Tháng ba, đi tìm ẩn số trận đánh Buôn Ma Thuột
Thứ 4, 11/5/2022 - 8:29
* Bút ký của Đỗ Anh Mỹ

Minh họa của Tân Hà

 

Tôi có duyên may dự trại sáng tác văn học tại Tây Nguyên, nơi có trận đánh huyền thoại đêm mùng 10 tháng ba năm 1975, giải phóng Buôn Ma Thuột, thủ phủ của tỉnh Đăk Lăk, mở màn cho cuộc tổng tiến công chiến dịch Hồ Chí Minh, năm mươi ngày sau (ngày 30/4/1975) giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước. Lại nhớ, cách đấy ba mươi năm về trước, cũng đêm mùng 10 tháng 3, năm 1945, châu Sơn Dương quê tôi, nơi có Cây đa Tân Trào, cũng đã nổ ra cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở làng Thanh La. Đoàn quân khởi nghĩa do Phân khu ủy Nguyễn Huệ chỉ đạo thừa thắng kéo ra hạ đồn Đăng Châu, giải phóng châu Sơn Dương. Quê tôi trở thành “châu tự do” nối liền căn cứ cách mạng Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Để rồi, cũng năm mươi ngày sau, Bác Hồ đã quyết định rời Pắc Bó về lán Nà Nưa, lập Tân Trào làm Thủ đô Khu Giải phóng, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc. Mơ ước của tôi đi Trại sáng tác Cao nguyên, tìm những ẩn số của trận đánh mở màn huyền thoại giải phóng Buôn Ma Thuột.

Đôi cánh bay chuyên cơ Vietjet dập dềnh xuyên qua những tầng mây. Ngắm mây từ trên trời nhìn xuống đẹp lạ lùng. Những đám mây tựa những núi hoa bông tuyết trắng ngần, bồng bềnh, vời vợi. Mây che tầm nhìn phi công; mây chèn vào cánh bay, cho tôi cảm giác như đi trên chiến hạm lướt trên sóng biển dập dềnh. Cánh bay vượt lên giữ độ cao, trên tầm những đám mây, bay trong bầu trời trong vắt. Khi qua khoảng trời không mây, từ trên máy bay nhìn rõ những làng mạc, phố xá, nhà cao tầng đang vá dần lên những cánh rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp, lại thổn thức nhớ về những mùa mưa bão, lũ ống, lũ quét gây sạt lở đất, quét đi những làng mạc, cả những sinh linh.

Từ Nội Bài - Buôn Ma Thuột, phi cơ hôm nay bay hết một giờ ba mươi phút. Lại nhớ, cũng trên chiều dài ấy, cuối những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi về trước, gần hai chục trai tráng Kim Xuyên, làng tôi, bạn bè chăn trâu cùng trang lứa đã rời ghế nhà trường, gác tay cày, tay cuốc, vác súng trên vai xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ, cứu nước. Đôi chân trần, dép lốp, các anh đi bộ dưới trời mưa, nắng, dưới làn bom đạn bất kể đêm ngày, bất kể cung đường, thân thể sốt rét, vừa đi vừa chiến đấu, tránh bom đạn bất kể ngày đêm. Ba tháng ròng rã mới vào đến chiến trường Miền Trung Nam bộ quần nhau với lính đánh thuê Pắc Chung Hy. Sáu tháng mới vào đến chiến trường miền Đông Nam bộ quần nhau với lính Mỹ, đụng độ xe tăng thiết giáp Mỹ, đối đầu với đủ loại máy bay không lực Hoa Kỳ.

Mười hai giờ trưa cất cánh, một giờ ba mươi phút, máy bay tiếp đất, đem đến cho tôi sự hồi hộp. Tôi đã đặt chân lên Buôn Ma Thuột, cách trung tâm thành phố 9 km. Tôi nhớ lại, cách đây hơn nửa thế kỷ thời gian, nơi này mang cái tên sân bay Hòa Bình, nhưng lại là nơi người Mỹ, cùng Ngụy quyền tay sai bán nước dùng làm nơi xuất phát của các cuộc đổ bộ, những cuộc ném bom đẫm máu diệt cộng sản, nơi các nhà quân sự Mỹ lợi dụng độ cao chế ngự toàn chiến trường Miền Nam, cùng ba nước Đông Dương. Trại sáng tác kéo về Khu biệt thự Biệt Điện, ngày xưa lộng lẫy, nay trầm mặc, ẩn mình dưới bóng cây cao to bên Quảng trường 10/3, quảng trường lấy ngày giải phóng thành phố Buôn Ma Thuột làm tên gọi.

Buôn Mê Thuột, buôn của mẹ Thuột, còn có tên Buôn Ma Thuột, buôn của ông Thuột. Người dân nơi đây thường gọi với cái tên Buôn Mê, là trung tâm chính trị của Đăk Lăk, cũng là trung tâm kinh tế, trung tâm chiến lược của Tây Nguyên, có hai con đường chiến lược đi qua. Đường số 14 đi từ thành phố Hồ Chí Minh qua Pleiku, Kon Tum, chia Tây Nguyên thành hai nửa Đông - Tây. Con Đường 21, nay là đường 26, từ Buôn Ma Thuột, ví như cánh tay nối dài của chàng trai Cao nguyên ra biển. Để bảo vệ Tây Nguyên, Ngụy quyền Sài gòn cài cắm Sư đoàn 23, sư đoàn được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thêu dệt cho cái tên "Bình Nam, tiến Bắc, trấn Cao nguyên", cùng với lực lượng bảo an dân vệ lên tới chục ngàn quân sỹ. Riêng Trung đoàn 53, trung đoàn tinh nhuệ của Sư đoàn 23 đóng tại Căn cứ 53, sát sân bay Hòa Bình; còn có quân lính doanh bộ Trung đoàn 44, Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Tất cả đặt dưới sự Chỉ huy của Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh vùng 2 chiến thuật. Vậy mà, chỉ sau ba mươi tiếng đồng hồ bị quân giải phóng tiến công, thành phố Buôn Ma Thuột thất thủ. Chưa đầy chục ngày thất thế chống đỡ, Căn cứ 53, căn cứ của trung đoàn bảo vệ Đăk Lăk, căn cứ quân sự cuối cùng ở Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt hoàn toàn. Cùng ngày khai mồ Trung đoàn 53, ngày 18/3/1975, sau bốn trận liên tiếp trong một tuần bị đánh tơi bời trên đoạn đường dài 50 km, Đường 21, Sư đoàn kiêu binh "Bình Nam, tiến Bắc, trấn Cao nguyên" cũng bị xóa sổ ngay trên mảnh đất nơi nó sinh ra. Tờ báo Pháp "Thế giới" ngày ấy, ngày 21/3/1975, mười ngày sau khi Buôn Ma Thuột bị thất thủ đã viết: "Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam Việt Nam đã bị đảo lộn. Chỉ có trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho từng mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra, Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột...!".  

Tôi tìm đến Bảo tàng Đăk Lăk xem sa bàn trận đánh Buôn Ma Thuột, tìm đến các địa danh ngót bốn mươi năm về trước, nơi chiến sự ác liệt đã xảy ra, sưu tầm tư liệu và tìm gặp nhân chứng lịch sử. Điều bất ngờ, tới buôn Krong Ana, may mắn được tới thăm tư thất người ông Y Luyện Nie Kdam, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk, nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc Quốc hội, được nghe ông kể chuyện trận đánh mở màn vào Buôn Ma Thuột, chuyện ông tham gia chỉ đạo tiễu trừ Phurol, được ông đãi lẩu thịt rùa, uống rượu tiết rùa nâu, nghe chuyện uống tiết rùa nâu chữa khỏi bệnh thần kinh. Nhưng quý nhất, tôi nhận được cuốn “Buôn Ma Thuột - Trận đánh lịch sử” do NXB Trẻ in năm 2000. Mới biết, mấy ai học được chữ ngờ!

Thầy tớ Nguyễn Văn Thiệu đã mắc chữ ngờ thứ nhất, suốt cả năm 1974, bộ đội giải phóng chia nhau quần đảo, chọc ghẹo dưới đồng bằng, cốt căng địch ra, lừa không để chúng đưa quân tăng viện cho Tây Nguyên, thì chúng lại nhận định, cộng sản không có khả năng đánh lớn!

Chữ ngờ thứ hai, khi bộ đội đánh chia cắt con Đường 14, trên phía Pleiku, bọn địch nhận định, cho rằng, quân ta sẽ đánh vào Kon Tum, cửa ngõ Buôn Ma Thuột, nên đã không đưa Sư đoàn 23 về phòng ngự Buôn Ma Thuột, điều mà các nhà chiến lược của ta ngày ấy không mong muốn nhất.

Chữ ngờ thứ ba, không ai tin, đại quân của ta lại có thể di chuyển qua dòng sông chảy ngược Srepok không mấy hiền hòa kia ngay trong đêm nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột, với lực lượng: một Sư đoàn bộ binh; một Trung đoàn xe tăng thiết giáp; một Trung đoàn pháo binh cơ giới; một Trung đoàn pháo cao xạ và nhiều binh chủng hiệp đồng, để rồi, 2 giờ 03 phút, sáng ngày 10/3, khi các lực lượng đặc công ta nổ súng đánh chiếm sân bay Hòa Bình, sân bay trực thăng, cùng khu kho quân sự Mai Hắc Đế, thì mờ sáng ngày 10/3, khi trời chưa tan sương, xe tăng bộ đội chủ lực của ta đã ào ạt lăn xích tiến vào Ngã 6, đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và một loạt các căn cứ quân sự quan trọng của địch.

Chữ ngờ thứ tư, mới năm nào kháng chiến chống thực dân pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: "Ai có súng, dùng súng, ai có gươm, dùng gươm...!". Vậy mà, sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ, kéo dài gần 30 năm (1946 -1975), Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã huy động một lực lượng áp đảo quân địch.

Chữ ngờ thứ năm, chiến thuật nghi binh qua làn sóng điện của Bộ Chỉ huy chiến dịch khi di chuyển thần tốc Sư đoàn 316 từ Nghệ An về ém sát biên giới Căm-pu-chia; Sư đoàn 10 từ Bắc Kon Tum về Nam Tây Nguyên đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 từ Tây Pleiku về Ea H'leo chia cắt Đường 14 và đưa Sư đoàn 968 từ Nam Lào về thế vị trí các Sư đoàn 10 và 320 ở Kon Tum và Tây Pleiku…, đã khiến cả thầy Mỹ lẫn tớ Ngụy bị động chiến lược, trở tay không kịp.

Hôm nay, đi qua những góc phố, những cung đường trên Đường 14, Đường 21, những chiến địa trên hướng Tây Bắc thành phố Buôn Mê, tôi vẫn cảm nhận hơi thở của các chàng trai xứ Tuyên đi trong đoàn quân Trung đoàn 148, Sư 316, Trung đoàn sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Tuyên Quang, quê hương cách mạng. Dấu chân các anh in trên Ngã 6 Đăk Lăk, để lại trên Tiểu khu, tiến công tiêu diệt Dinh tỉnh trưởng, in đậm trên Khu liên hợp pháo binh - thiết giáp và điểm cao Chứ Ebua; cảm nhận được những khó khăn gian khổ hy sinh của Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 gặp phải trong đêm nổ súng mở màn chiến dịch vì phải vượt qua một chặng đường dài, trống trải từ bờ Tây con sông chảy ngược Srepok; những khó khăn khi vượt qua suối Ea Tam và những trận chiến đấu ác liệt, đầy hy sinh khi tiến đánh quân địch tử thủ ở Căn cứ 53. Rồi những ngày Sư 316 cùng quân và dân Đăk Lăk tổ chức phòng thủ chống địch tập kích, bảo vệ thành quả chiến thắng Buôn Ma Thuột.

Giờ đây, trận đánh Buôn Ma Thuột đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Cao nguyên đã hồi sinh, đang trên đà phát triển. Giữa trung tâm Ngã Sáu, một chiếc xe tăng đứng kiêu hãnh trước Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột. Sở Chỉ huy của Sư đoàn 23 kiêu binh ngày ấy, giờ trở thành bản doanh của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đăk Lăk. Khu kho quân sự Mai Hắc Đế xưa tiềm tàng, reo rắc chiến tranh, giờ nhường chỗ cho khu thương mại sầm uất. Sân bay trực thăng, sân bay chiến lược của quân Ngụy năm ấy, mọc lên làng cà phê Trung Nguyên, xây lên bằng những hình thể khối theo lối kiến trúc độc đáo. Ngày ngày, du khách trong và ngoài nước đến thưởng thức hương vị theo nhiều cách pha chế của Cà phê Trung Nguyên. Sân bay Hòa Bình, nơi các chiến sỹ tiểu đoàn đặc công nhận sứ mệnh phát hỏa cho trận đánh mở màn giải phóng Buôn Ma Thuột đêm 10/3/1975 giờ nối cánh bay đến mọi miền đất nước, đưa đón du khách về với Tây Nguyên. Bến xe Buôn Ma Thuột mỗi ngày có hàng chục chuyến xe đi, xe về, đón khách đến thăm Cao nguyên, đưa đón lao động khắp nơi đến giúp Tây Nguyên thu hái cà phê, cạo mủ cao su, thu hoạch nông sản.

Về bản Đôn nghe câu chuyện tình dòng sông Srepok. Chuyện kể ngày xưa, buôn làng cao nguyên có chàng dũng sỹ Đam San trọn tuổi thơ uống chung bến nước với nàng H' bia Điêt Kluc. Rồi sau, trái tim chàng lại đi tìm trái tim người con gái ở bến nước khác, tên là H' Bhi. Chàng ra đi không thấy trở về. Người ta thấy xác chàng gục ngã trên đỉnh núi Sap Đen, trên đường chàng đi chinh phục trái tim người con gái của thần mặt trời.

Cái tin Đam San đã gục ngã khiến nàng H' Bia khóc cạn một con suối. Rồi sau một đêm, không ai còn gặp H' Bia đi lên núi nữa. Người già kể, H' Bia đi về phía mặt trời lặn tìm chàng Đam San. Kiệt sức, nàng đắm mình dưới dòng suối. Thân thể trinh trắng của nàng từng tỏa hương trên da thịt chàng dũng sỹ, khiến dòng suối cảm kích trước tình yêu nàng dành cho chàng. Dòng suối mang hồn nàng đi khắp đại ngàn tìm dấu chân chàng dũng sỹ, đã trở thành dòng sông K'rong Ana, dòng sông cái.

Bên phía mặt trời mọc, hồn chàng Đam San cảm kích tình yêu H' Bia dành cho mình. Hồn chàng lại hòa vào dòng suối, chảy khắp cao nguyên đi tìm nàng, hóa thành dòng sông K'rong K'no - dòng sông đực. Trải qua thời gian, chảy qua thác ghềnh, hai con sông gặp nhau, sinh ra dòng sông con, dòng sông Srepok.

Srepok theo sông cha, sông mẹ chảy khắp đại ngàn. Chợt đến Bản Đôn, chàng nghe giọng hát của người con gái tên là H' Nũ từ dưới vực sâu hoang vu vọng lên. Nhìn xuống vực sâu, Srepok định quay đầu ra biển, lại nghe giọng hát của H' Nũ vọng lên tha thiết: "Hỡi giàng núi, giàng gió! Hãy nói với giàng sông, giàng suối đưa người con trai của dũng sỹ Đam San về với ta! Khi ngực ta vừa nhú núm cau, tóc ta vừa dài như lá lau, giọng hát ta trong như tiếng chim sơn ca, Srepok đã có trong giấc mơ của ta rồi. Srepok! Chàng hãy quay về với ta, về với đại ngàn cao nguyên đi, dù chàng có phải chảy ngược dòng!

Srepok quay lại vực sâu. Dưới ánh trăng vằng vặc hiện ra khuôn mặt nàng H' Nũ tròn như mặt trăng nhìn chàng mỉm cười, khiến tim chàng bốc lửa. Chàng vừa định băng mình xuống với nàng, thì nghe tiếng H' Bia từ dòng sông mẹ gọi:

- Srepok! Hãy xuôi về với biển cả. Đừng làm cái việc dại dột như cha Đam San, lên núi chinh phục trái tim con gái thần Mặt trời, để phải nhận cái chết bi thương trên đỉnh núi Sáp Đen đi!

Tiếng gọi từ dòng sông K'rong Ana vừa dứt, tiếng cha Đam San từ dòng sông K'rong K'no lại vang lên:

- Con trai Srepok của ta! Không có tình yêu cao cả nào mà không phải trả giá. Nếu con không khát vọng tình yêu cao nguyên, thì vẫn còn kịp. Con hãy quay về với biển cả buồn tẻ kia đi!

Và rồi, người ta thấy, dòng sông Srepok đã đổ xuống vực sâu đi tìm nàng H' Nũ, tạo thành thác Đray Sáp, chảy ngược dòng lên đại ngàn Cao nguyên. Đời sau, các đôi trai gái Tây Nguyên tin rằng, họ yêu nhau, dắt nhau đến tắm một lần dưới thác Đray Sáp, tình yêu của họ sẽ bất diệt. 

Lại hiếu kỳ, tôi tìm đến Bản Đôn, nơi đêm 10/3/1975, bộ đội ta ém bên đất bạn Lào, Căm-pu-chia rùng rùng vượt sông Srepok về giải phóng Buôn Ma Thuột. Bản Đôn hôm nay mọc lên khu du lịch sinh thái. Quần thể cây si đan chen nhau rộng cả ngàn m2, rễ dài qua hàng thế kỷ thời gian đan ken phủ kín mặt sông. Ai khéo bắc những cây cầu khỉ chòng chành qua những gốc cây, đón khách về ngồi giữa rừng si trên dòng sông chảy ngược còn in lịch sử, uống rượu cần, rượu A Ma Kông, ăn cá nướng bắt dưới sông Srepok, thưởng thức món rau rừng bộ đội Trường Sơn năm xưa từng ăn cầm hơi, hành quân đi đánh giặc.

Bản Đôn có nghề săn voi nổi tiếng Đông Nam Á. Dũng sỹ Bản Đôn nào bắt, thuần phục được trăm con voi rừng trở lên, được suy tôn là Gru. Các Gru qua đời, được vinh danh chôn cất trong nghĩa trang riêng, dành cho các dũng sỹ săn bắt voi.

Đến Bản Đôn, nghe câu chuyện, khi đoàn trinh sát của ta bí mật đi khảo sát mở đường đưa xe tăng vượt sông, kéo vào thành phố bất ngờ gặp hai cha con ông già cưỡi voi đi về phía bờ sông. Không còn đường tránh nào khác, trưởng đoàn khảo sát của ta ra đề nghị ông già giữ bí mật chuyện này. Ông già đưa tính mạng đứa con trai đang ngồi trên bành voi ra thề, sẽ không bao giờ tiết lộ điều gì. Rồi chuyện, bà con đi núi, vào rừng cạo mủ cao su đụng phải công binh ta đang cưa những gốc cây trên đồi, cắt 2/3 gốc cho sắp đổ, rồi đậy lá ngụy trang, để khi xe tăng qua, húc đổ thành đường, tiến vào thành phố, nhưng bà con về nhà, không ai báo cho địch biết. Mới biết, đồng bào Tây Nguyên yêu hòa bình, trông chờ độc lập tự do, mong đợi các anh Bộ đội Cụ Hồ về giải phóng từ lâu rồi. Nhớ xưa, Đăk Lăk là quê hương người anh hùng N'Trang Lơng, hai mươi bốn năm kiên cường dựng cờ đánh Pháp. Rồi những năm kháng chiến, hình ảnh bà mẹ Tây Nguyên địu con trước ngực, gùi đạn sau lưng, những em bé lưng trần, những cụ già chống gậy theo đoàn dân công đi tải đạn còn in đậm trong tâm trí mỗi người.

Đoàn người ngưỡng mộ kéo đi thăm mộ của các Gru săn voi ở Bản Đôn, có Vua voi Y Thu Knul, còn mang tên Lào Khun Sa Nop, viếng mộ vua bắt trăm voi A Ma Công. Tới thăm ngôi nhà hai mái của vua voi A Ma Công, ngôi nhà truyền thống của bà con Lào, được thưởng thức và mua rượu thuốc A Ma Công do tay người con gái vua voi bốc. Khách đến Bản Đôn được cưỡi voi du lịch.

Tháng 2/2022

Đ.A.M

 

Lượt xem:94 Bản in









Các tin đã đăng:
   Ngược nguồn Na Hang - Đăng ngày:  27/06/2022
   Nỗ lực ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc - Đăng ngày:  20/06/2022
   Từ Văn nghệ Hà Tuyên đến Báo Tân Trào và Tạp chí Tân Trào - Đăng ngày:  20/06/2022
   Đêm cuối hành trình vạn dặm - Đăng ngày:  20/05/2022
   Cái đê bạc - Đăng ngày:  01/06/2022
   Từ Pác Bó đến Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Miền rừng thổ cẩm - Đăng ngày:  30/05/2022
   Tình khau vai - Đăng ngày:  15/06/2022
   Bác về Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Tài sản vô giá lại là những gì giản dị nhất - Đăng ngày:  07/06/2022

Tổng số: 715 | Trang: 1 trên tổng số 72 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
144

Lượt truy cập:
798.443