Cái tâm của người có tầm
Thứ 2, 4/4/2022 - 14:14
* Ghi chép của Xuân Đặng

 

Minh họa của An Bình

 

Lực Hành là xã vùng sâu vùng xa thuộc khu thượng huyện Yên Sơn cách huyện lỵ khoảng 40 km. Trước kia lên Lực Hành có hai tuyến đường là đường thủy và đường bộ. Nếu đi đường thủy thì lên bến chợ Tam Cờ thị xã Tuyên Quang rồi đi Cole ngược sông Lô đến ngã ba  hợp lưu của hai sông Lô - Gâm thuộc xã Thắng Quân rẽ sông Gâm lên bến Lực Hành rồi theo đường bộ đi khoảng 5 km vào trung tâm xã. Nếu đi xe đạp hay xe máy theo đường bộ thì đi theo quốc lộ 2 lên Km16 thuộc xã Tứ Quận rẽ tay phải qua đò sông Lô sang xã Phúc Ninh vượt con đường rừng đất đá lởm chởm, đèo dốc quanh co sang xã Lực Hành. Nay đường sông không còn Cole chạy nữa. Bù lại con đường liên xã từ quốc lộ 2 đi Lực Hành đã được mở rộng, hạ dốc và rải nhựa nhẵn bóng, phẳng lỳ cho hai làn xe chạy.

Cây cầu Tứ Quận hiện đại, uy nghi cũng đã được bắc nối hai bờ sông Lô xanh biếc một màu xanh ngô, mía và những cây ăn quả, cây hoa màu khác của những hộ dân sống ven đường. Sự hiện diện của cây cầu Tứ Quận đã chấm dứt thời kỳ “Qua sông thì phải lụy đò” hay những chuyến phà chậm chạp như rùa bò kìm hãm nhịp thời gian của con người thời hiện đại. Chẳng hiểu con đường này rải nhựa từ bao giờ, xe đang đi mát ga vào địa phận xã Lực Hành được một đoạn thì mặt đường đã hư hỏng, bong tróc, sạt lở, ổ gà ổ lợn liên miên khiến cho mọi phương tiện cứ chồm lên chồm xuống như hất tung người ra ngoài, nhất là những xe tải chở nặng cứ lắc la lắc lư kêu răng rắc. Có đoạn đang đổ đá dăm, máy san, máy lu hối hả làm việc vá víu mặt đường tạm thời cho dân đi. Được biết Sở Giao thông vận tải tỉnh đang có kế hoạch tu sửa và mở mới con đường này nối với đường tỉnh lộ từ Km31 quốc lộ 2 đi Chiêm Hóa, Na Hang. Đồng thời tiến hành dự án xây dựng cầu Xuân Vân, mở đường nối với đường Phúc Ninh-Lực Hành. Dự án này hoàn thành sẽ mở ra cơ hội rất lớn để bà con vùng “Ốc đảo” này giao thương với khu trung tâm Thượng huyện và hai huyện Chiêm Hóa, Na Hang. Đánh vật với con đường một hồi cuối cùng tôi cũng đến được trụ sở Xã Lực Hành. Vẫn căn nhà xây cấp bốn năm gian quét ve màu vàng, vẫn cái sân rộng mà cách đây vài chục năm tôi thường lên đây công tác và nhiều lần đưa đội thông tin huyện, đội thông tin tỉnh lên biểu diễn phục vụ bà con các dân tộc nơi đây. Chỉ có nhà dân là thay đổi, nhiều nhà xây một, hai tầng khang trang, mái tôn xanh đỏ mọc lên san sát thay cho những mái nhà sàn, nhà gỗ mái tranh, mái lá trước đây. Đường làng ngõ xóm được bê tông cứng hóa phẳng phiu, phong quang sạch sẽ đến tận sân từng nhà.

Lực Hành có 9 thôn, 928 hộ, 3.760 khẩu, 5 dân tộc anh em cùng chung sống, chủ yếu là dân tộc Tày chiếm 54%, còn lại là dân tộc Dao, Kinh cùng các dân tộc thiểu số khác. Người dân nơi đây sống bằng nghề làm ruộng cấy lúa, chăn nuôi, trồng rừng. Ngoài ra còn có nghề phụ trồng dong riềng mà bà con nơi đây gọi là củ đót, chế biến tinh bột dong và làm miến. Tôi tìm đến nhà anh Phạm Đình Thắng trưởng thôn Đoàn Kết. Anh Thắng năm nay 45 tuổi vừa là trưởng thôn vừa là chủ cơ sở chế biến miến Thắng Loan, đại biểu HĐND xã nhiều nhiệm kỳ. Nhà anh Thắng ngay sát đường liên xã, ngôi nhà to cao xây theo kiểu hiện đại nhiều mái, nhiều góc cạnh nhô ra thụt vào rất khó phân biệt là nhà mấy tầng. Trước nhà là quán bán hàng rộng chừng 15m, sâu 10m bày la liệt rất nhiều mặt hàng, có thể gọi là cửa hàng bách hóa thì đúng hơn. Hàng hóa ở đây rất đa dạng, phong phú, từ hàng rẻ tiền vài ngàn đồng đến mặt hàng tiền triệu. Phía đối diện bên kia đường là kho chứa phân đạm, NPK và các vật tư nông nghiệp khác. Có rất nhiều người dân địa phương đến mua hàng nên chị Hoàng Thị Loan vợ anh Thắng cứ phải đứng lên ngồi xuống bán hàng liên tục. Biết được ý định của tôi chị Loan chỉ về phía sau nhà nói:

- Nhà cháu đang ở trên xưởng, bác cứ ngược theo đường cạnh nhà này lên chừng hơn trăm mét rẽ tay phải đến nhà có mái lợp tấm nhựa trắng là xưởng của nhà cháu.

Tôi lên xưởng thấy Thắng đang chỉ đạo tốp công nhân hối hả làm việc, người đứng máy rửa củ, người điều hành máy nghiền bột, người vệ sinh sân lắng, người sửa lại đường ống dẫn nước bị hỏng. Tiếp tôi bên cái bàn uống nước đơn sơ dành cho công nhân ngay tại xưởng. Thắng nói:

- Cả xã có 9 thôn thì 4 thôn đầu xã chuyên trồng cây ăn quả còn 5 thôn cuối xã chuyên trồng dong riềng làm tinh bột. Tổng diện tích trồng dong lên tới 120 ha, hộ trồng nhiều nhất 3 ha, hộ ít nhất cũng vài ba sào, chủ yếu trồng trên đồi, trên nương và những thửa ruộng không cấy được lúa vì không có nguồn nước tưới tiêu.

- Trồng dong riềng có khó không? Tôi hỏi.

- Dong riềng là loại cây rất dễ tính, trồng nơi nào cũng được, cứ đặt củ giống xuống là lên ầm ầm. Năng suất tùy khí hậu từng năm và cách chăm bón của từng hộ gia đình. Cho dù thời tiết có bất thường thế nào thì cây dong riềng cũng không bao giờ bị mất mùa như những cây khác.

Vừa rót nước mời khách anh Thắng vừa chậm rãi kể.

- Từ năm 1969 bố cháu đưa gia đình từ huyện Thanh Thủy Phú Thọ lên đây lập nghiệp có đem theo một ít củ dong riềng trồng thử, thấy cây phát triển rất tốt, củ nhiều, luộc ăn rất ngon nên cụ nhân giống trồng đại trà làm lương thực ăn trong những ngày giáp hạt. Rồi cụ vận động, phát giống cho bà con cùng trồng. dần dần thành phong trào cả xóm, cả thôn rồi lan ra đến quá nửa xã cùng trồng. lúc đầu bà con trồng dong riềng chỉ để ăn, sau chế biến tinh bột bán cho các xưởng làm miến ở các tỉnh lân cận, riêng nhà cháu có nghề làm miến nhưng chỉ làm thủ công rất thô sơ nên không bán được. Đến đời cháu thì cháu xác định phải tìm cách chế biến sản phẩm dong từ A đến Z để nâng cao chuỗi giá trị của cây dong riềng làm giầu cho gia đình mình và bà con trong xã. Vậy là cháu lặn lội đi đến các nơi có nghề làm miến dong tìm hiểu học hỏi kinh nghiệm. Về nhà cháu dốc hết vốn liếng lập nên khu xưởng sản xuất này.

Xưởng làm miến của anh Thắng chia làm hai khu riêng biệt trên diện tích hơn nghìn m2, một khu chế xuất tinh bột, một khu chế biến miến thành phẩm, hai khu cách nhau một cái sân khá rộng dùng để phơi miến. Khu sơ chế tinh bột đặt một máy rửa củ liên hoàn với máy nghiền bột có lắp đặt rô bốt điều hành tự động. Ngay cạnh đó là cái sân lắng bột được tôn cao chừng một mét, diện tích khá rộng có mái che bằng tấm nhựa trắng. Mặt sân được lát gạch tráng men nhẵn bóng chia thành nhiều ngăn chạy dọc bởi những bờ be cũng xây bằng gạch men, mỗi ngăn rộng chừng hơn một mét tạo dòng chảy dài cho nước bột từ máy ra. Tác dụng của sân này là để lắng bột, sau khi bột lắng lại trên sân, nước và bã chảy xuống một cái bể lọc bã ở lại còn nước chảy xuống cái ao dưới chân đồi ngâm một thời gian rồi mới thải ra môi trường. Khi sân đã lắng đầy bột thì xúc bột vào bốn cái bể tròn như tang giếng ngay bên cạnh sân để lọc sạn. Máy lọc sạn là một mô tơ điện được truyền tải sang máy quay gắn cánh quạt khuấy bột, để bột lắng tháo nước hớt lấy phần trên, phần dưới lại cho bột khác vào khuấy tiếp. Cứ như thế lọc nhiều lần thì bột trở thành bột sạch tinh khiết đem phơi khô rồi đóng bao ni lông dùng dần.

Xưởng làm miến là căn nhà xây cấp bốn khá rộng, xung quanh chất đầy những phên đan thưa bằng tre, nứa để dùng phơi bánh tráng. Quy trình làm miến khá đơn giản. Có hai cách làm miến, một là làm miến rút, hai là làm miến thái. Miến rút là dùng khuôn ép thủ công như ép bún. Cho tinh bột dong vào chậu đổ nước vừa đủ khuấy đều, đánh nhuyễn, đổ nước sôi vào đánh tiếp cho bột chín và dẻo đều, đổ vào khuôn hình chữ nhật bằng kim loại dài bằng chiều rộng của tấm phên. Đáy khuôn có những lỗ tròn để khi ép bột dong chảy xuống thành sợi, một người cho phên nứa hứng ở dưới, một người rút phên từ từ, khi các sợi miến chảy đến cuối phên thì người ép khuôn dừng ép và ngắt, người rút phên đem ra dàn phơi. Miến làm theo cách này có ưu điểm là nhanh, không phải đun tốn củi, sợi miến tròn đẹp nhưng nhược điểm là bột miến không được chín hết, độ liên kết chỉ đạt 80% nên khi nấu miến không đúng kỹ thuật miến dễ bị bở, nát.

Miến thái là khuấy bột loãng trong chậu rồi tráng bánh như tráng bánh đa hoặc bánh cuốn, khi bánh chín cuộn ra đặt vào phên đem phơi khô khoảng 50% thì lấy vào ủ một ngày cho mềm đều rồi cho vào máy thái sợi. Sợi to hay nhỏ tùy ý người điều chỉnh, thái xong đem ra sân vắt lên sào phơi thật khô sau đó đóng bao ni nông bảo quản. Cách này tốn nhiều công hơn, chi phí nhiều hơn nhưng miến làm ra đảm bảo kỹ thuật hơn, miến dai, dẻo và có độ giòn, không bị bở hay bị nát. Thắng kể:

- Khi mới đi học về cháu cũng làm miến rút và phổ biến cho một số cơ sở khác cùng làm cháu mua lại sản phẩm nhưng các cơ sở làm không đúng kỹ thuật, miến không đảm bảo chất lượng nên rất khó tiêu thụ, cháu lại quay về làm theo kiểu truyền thống làm miến thái. Kiểu này tuy tốn nhiều công sức hơn, tốn kém hơn nhưng miến làm ra đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng, bán rất chạy.

- Từ ngày lập xưởng làm miến đến nay lợi nhuận được bao nhiêu?

- Sau bốn lần thất bại do máy móc cũ kỹ, lạc hậu, lại chưa có kinh nghiệm nên toàn lỗ, mỗi lần thất bại là một lần lỗ to, bán máy không ai mua, để làm thì không có chất lượng, nay sửa mai sửa rất tốn kém. Vợ cháu tiếc tiền cứ càu nhàu hoài. Tuy vậy cháu vẫn không nản lòng. Lần thứ năm cháu về tận Sơn Tây, Hà nội tìm mua máy, thuê thầy thợ lên lắp đặt và hướng dẫn sử dụng. Từ đó làm ăn mới có hiệu quả, cắt được lỗ và bắt đầu có lãi. Càng làm càng có kinh nghiệm, càng có lãi. Số tiền lãi được bao nhiêu cháu tiếp tục đầu tư mở rộng xưởng và thuê nhân công đến đó. Tổng số tiền đầu tư vào sản xuất của cháu lên đến hơn 4 tỷ, trong đó có hai giếng khoan, hai xe tải một cỡ to một cỡ nhỏ để chuyên chở củ dong và chở miến đi bán ở thành phố Tuyên Quang, Hà Giang, Việt Trì, Hà Nội, và các tỉnh dưới xuôi.

Hiện tại xưởng miến của Phạm Đình Thắng thường xuyên có gần chục lao động làm việc, khi chính vụ có tới 12 lao động làm tại xưởng. Vào thời vụ thu hoạch củ dong lên tới 80-100 người. Lương của những người lao động đứng máy tại xưởng người cao nhất 9 triệu, người thấp nhất 5-6 triệu, người lao động đào củ thì trả theo trọng lượng, với giá 40.000 đồng một tạ. Có người khỏe đào một ngày được một tấn, bình quân tháng cũng đạt trên dưới 10 triệu đồng. Người bình thường cũng đạt 5-6 triệu một tháng. Cháu còn cung cấp lương thực, thực phẩm cho họ ăn ở luôn tại lán trên nương.

- Nhà anh cũng trồng dong?

- Không. Hàng năm sắp đến mùa thu hoạch dong cháu đi mua cả nương của người trồng rồi thuê người đào củ về chế biến.

- Tôi được biết xã Lực Hành có gần 30 xưởng làm tinh bột dong, liệu có tình trạng cạnh tranh mua bán dong nguyên liệu không? Có ảnh hưởng gì đến môi trường không?

- Không ạ. Ngoài xưởng của cháu mang tính kinh doanh, còn các xưởng khác đều nhỏ lẻ, chủ yếu làm trong số lượng của gia đình. Tất cả những xưởng ấy làm ra bột lại đem bán cho cháu. Còn vấn đề môi trường thì bác xem đấy, cháu làm đúng theo yêu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn. Nước thải sau khi lắng bột cháu xả xuống ao rồi xử lý bằng thuốc hóa học để một thời gian sau cho hết mùi rồi mới xả ra môi trường. Tuy màu nước có hơi đen nhưng không độc hại, bằng chứng là cháu dùng nước đó nuôi các loại cá, hai ba tháng sau cá vẫn sống, không con nào chết cả.

Theo lời giới thiệu của anh Thắng tôi tìm đến nhà anh Nguyễn Văn Đông người được cho là trồng nhiều dong riềng nhất xã. Đợi mãi đến gần tối mịt vợ chồng Đông mới đi thu hoạch dong về. Đông cho biết:

- Nhà cháu trồng có 3 ha trên đồi. Dong năm nay cũng tương đối khá, vừa năng suất cao vừa được giá. Nhẩm tính 3 ha dong của cháu làm thành bột bán cũng được tầm 200 triệu, trừ chi phí cũng còn khoảng 150 triệu.

Trở lại câu chuyện của trưởng thôn Phạm Đình Thắng, tôi hỏi vợ chồng Thắng sinh được mấy con. Thắng kể:

- Vợ chồng cháu sinh được hai con gái nhưng bây giờ có tất cả là bốn con, ba gái một trai. Hai đứa là con nuôi.

Thấy tôi ngạc nhiên Thắng kể tiếp:

- Hồi cháu lên Cao Bằng học cách làm miến thấy có cặp vợ chồng nghèo đông con, nghèo đến nỗi không có nổi căn nhà tử tế để ở, phải dựng tạm cái lều che bạt như cái lều chăn vịt nằm chơ vơ giữa mảnh đất trống trên sườn đồi. Thương tình cháu ngỏ lời xin nuôi giúp một đứa, anh chị ấy đồng ý ngay. Sau khi ra chính quyền làm thủ tục xin con nuôi xong cháu biếu anh chị ít tiền rồi đưa cháu gái về nhà. Lúc đầu vợ cháu nghi ngờ cho rằng cháu có con ngoài giá thú nên làm ầm ĩ lên, sau khi nghe cháu trình bày đầu đuôi câu chuyện và chìa các giấy tờ thủ tục ra vợ cháu mới vỡ lẽ và vui vẻ hẳn lên. Vài hôm sau cháu bàn với vợ chi một ít tiền lên giúp bố mẹ đẻ cháu xây lại cái nhà cho vững chãi để anh chị ấy yên tâm làm ăn nuôi các con. Được vợ đồng ý cháu lại khăn gói quả mướp lên Cao Bằng tìm mua gạch xỉ, tấm lợp, cát, xi măng rồi về nhà thuê thợ lên xây cho anh chị căn nhà ba gian thay cho cái lều che bạt anh chị cùng các con đang ở. Tổng cộng hết 70 triệu. Hôm khánh thành cháu làm mấy mâm cơm mời người thân của anh chị, mấy người hàng xóm gần gũi cùng mấy cán bộ địa phương đến dự chia vui với gia đình, mọi người đều hân hoan phấn khởi mừng cho anh chị có căn nhà mới vững chãi để chống chọi với gió mưa, thiên tai địch họa, vợ chồng yên tâm làm ăn xây dựng cuộc sống, chăm lo các con ăn học thành người. Lúc chia tay ra về anh chị cứ nắm chặt tay cháu nước mắt lưng tròng không nói lên lời, chỉ nói được câu: “Cám ơn chú, chú đúng là bậc thánh nhân cứu giúp gia đình tôi”. Cháu cũng quá xúc động, chẳng nói được gì, chỉ dặn anh chị ấy nếu có khó khăn gì cứ điện cho cháu, cháu sẵn sàng giúp đỡ. Còn đứa út là thằng con trai năm nay hai tuổi rưỡi cháu xin của một cặp vợ chồng ở xã Xuân Vân kế bên. Bố mẹ đẻ cháu cũng có hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nên khi cháu đặt vấn đề anh chị ấy đồng ý ngay, cháu cũng giúp đỡ anh chị ấy một ít tiền để hỗ trợ anh chị nuôi các con còn lại. Được cái cả bốn đứa con của cháu đều khỏe mạnh, chăm ngoan, học giỏi và rất lễ phép, vợ chồng cháu coi đứa nào cũng như nhau, không phân biệt con nuôi con đẻ. Nếu bây giờ có ai cho con cháu vẫn tiếp tục xin về nuôi cho vui cửa vui nhà.

Trong đợt dịch Covid-19 bùng phát ở thành phố Hồ Chí Minh các cấp chính quyện ở tỉnh ta kêu gọi toàn dân ủng hộ lương thực, thực phẩm cứu trợ nhân dân TP Hồ Chí Minh chống dịch, trưởng thôn Phạm Đình Thắng cũng nêu gương ủng hộ mấy tạ miến dong và cả chuyến xe tải to chở lương thực, thực phẩm của nhân dân xã Lực Hành đóng góp vào tận thành phố trao cho chính quyền địa phương sở tại. Gần đây dịch Covid-19 lại bùng phát ở huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang, chính quyền và các đoàn thể xã Lực Hành lại phát động phong trào “Lá lành đùm lá rách” ủng hộ lương thực, thực phẩm đến nhân dân các dân tộc huyện Lâm Bình. Phạm Đình Thắng lại ủng hộ mấy tạ miến và chuyến xe chở lương thực, thực phẩm và hàng hóa lên Lâm Bình.

Trao đổi với chủ tịch UBND xã Lực Hành, anh Hoàng Văn Kế cho biết:     

-Trưởng thôn Phạm Đình Thắng là một người rất nhiệt tình, năng nổ, sáng tạo trong mọi công việc, nhanh nhạy, tính toán có hiệu quả trong làm ăn làm kinh tế, rất tích cực đi tìm đầu ra cho sản phẩm của bà con, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động địa phương nâng cao thu nhập và làm giầu chính đáng bằng bàn tay khối óc của mình. Nhiệt tình đóng góp mỗi khi chính quyền địa phương có việc cần huy động và đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.

Với những cố gắng không biết mệt mỏi, không cam tâm đầu hàng trước những khó khăn hay thất bại. Đến nay Phạm Đình Thắng đã gặt hái khá nhiều thành công, sản phẩm miến dong của anh đạt tiêu chuẩn hàng chất lượng cao của tỉnh, năm 2016 được đi dự Hội nghị “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có sức lan tỏa trong cộng đồng” toàn quốc tại Hà Nội. Năm 2017 được công nhận sản phẩm tiêu biểu toàn quốc và được cử đi dự lớp tập huấn kinh tế ngắn hạn từ Đồng Hới trở ra tại Nhà khách Dân tộc trung ương. Tại lớp này anh được nghe các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam giảng dạy và phân tích tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam, của Đông Nam Á và thế giới, tầm nhìn đến năm 2030. Từ năm 2018 đến 2020 nhiều lần được cử đi tham quan học hỏi các mô hình kinh tế doanh nghiệp vừa và nhỏ tiêu biểu trên phạm vi toàn quốc, được đi thăm quan vùng đồng bằng sông Cửu Long và huyện đảo Phú Quốc. Năm 2019 được nhà nước cho đi thăm tại Hàn Quốc 8 ngày. Mỗi lần đi như vậy anh học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm làm kinh tế doanh nghiệp để áp dụng vào việc phát triển kinh tế của địa phương và của cơ sở sản xuất miến dong của mình.

Chỉ tiếp súc với Phạm Đình Thắng người trưởng thôn, chủ cơ sở miến dong xã Lực Hành một ngày đã để lại trong tôi một ấn tượng khó quên về một tấm gương sáng của một người vừa có tâm vừa có tầm trong thời hiện đại.

X.Đ

Lượt xem:114 Bản in









Các tin đã đăng:
   Ngược nguồn Na Hang - Đăng ngày:  27/06/2022
   Nỗ lực ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc - Đăng ngày:  20/06/2022
   Từ Văn nghệ Hà Tuyên đến Báo Tân Trào và Tạp chí Tân Trào - Đăng ngày:  20/06/2022
   Đêm cuối hành trình vạn dặm - Đăng ngày:  20/05/2022
   Cái đê bạc - Đăng ngày:  01/06/2022
   Từ Pác Bó đến Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Miền rừng thổ cẩm - Đăng ngày:  30/05/2022
   Tình khau vai - Đăng ngày:  15/06/2022
   Bác về Tân Trào - Đăng ngày:  20/05/2022
   Tài sản vô giá lại là những gì giản dị nhất - Đăng ngày:  07/06/2022

Tổng số: 715 | Trang: 1 trên tổng số 72 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
166

Lượt truy cập:
798.468