lái xe ở đường Trường Sơn.

- Thế thì hỏi mấy anh lái xe, đây toàn lính bộ binh.

Nghe thấy hỏi lái xe, tôi bèn đứng dậy chạy lại.

- Trời ơi! Có phải Đào đấy không?

- Anh Đức, hai anh em chúng tôi ôm nhau trong nước mắt.

- Em đen đi nhiều quá, anh chỉ còn nhận ra đôi mắt của em thôi.

- Bố mẹ có khỏe không.

- Khỏe, em mới vào đây được hơn một tháng, vừa làm đường, làm giao liên vui lắm.

Lúc ấy lòng tôi tràn ngập niềm vui, giữa chiến trường gặp lại người ruột thịt của mình, khi lên xe Đào còn đưa cho tôi tấm ảnh bố mẹ với nó chụp chung trước khi Đào vào thanh niên xung phong.

Sau chuyến đi đáng nhớ ấy đại đội phân công một số anh em trong đó có tôi gấp rút ra Quảng Bình nhận xe mới, chở quân vào theo đường Quốc lộ số 1.

Có lẽ tôi là người hay bị xúc động trước những cảnh vật, sự kiện hoặc một hành động anh hùng. Trước mắt tôi bây giờ là cầu Hiền Lương. Ngày đi học tôi tưởng tượng nó dài, rộng lắm. Thực tiễn nó nhỏ và bắc qua một con sông cũng không rộng lắm. Nhưng nó là hiện thân của ba mươi năm chia cắt đất nước, là nỗi nhớ miền Nam, miền Bắc. Là đau thương dằng dặc giữa hai miền. Chỉ một đoạn nối hai bờ thôi mà ba mươi năm cả dân tộc mới đi tới nơi, biết bao nhiêu xương máu của bà con hai miền gửi lại. Tôi run run cho xe chạy trên cây cầu tạm, nhìn sang bờ Nam là cả một vùng trắng không cỏ cây, không một mái nhà. Nước mắt tôi trào ra tự lúc nào.

Mùa xuân đang về trên những con đường đầy nắng. Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam chiến sỹ nhân dân đi suốt chiều dài đất nước. Đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần. Cho trận đánh ba mươi năm giành độc lập tự do hòa bình thống nhất, trọn vẹn non sông.

Ngoảnh lại đã bốn mươi lăm năm trôi qua. Nhưng những ngày tháng đáng nhớ ấy luôn luôn xao động trong tâm hồn tôi. Tất cả như vừa mới hôm qua vậy, nó nuôi dưỡng hun đúc cho nghị lực của tôi lớn lên. Bạn bè, những người cùng nhập ngũ, người còn, người mất, mỗi độ ba mươi tháng tư lại quây quần bên nhau với những kỷ niệm không thể nào quên về những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời.

N.H.D

Lượt xem:98 Bản in









Các tin đã đăng:
   Ngược nguồn Na Hang - Đăng ngày:  27/06/2022
   Nỗ lực ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc - Đăng ngày:  20/06/2022
   Từ Văn nghệ Hà Tuyên đến Báo Tân Trào và Tạp chí Tân Trào - Đăng ngày:  20/06/2022
   Đêm cuối hành trình vạn dặm - Đăng ngày:  20/05/2022
   Cái đê bạc - Đăng ngày:  01/06/2022
   Từ Pác Bó đến Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Miền rừng thổ cẩm - Đăng ngày:  30/05/2022
   Tình khau vai - Đăng ngày:  15/06/2022
   Bác về Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Tài sản vô giá lại là những gì giản dị nhất - Đăng ngày:  07/06/2022

Tổng số: 715 | Trang: 1 trên tổng số 72 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
171

Lượt truy cập:
798.439