Người chăn vịt trên đầm Cò. Truyện ngắn của Mai Thái Sơn
Thứ 3, 4/1/2022 - 17:41

 

 

Minh họa của Ngọc Điền

 

Đầm Cò nằm dưới chân núi Tam Đảo, cây cối, lau sậy, cỏ lác mọc um tùm. Đầm là xứ sở của chim, cò, rắn, muỗi. Cứ vào dịp heo may, từng đàn chim, đàn cò theo gió bay về đầm kiếm ăn. Buổi sáng, trời âm u, bóng cây mờ trong màn sương. Mặt đầm phẳng lặng vì yên gió, ríu rít tiếng chim cò. Đầm Cò lạnh lẽo, hoang vắng, họa hoằn mới có thợ săn chim cò lai vãng. Bên đầm, ngay cạnh ngôi miếu cổ, sừng sững một cây gạo lớn. Cây gạo cổ thụ ấy được trồng từ bao giờ, chẳng ai rõ. Các bậc trưởng lão gật gù, từ thưở ấu thơ chăn trâu, cắt cỏ bên đầm đã trông thấy nó sừng sững vươn cao, xòe tán. Gốc cây gạo sù sì, ba người lớn vòng tay ôm không xuể. Dù buổi trưa hay buổi chiều, đàn bà, con gái trong làng vẫn gợn trong đầu cái cái cảm giác hoang vắng, chợn rợn khi qua đây. Con đường ngoằn ngoèo, lồi lõm ổ gà, cỏ dại chờm kín. Dưới chân núi, cây gạo ngạo nghễ xòe tán. Cạnh đó, cái miếu thấp lè tè. Vài năm trước, anh Lự từ xa táo tợn đến bờ đầm dựng căn nhà nhỏ, chặt lau sậy, nuôi vịt. Sớm chiều Lự một mình thui thủi trên đầm. Nắng mưa, mỏng manh con thuyền nhỏ lênh đênh giữa mênh mông sóng nước. Dù trời gió rét, bão dông hay nắng cháy da, anh Lự vẫn không rời mắt khỏi đàn vịt. Chỉ một chút sơ suất, vịt trở thành miếng mồi ngon cho chồn, cáo từ đám lau sậy bên kia đầm lẻn đến. Chiều hè, gió nhẹ, mặt đầm lăn tăn sóng. Những hàng cây khẽ đung đưa. Đầm Cò là bức tranh thủy mặc mang một vẻ đẹp bình yên dịu dàng và lãng mạn. Mổ xong mấy con cá, anh cởi áo nhảy ùm xuống đầm tắm. Khoan khoái vùng vẫy trên sóng nước. Ban ngày bận rộn với đàn vịt và cuộc sống phóng khoáng giữa sóng nước, khiến anh quên đi nỗi buồn. Chiều tối, vịt đã vào chuồng. Đầm vắng lặng, chỉ có tiếng gió và thỉnh thoảng có tiếng cá quẫy. Bên đầm, trơ trọi căn nhà nhỏ. Lự cởi trần bên chai rượu. Ánh mắt u sầu, anh lặng lẽ ngửa cổ dốc cạn cốc rượu rồi rót đầy cốc khác.

Càng uống lại càng cồn cào, thổn thức. Mới gần bốn mươi, mưa nắng dãi dầu nét khắc khổ, phong trần in đậm trên khuôn mặt. Mắt anh trũng sâu, trán và đuôi mắt hằn nếp nhăn, bàn chân ngấm nước bùn vàng khè, nứt nẻ. Một mình trong căn nhà nhỏ, bên đồ đạc đơn sơ của cuộc sống độc thân, trong lòng anh trống trải vô cùng. Anh ngồi lặng yên, tay chống lên má, tâm trí chìm đắm về những kỷ niệm xa xưa.

Làng Dạng nép mình bên sông cái oàm oạp nước phù sa. Cánh đồng dưới chân đê dày đặc ao chuôm. Xung quanh làng và các ngõ lũy tre ken dầy, bốn mùa xào xạc lá rơi. Nhà Lự ở giữa làng, nếp nhà 3 gian gỗ xoan lợp rạ. Làng Dạng có nghề nuôi vịt đàn. Ngày hè Lự quần xắn móng lợn, đầu đội nón mê cầm cây diều xua vịt theo cha lặn lội hết cánh đồng này đến cánh đồng khác. Sau vụ gặt, trên những ruộng lúa còn trơ gốc rạ, người nuôi vịt lại lùa vịt đến chăn thả. Ngoài ăn mót lúa rơi vãi, vịt còn được ăn các loại côn trùng dế, sên, ốc, cua, cá, cào cào. Lấy bầu trời che đầu, cây sáo trúc làm bạn, vất vưởng ăn bờ, ngủ bụi, Lự lớn lên bên lều vịt. Chiến tranh lan tới làng Dạng. Bom Mỹ dội xuống khắp lũy tre, mái rạ. Nhiều vành khăn trắng thắt trên mái đầu con trẻ. Như bao trai tráng trong làng, Lự  buông tay cày, buông cây diều xua vịt cầm súng ra chiến trường. Những ngày ở chiến trường, Lự vẫn in trong đầu hôm lên đường nhập ngũ. Đó là một sớm tháng Hai, trời mưa phùn, gió bấc, đường làng lầy lội. Khi ấy, Lự vừa tròn mười tám tuổi, anh bình thản cầm giấy gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Đất nước có chiến tranh, trai tráng tất phải cầm súng ra trận, anh suy nghĩ như thế. Lự chưa có người yêu, bà Phơn ra sân đình tiễn con trai lên đường. Lự mặc bộ quân phục màu xanh, vai đeo ba lô, đầu đội mũ cối. Bà Phơn ngồi ở hàng ghế đầu dành cho gia đình có người thân nhập ngũ. Mắt rơm rớm, bà cố giấu đi nỗi niềm xa xót khi đứa con khỏe mạnh rời vòng tay mẹ đi vào nơi mũi tên, hòn đạn. Cái sống, cái chết cách nhau trong gang tấc. Xe ô tô nổ máy, mấy tân binh bước lên xe. Bà Phơn và nhiều người đưa tay lên lau nước mắt. Lự  nhoài người ra ngoài thành xe, nhìn mẹ lần cuối. Chao ơi! Sau này nhớ lại giây phút ấy, Lự thương mẹ quá. Đất nước thống nhất, Thượng sỹ Lự khỏe mạnh, lành lặn trở về. Gái làng say anh như điếu đổ. Chẳng gì Lự cũng là một trai làng hiền lành, chí thú làm ăn và có tiếng sáo mê hoặc lòng người. Đêm khuya, tựa lưng vào cửa sổ, những ngón tay Lự lướt nhẹ trên mấy lỗ sáo tròn. Xao xuyến, bâng khuâng, gái làng như bị hút vào những chuỗi âm thanh réo rắt, trầm bổng từ phía cuối làng. Nhắm Nhiên, cô gái cùng làng làm dâu, cha mẹ giục con trai lấy vợ. Bố làm nghề đồ tể, mẹ có phản thịt lợn đầu chợ, gia đình Nhiên thuộc loại khá giả, có của ăn của để trong làng. Gặp nhau, cô gái quê mỏng mày hay hạt, khuôn mặt nhẹ nhõm, tính tình xởi lởi khiến Lự ngất ngây. Vừa bén hơi chồng những lúc chồng xa nhà theo đàn vịt Nhiên cồn cào mong nhớ. Đêm đêm Nhiên lại úp mặt xuống gối khóc thầm. Vụ cày, Lự về làng. Đôi vợ chồng trẻ quấn chặt lấy nhau. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, tai họa ở đâu liên tiếp giáng xuống gia đình họ. Nỗi đau giày vò cuộc đời Lự khi những đứa con lần lượt ra đời. Nhiên mang thai. Cái bụng ngày một to dần. Sắp được làm mẹ, vợ chồng khấp khởi nhìn nhau, chứa chan hy vọng. Nhưng hạnh phúc chưa kịp đến lại trở thành tai họa. Nhiên trở dạ. Thai nhi có đủ mặt mũi nhưng không tay, không chân. Bà đỡ giật mình khi nom thấy đứa trẻ sơ sinh. Là người từng trải, bà đỡ vội lấy cái khăn bông quấn đứa bé vào không dám cho sản phụ nhìn thấy. Bà Phơn thẫn thờ, ngồi lặng đi như hóa đá. Nửa đêm, nghĩa địa làng Dạng le lói ánh đèn. Giữa tiếng gió rít, mấy người lầm lũi bước đi. Bóng bà Phơn lẩn khuất, chập chờn trong bóng đêm, nước mắt dầm dề. Một sinh linh vừa ra đời ra đã vội về với đất.

Hai năm sau, Lự vui mừng khi vợ có bầu. Cả nhà hồi hộp. Niềm vui xen lẫn nỗi lo. Đứa con trong bụng càng lớn thì Nhiên càng ít nói, ít cười, hay gắt gỏng với chồng. Vào bếp nấu cơm, mặt cau có Nhiên cằn nhằn vì bếp chật, nóng bức, nhiều khói. Thương vợ bụng to đi đứng nặng nề, Lự chỉ cười xòa. Nghe tiếng con dâu cằn nhằn, mặt bà Phơn sa sầm, nhưng bà cố nín nhịn. Nghe thấy tiếng vợ rú lên khi nom thấy đứa con vừa  lọt lòng: “Trời ơi! Sao số tôi khổ sở thế này?” Đứng bên ngoài trạm xá, đầu óc choáng váng Lự lảo đảo dựa lưng vào tường. Cháu bị sơ sinh nũn não, chân tay bị liệt. Nhìn con, nhìn cháu mà ruột gan ông bà  đau đớn như bị dao cắt. Nhớ đến những cánh rừng cháy khét vì chất độc hóa học, Lự đau đớn nghiến răng đến bật máu. Thật không ngờ, cái chất độc không mùi, không vị, vô hình ngấm sâu dưới đất lại có sức tàn phá khủng khiếp như vậy. Chiến tranh  tàn khốc quá, nó đã cướp đi tuổi trẻ của Lự. Bây giờ lại cướp đi cuộc sống của các con anh. Những đứa ác mồm, xấu bụng ở làng Đông rêu rao: “Kiếp trước nhà ông Phơn hại người nên kiếp này bị trời hại. Con dâu sinh hai lần đều ra quái thai. Đúng là đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Khổ thế!”. Những lời xỏ xiên ấy khiến Nhiên mất ăn, mất ngủ. Bước ra khỏi ngõ, chị đã nhồn nhột như có hàng vạn ánh mắt diễu cợt xiên vào. Tuổi già, tấm lưng gầy của ông Phơn đã bắt đầu còng xuống, bước chân đi đã chùng. Mỗi lần nhìn trân trối vào đứa cháu dị dạng, cục nghẹn lại chẹn lên họng ông Phơn. Đau đớn, chán nản, ông Phơn lâm bệnh qua đời. Xuống mồ, ông mang theo nỗi niềm canh cánh về thằng con trai bị nhiễm chất độc da cam. Nguy cơ dòng họ Trần nhà ông không có cháu đích tôn nối dõi tông đường. Đứa con dị dạng, từ khi ra đời vẫn co quắp trên giường như một cành cây héo, nằm một chỗ, ăn, ngủ, gào, khóc, đôi mắt trợn trừng, cái miệng đầy dãi rớt. Thương con, thương thân, Nhiên ôm mặt khóc. Ngày trước, Lự bận theo đàn vịt, việc đồng áng một mình ông bố hì hục làm. Bây giờ, cả nhà trông vào đôi vai của Lự. Cha mất, một mình thui thủi ngoài đồng, mệt nhọc, chán chường, người Lự gầy hẳn đi, da sạm lại, râu mọc tua tủa. Ngày giáp hạt, Nhiên vác rổ đi vay gạo mãi phát ngượng. Mà trong làng chẳng ai dư dật để mà vay. Mất mùa, công điểm thấp, nhà nào cũng bữa ăn một hạt gạo cõng hai lát khoai khô. Đêm qua trời mưa, nhà dột, nước mưa rơi tí tách, hơi lạnh phả khắp nhà. Nhiên ngồi bật dậy. Chị quờ chân xuống giường, hoảng hốt thấy nền nhà lênh láng nước. Loay hoay tìm bật lửa, mãi mới thắp được ngọn đèn dầu. Trong lòng lo sợ và mệt mỏi, không sao chợp mắt được, ôm con vào lòng chị cầu cho cơn mưa mau tạnh. Nhưng cơn mưa rào mỗi lúc một to, nhà dột tứ tung. Mấy giọt mưa rơi vào mặt đứa trẻ làm nó khóc thét lên. Ngồi nép tận cuối giường, chị ôm con chờ trời sáng. Sáng dậy, không có gì cho vào bụng, Nhiên đói lắm. Chị thất vọng thở dài, xuống bếp lục trong chạn, trong nồi xem có gì nhá tạm. Nồi niêu, bát đĩa sạch trơn. Gãi tai, Nhiên đi ra, đi vào nhìn quanh vườn, chả có thứ gì bỏ miệng được. Mọi sáng, bà mẹ chồng ở nhà trông đứa bé. Nhiên thậm thụt về nhà mẹ đẻ. Chị tha hồ tọng vào dạ dày đủ loại quà bánh. Ních đầy bụng, Nhiên còn quắp theo mang bao thứ quà ngon về cất ăn dần. Chẳng biết hôm nay bà ta lai vãng ở đâu mãi chẳng thấy dẫn xác về làm bụng Nhiên cứ sôi sùng sục? Chợt có tiếng đứa bé khóc thét trong nhà, Nhiên đành ôm cái bụng rỗng nằm bên con vỗ về. Tồn tại hơn một năm, cháu bé cũng qua đời. Con chết yểu, Nhiên ngày đêm sống trong hoang mang, sợ hãi. Từ đây, mâu thuẫn giữa mẹ chồng, con dâu bùng phát. Bà mẹ chồng cứ trông thấy mặt con dâu đã lộn ruột lên rồi, bà ghét nó đủ thứ, từ nết ăn đến nết ở. Mồm miệng nó thơn thớt, suốt ngày lười biếng nằm ưỡn trên giường. Lự biết mẹ già khó tính, còn vợ ngày một quá quắt, nhưng giữa mẹ và vợ chẳng biết đứng về phía nào. Lúc mẹ vắng nhà, anh rủ rỉ khuyên can, uốn nắn và đôi lần to tiếng với vợ. Nhưng bản tính nhu nhược, ngại va chạm nhiều khi anh phải nhắm mắt làm ngơ. Ngày nào bà mẹ cũng than thở với con trai chuyện con dâu. Như mưa dầm thấm lâu, Lự cũng thấy mệt. Anh như bị mắc kẹt giữa vợ và mẹ. Không ít lần, hai mẹ con giương gân, giương cổ cãi nhau nước đôi lóe xóe. Láng giềng bĩu môi ngao ngán. Lự cũng chỉ biết vò đầu, bứt tai, kêu khổ. Suy nghĩ nhiều, Lự bải hoải cả thể xác lẫn tinh thần, cơ thể lực điền của Lự sút trông thấy. Lang thang cùng đàn vịt, nhiều đêm nằm giữa cánh đồng, Lự thấy tủi phận. Anh da diết nhớ nhà, nhớ hơi ấm nồng nàn của người vợ trẻ.  Vào vụ cày Lự về làng. Anh ngơ ngác, căn buồng nhỏ trống rỗng. Giọng bà Phơn chao chát, răng nghiến kèn kẹt: “Con vợ anh, nó bỏ về nhà mẹ đẻ rồi”. Anh thở dài, nằm ngửa, vắt tay lên trán, cắn môi nghĩ ngợi, đôi mắt trân trân nhìn lên trần nhà. Buổi tối, anh sang nhà ngoại đón vợ về. Những cái lườm nguýt sắc như dao của mẹ vợ cứa vào lòng Lự. Gặp chồng Nhiên hờ hững kêu mệt, bảo anh cứ về trước, chị muốn ở nhà mẹ đẻ cho tiện mua thuốc thang. Lự đành lủi thủi về một mình, trong lòng thấy hoang mang, trống vắng. Anh thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Chiều hôm sau, đang quét sân nhìn thấy con rể bước vào, mặt tối sầm, bà mẹ vợ xỉa xói:

- Con gái tôi hồi ở nhà thân thể mỡ màng, mặt hoa da phấn, lấy anh có mấy năm mà đã ốm đau quặt quẹo, thân tàn ma dại, khổ cho nó quá. Anh vào đi chị ấy đang chờ.

Chìa đơn ly hôn, sụt sùi nước mắt, người đàn bà cúi đầu nói với chồng những lời sâu thẳm tự cõi lòng:

- Anh thật  tốt bụng, cao thượng, vị tha, còn em  một kẻ ích kỷ, vô ơn. Nhưng ngoài tình nghĩa vợ chồng, là đàn bà em ước ao được làm mẹ, sinh con. Xin anh hiểu và cảm thông với hoàn cảnh của em.

Lòng tái tê, đau đớn, Lự nắm tay vợ:

- Nỗi đau chiến tranh tàn khốc này, lấy anh nên em cũng phải gánh chịu. Em ơi, vợ chồng mình sẽ đến bệnh viện hay trại trẻ mồ côi, xin nhận con nuôi.

Rút tay mình ra khỏi tay chồng, người đàn bà buồn bã lắc đầu:

- Sống bên nhau, em đâu có tìm thấy hạnh phúc, nếu còn yêu em, xin anh hãy giải thoát cho em. Vĩnh biệt anh.

Xung quanh Lự mọi thứ quay cuồng như cơn lốc xoáy. Đầu óc trống rỗng, cầm lá đơn ly hôn, bàn tay Lự run run, chữ ký nghiêng ngả. Lự biết, Nhiên đang giấu kín trong sâu thẳm tâm hồn một nỗi buồn, một sự thất vọng và cả những nỗi đau ngập lòng. Nghe bước chân con trai, bà Phơn từ dưới bếp chạy lên, rầu rĩ nhìn con. Vật vã trên chiếc giường còn vương hơi ấm của vợ, Lự đau đớn xót xa, cả đêm thức trắng. Lấy rượu giải sầu, những tháng ngày dài nặng nề trôi qua trong cuộc đời Lự. Ngôi nhà xưa ấm cúng giờ lạnh lẽo chẳng có tiếng cười. Nỗi cô đơn, u ám chất chứa trong người Lự.

Lúc nhá nhem hôm ấy, Lự vừa lùa vịt vào chuồng. Nghe tiếng gọi thất thanh của bà thím, ba chân, bốn cẳng anh chạy về. Nhà đông nghịt người. Nom thấy Lự, ánh mắt ái ngại, cảm thông, mọi người vội dạt ra. Trên giường, mẹ anh nằm thom thóp. Nghe tiếng con, bà cố mở mắt, mấp máy môi, mắt từ từ khép lại. Lự nắm tay mẹ, bàn tay lạnh cứng. Đau đớn, Lự ôm lấy mẹ, nước mắt đầm đìa. Họ hàng, làng xóm xúm vào lo việc tang lễ. Ánh mắt vô hồn, chân thấp chân cao, anh ra nghĩa địa. Thắp hương trên mộ cha mẹ, mộ các con, đớn đau nước mắt Lự chảy ngược vào trong.  Trong ráng chiều chạng vạng, bờ cỏ mấp mô, chúi đầu về phía trước, bóng anh lầm lũi đầy cam chịu. Làng Dạng bao năm qua vẫn chầm chậm trôi trong hắt hiu, buồn bã. Những người trẻ đã lần lượt rời quê tha hương kiếm sống, ở lại chỉ còn ông bà già và đám trẻ con. Dưới mái rạ bên rìa làng còn Lự, người đàn ông đơn thân, sống lặng lẽ cùng đàn vịt. Lễ cúng trăm ngày bà cụ, Sản, người bạn đồng ngũ từ miền núi xuống chia buồn. Nắm tay bạn, Sản an ủi:

- Các cụ đều đã khuất núi, một thân một mình cô quạnh ở trên đời ông cũng chết sầu chết héo vì u buồn. Quê tôi có cái đầm hoang, thuận lợi cho nghề chăn vịt. Hy vọng cuộc sống phóng khoáng giữa sóng nước, bạn bè kề cận bên nhau sẽ giúp ông khuây khỏa.

Lự lừng khừng, mệt mỏi buông lời: - “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, số kiếp tôi như thế thôi đành cam chịu. Bỏ quê làm sao được, ở đây còn mồ mả cha mẹ, tổ tiên, anh em họ mạc.

Sản sốt ruột, phẩy tay: - Đi đâu cũng gầm giời này cả. Bây giờ tàu xe có sẵn, ở quê có việc gì bà chị ới một câu, chỉ nửa buổi ông đã tới quê. Thôi, ông sắp xếp việc nhà ổn thỏa đi rồi lên sau, vợ chồng tôi chờ đấy. 

Giao nhà và mảnh vườn cho người chị trông  hộ, bước chân nặng trịch, Lự thất thểu ly quê. Vợ chồng Sản cùng Lự ra vườn chặt tre mai, tre hóp, lá cọ hì hục đục đẽo. Dăm ngày, họ đã dựng xong một căn nhà 3 gian, lợp cọ gọn ghẽ bên đầm Cò. Trong buồng kê cái giường rẻ quạt, hai gian ngoài kê bộ bàn ghế và chiếc chõng tre. Đun nấu thì ở cái bếp nhỏ xinh ngay phía sau nhà. Lự cười mãn nguyện. Từ ngày ấy, Lự neo đậu cắm cuộc đời ở vùng đất mới. Tình nghĩa bạn bè, đầm Cò và nghề chăn vịt giúp anh có chốn nương thân, khuây khỏa trong lòng.

Chiều đông, đầm Cò quay quắt gió. Lự lấy rượu giải sầu. Chợt bên đầm, tiếng trẻ khóc ré lên giữa âm thanh tĩnh lặng. Đặt chén rượu xuống mâm gỗ, anh nghển cổ nhìn ra. Dưới trăng lạnh, bóng người phụ nữ loay hoay lấy chiếc khăn quàng cổ buộc đứa trẻ vào người mình. Đoán chuyện chẳng lành, Lự vội nhảy xuống thuyền. Khua mạnh mái chèo, con thuyền bay trên mặt nước. “Ùm”. Ôm đứa trẻ vào lòng, người phụ nữ gieo mình xuống đầm. Lao xuống nước, quờ quạng một hồi, Lự mới kéo được  người bị đuối nước vào bờ. Cởi chiếc khăn buộc giữa 2 người, anh dang tay, ngửa cổ từng người, móc hết nhớt áp miệng hút mạnh. Hút một hồi, mí mắt người phụ nữ rồi đứa trẻ hơi động đậy. Mừng rỡ, Lự xốc người đàn bà lên vai và bế đứa trẻ vào nhà. Trời lạnh, quần áo của người phụ nữ và cháu bé đều sũng nước. Sau một chút chần chừ, anh đành tặc lưỡi lấy quần áo của mình thay cho người bị nạn. Cảm giác da thịt của người đàn bà làm anh thấy rạo rực. Khi chạm vào những  phần nhạy cảm trên cơ thể đàn bà, ngón tay người đàn ông run rẩy, tim đập dồn dập, miệng khô đắng. Anh nhắm mắt lại không dám nhìn vào tấm thân đàn bà trần truồng  nằm trước mắt. Răng cắn chặt vào môi đến bật máu, anh tự nhủ. Lự ơi! Đừng làm điều gì dại dột, đây là người bị nạn cần mình cứu giúp. Ý nghĩ ấy giúp anh trấn tĩnh, tránh được cái cám dỗ trần tục. Một lúc sau, người phụ nữ mở mắt, nhỏm dậy, giọng khó nhọc:

- Để cho mẹ con tôi được chết, anh cứu làm gì?

Người đàn ông càu nhàu:

- Cô chán sống, kệ cô nhưng đứa trẻ có tội tình gì mà cô bắt chúng nó phải chết.

Người phụ nữ gầy gò, tiều tụy, mặt lấm tấm tàn nhang buồn bã ôm mặt khóc:

- Chồng chết, nhà mất, lang thang ngoài đường, sống cũng bằng chết, chi bằng mẹ con tôi đi cho nhẹ người.

Bưng bát nước ấm đặt trên tay người phụ nữ, giọng Lự nhẹ nhàng:

- Chắc hai mẹ con đói mệt lắm rồi. Tôi luộc ù mấy quả trứng và đun nồi cháo cá, mẹ con ăn cho đỡ đói.

Nhìn bộ quần áo đàn ông đang mặc trên người, mặt chị ta chợt đỏ bừng. Hôm sau, tỉnh táo người phụ nữ buồn bã kể chuyện cuộc đời mình. Đủ sinh ra, lớn lên trong ngôi làng trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải yên ả ven sông. Cuộc đời cô bỗng thay đổi từ khi đám thợ cầu về xây dựng cây cầu bắc qua sông. Cô gái quê dáng người mảnh mai, khuôn mặt nhẹ nhõm cuốn hút đám thợ cầu. Khả, gã trai cao lớn, khéo mồm, có giọng ca cải lương mùi mẫn giành được cảm tình của cô gái. Cuối thu, Khả đưa người yêu về ra mắt bố mẹ. Mừng rỡ, ông bố ghé tai con trai: “Khéo chọn đấy nhưng cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”. Tháng sau, ngày đẹp, ông bà hoan hỉ đến nhà gái xin được làm lễ ăn hỏi, xin cưới. Dè dặt, hoài nghi nhưng thương con cha mẹ Đủ gượng gạo gật đầu. Ngày hợp long cầu cũng là ngày cưới của đôi trai gái. Cuộc sống bình lặng trôi qua bên ngôi nhà nhỏ bên sông. Một người chồng thương yêu vợ, một cô con gái nhỏ ra đời, Đủ bằng lòng với cuộc sống của mình. Cây cầu hoàn thành, Khả theo những công trình mới. Bước chân anh thợ cầu ngày một xa ngôi làng trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Thời gian đầu, năm đôi lần Khả đảo qua nhà. Về sau, cả năm trời đằng đẵng đợi chờ, giáp Tết người vợ mới thấy chồng lai vãng về nhà. Nghe dân làng xì xào, bàn tán, nóng ruột Đủ ôm con ra thành phố tìm chồng. Xây cây cầu lớn bắc qua sông ngay giữa lòng thành phố, anh thợ cầu đa tình dễ dàng sa vào cám dỗ của chốn phồn hoa.  Rượu, gái, cờ bạc nhanh chóng đẩy Khả thành kẻ nô lệ của nàng tiên nâu. Vật vờ, nay làm, mai nghỉ Khả bị đuổi việc. Gặp chồng, người vợ sững sờ không tin ở mắt mình. Chồng gầy đét như con cá khô, da chằng chịt sẹo, nổi vảy như da cóc, hai mắt lồi ra trắng dã. Đói thuốc, Khả vật vã lúc xấp lúc ngửa, miệng méo xệch đi, dãi dễu tuôn ra chẳng nhận ra ai. Vợ nước mắt ngắn dài, năn nỉ Khả vẫn lắc đầu không chịu về nhà. Mặc bố mẹ can ngăn, Đủ về làng bán nhà cửa, ruộng vườn. Mua ngôi nhà nhỏ ven đô, Đủ lấy nghề đồng nát làm kế mưu sinh. Sáng chiều, chị đầu tắt mặt tối, nhọc nhằn làm lụng nuôi con, nuôi người chồng nghiện hút. Vất vả lắm, Khả mới nghe lời vợ đi cai nghiện. Ra trại cai nghiện chưa được bao lâu, bị bạn nghiện tìm đến lôi kéo, rủ rê, “ngựa quen đường cũ” Khả lại sa vào hút hít, tiêm chích. Tài sản trong gia đình cứ lần lượt đội nón ra đi. Khi trong nhà không còn gì để bán, Khả đi vay nặng lãi. Đến hạn, không có tiền trả đám đòi nợ thuê xộc đến, dọa dẫm, chửi rủa. Mẹ con Đủ sống trong nơm nớp lo âu. Một tối, Đủ rụng rời khi nghe tin chồng sốc thuốc, ra đi không một lời trăng trối với vợ con. Khả chết chưa được bao lâu, chủ nợ sai tay chân chìa giấy vay nợ đuổi mẹ con Đủ ra đường. Tai họa ập đến, người thân dè bỉu không thương xót, tâm trạng u uất, như người mất hồn Đủ ôm con ra cửa. Không tiền, mẹ con nhịn đói lang thang trên đường. Tuyệt vọng, bước chân vô định, mẹ con đến đầm Cò định quên sinh.

Đủ gục xuống, nức nở. Đôi vai gầy rung lên. Mắt cay xè, anh Lự đứng dậy nói liền một hơi:

- Tôi chỉ có một mình, căn nhà hẹp nhưng lòng người thì rộng. Nếu không ngại, mẹ con cô cứ ở đây. 

Nghẹn ngào, Đủ lấy tay chấm nước mắt:

- Đội ơn anh đã cưu mang, ơn nghĩa này mẹ con em sống để bụng, chết mang theo.

Hai cuộc đời bất hạnh sưởi ấm cho nhau. Dù có muộn màng, hai người bên nhau làm vợ, làm chồng. Họ được hưởng những niềm vui bình dị. Buổi sáng, màn sương phủ kín mặt đầm, chim cò rời tổ bay đi tìm mồi. Người vợ bận bịu gánh gồng mang trứng ra chợ, đưa con đi học. Người chồng thong dong lùa vịt ra đầm. Chiều về, ánh hoàng hôn nhạt dần, khói bếp tản ra trên mái, trời bắt đầu tối. Con gái nhỏ trải chiếu, thắp chiếc đèn dầu hỏa đặt lên bàn. Người vợ bưng mâm cơm ở dưới bếp lên nhà. Sau một ngày làm lụng vất vả, cả nhà ngồi quây quần bên mâm cơm. Người chồng chậm rãi chuyện đàn vịt. Con gái háo hức chuyện học hành. Người vợ phe phẩy quạt nan, trên môi nở nụ cười mãn nguyện. Cao hứng, Lự thả hồn vào cây sáo.

M.T.S

Lượt xem:136 Bản in

Tin mới nhất









Các tin đã đăng:
   Làng chùa Bảo Ninh Sùng Phúc - Đăng ngày:  27/04/2022
   Tảo mộ - Đăng ngày:  09/05/2022
   Những ngày không quên - Đăng ngày:  11/05/2022
   Tháng ba, đi tìm ẩn số trận đánh Buôn Ma Thuột - Đăng ngày:  11/05/2022
   Bài học Tân Trào - Đăng ngày:  09/05/2022
   Chiếu dời đô - Đăng ngày:  09/05/2022
   Tuyên Quang cất cánh bay lên - Đăng ngày:  27/04/2022
   Những ngày ở viện - Đăng ngày:  28/03/2022
   Quán ông đồ - Đăng ngày:  29/03/2022
   Cái tâm của người có tầm - Đăng ngày:  04/04/2022

Tổng số: 700 | Trang: 1 trên tổng số 70 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
1726

Lượt truy cập:
735.018