Nỗi nhớ quạt giang
Thứ 2, 10/1/2022 - 14:12
* Tản văn của Lê Na

 

Minh họa của Quảng Tâm

 

Mẹ tôi có nghề “quê truyền” đan quạt. Xa quê từ khi mới hơn mười tuổi, thế mà nghề đan quạt đã theo mẹ lên Tuyên Quang. Ấy là vào năm 1946, năm Hà Nội và nhiều tỉnh phía Bắc tản cư giặc Pháp. Người Hà Nội, thực hiện vườn không, nhà trống, sơ tán ra khỏi thành phố. Mẹ tôi là chị cả trong gia đình đông anh em, phải theo bà thím họ từ quê Hà Tây ra phố, rồi lần mò bằng đôi chân trần đi lên Việt Bắc tự làm thuê, kiếm sống nuôi thân.

Quê ngoại tôi có nghề đan quạt. Chỉ một thôn Nội của xã Đức Thượng người nào cũng biết đan quạt, nhà nào cũng lấy đan quạt làm nghề phụ. Ngày tôi về quê, đến đâu cũng gặp những người mải miết bên đống nan giang, gióng quạt. Sáng, trưa, chiều và tối. Xuân, hạ, thu, đông, rảnh việc là người ta lại ôm lấy những bó nan trắng muốt, nuột nà. Người già bảy tám chục tuổi lọ mọ đến trẻ nhỏ, năm bảy tuổi lăng xăng tập tọe. Để đông vui, người trong thôn thường tụ lại một nhà ai đó, vừa đan quạt vừa trò chuyện, bên nồi nước chè xanh to tướng. Nay nhà này, mai nhà khác, luân vòng. Quạt được đan và cất giữ từ tháng này qua tháng khác, đợi gần đến mùa hè mới xuất đi các vùng lân cận và tỉnh khác. Nhiều nhà có cả kho quạt, gác quạt. Tôi nhớ, khi ở Tuyên Quang mẹ tôi bán ba hào một chiếc quạt thì quê tôi, các dì chỉ bán được một hào hoặc chín xu. Thế mà, suốt hàng nửa thế kỷ thôn Nội quê tôi vẫn không hề từ bỏ nghề đan quạt. Sự giằng níu của sợi nan giang đã đem lại nguồn thu đáng kể cho cái làng ven đô.

Nghề đan quạt nan ở miền núi, không mất nhiều công sức lắm, ngoại trừ việc đi vào rừng lấy giang. Thường thì bố tôi đi lấy, nhưng đôi khi cả bố và mẹ cùng đi. Cây giang mọc nơi khe núi có độ ẩm thấp đến lưng núi cao, phải đi xa mới có. Giang lại không mọc thẳng đứng, như tre, nứa, vầu. Vào khu rừng giang như vào ma trận của những thân giang nghiêng ngả. Những bụi giang nối nhau, đan cài, không có lối mòn nào cả. Thú dữ thường lẩn trốn trong rừng giang. Đôi khi gặp cả lợn rừng, cầy cáo. Còn trăn, rắn, ong, muỗi, vắt là chuyện thường… Không phải cây giang nào cũng có thể dùng làm nan đan quạt. Phải chọn cây giang bánh tẻ. Đó là những cây giang không quá già, quá non, chừng nửa năm tuổi. Những cây đó thường nằm sâu trong giữa bụi. Cây có ống dầy và dài là hai tiêu chuẩn quan trọng. Mỗi cây chỉ chọn chừng ba đến bốn mét là đẹp. Chặt xong, chúng được bó lại thành bó, để vác xuống núi. Bao giờ bó giang của bố tôi cũng nặng gấp đôi bó giang của mẹ. Vác bộ cả năm sáu cây số đường rừng, trưa rặt, có khi sang chiều mới về tới nhà. Có buổi đi xa phải mang cơm nắm đi ăn trưa. Càng về sau rừng giang càng lùi xa dần, tít trong rừng sâu, núi thẳm, có khi cả chục cây số.

Ngay tối đó, bố tôi chặt giang ra từng gióng. Để tận dụng tối đa ống giang, phải chặt vào điểm giữa mấu giang. Tiếp đến cạo lớp vỏ xanh bên ngoài. Công đoạn này chị em chúng tôi, ai cũng có thể làm. Có người, chỉ nghe tiếng dao cạo vào cật giang đã rợn người. Nếu không để lưỡi dao có độ nghiêng chuẩn, có thể bị vấp vào thịt ống giang. Sợi nan chỗ đó sẽ bị sẹo. Ống giang được thay áo mới, có màu trắng ngà. Rồi từng ống lại chẻ ra thành sáu, tám hay mười nan tùy theo ống to hay nhỏ. Mỗi nan giang rộng khoảng vài phân, được lột bỏ lớp ruột mỏng. Chúng được đan với nhau thành từng phên, rồi phơi vài nắng. Nắng càng

nỏ, nan giang càng trắng muốt. Ngay cả khi phơi, mẹ cũng nhắc chúng tôi, để riêng một đầu, mẹ đã đánh dấu, không chạm đất, sau này chẻ nan còn dùng răng cắn giữ…

Những sợi nan giang màu trắng tinh khôi, mỏng như lá lúa nếp. Mẹ chuốt trong ngày mưa, hay trưa nắng, mẹ chuốt trong đêm trăng. Cứ chặt nắm tay, chúng được bó lại. Những nan nhỏ, cứng hơn được mẹ chọn để gầy xương quạt. Gầy quạt là bước đầu tiên hình thành chiếc quạt, đòi hỏi phải chắc chắn, giữ cho thân quạt không bị yếu mềm. Tôi đã nhiều lần ngồi ngắm mẹ đan quạt. Mười ngón tay của mẹ tôi như có mắt. Không bao giờ sai lỗi. Những ngón tay gầy guộc cứ quơ tay xuống là vớt lên đúng những nan cần, cho dù mắt mẹ nhìn đi nơi khác. Có lần, tôi vờ giữ lại một nan, làm cho mẹ phải ngưng lại đôi chút. Mẹ lườm tôi. Để cho quạt có màu sắc đẹp, giá bán cao hơn, mẹ nhuộm phẩm màu cho nan quạt. Thường là màu hồng hoặc màu xanh của xương quạt hoặc điểm xuyết hai bên đầu và cuối, mỗi chiếc quạt. Nếu quạt có toàn bộ màu xanh hoặc hồng đều không đẹp. Mẹ bảo nó rợ quá. Quan niệm về vẻ đẹp của mẹ luôn nhã nhặn, hài hòa.

Ngày nhỏ, tôi cũng đã từng làm “shiper” quạt nan. Buổi sáng khi đi học, tôi xách theo một chùm quạt, để giao cho những người đã đặt trước. Mẹ chỉ cần nói tên, tả đặc điểm, và vị trí nhà là tôi hoàn thành nhiệm vụ. Mẹ tôi, người con của thôn Nội, đã mang cái mát đến cho cả làng Kim Phú. Quạt nan mang gió về những trưa hè oi ả. Quạt ru em bé ngủ, nâng giấc người già. Mỗi khi chúng tôi nóng sốt, quạt lại bên mình phe phẩy.

Những chiếc quạt đó đã phụ giúp một khoản chi tiêu trong gia đình tôi. Mua đèn, dầu, sách vở chúng tôi học, mua quần áo mới mỗi khi Tết đến cho cả bốn chị em. Có lần tôi hỏi mẹ, nếu chỉ dành thời gian cho đan quạt, một ngày mẹ đan được bao nhiêu cái? Mẹ bảo được khoảng ba mươi cái. Tôi nhẩm tính, vậy là mẹ có thể làm ra một tờ “Cụ Mượt” (mười đồng, tờ tiền có mệnh giá cao nhất lúc bấy giờ). Nhưng mẹ tôi chỉ có đôi bàn tay gầy guộc, hàng trăm thứ việc có tên và không tên đến tay. Quá nửa thời gian dành cho cây lúa, củ khoai, nương sắn. Còn trồng rau xanh, chăn nuôi trâu, lợn, gà vịt. Lên rừng lấy củi, nứa, thiếu chạc, lấy chuối lợn. Ra đồng bắt cua, cá những trưa nắng lửa. Đi mót chè, mót lúa mỗi vụ thu hoạch. Giải quyết những sự vụ do chính chị em chúng tôi gây ra như ném chết vịt nhà hàng xóm, lấy trộm mía của nông trường, đánh nhau với trẻ trâu hay vẩy mực lên áo bạn… Chưa kể những phong trào Phụ nữ ba đảm đang của địa phương luôn oi kéo mẹ, như: làm phân xanh bón ruộng, áp dụng khoa học kỹ thuật trong lò thúc mầm, ba sôi, hai lạnh…

Bây giờ quạt giang thưa vắng dần. Quạt cọ, mo cau thi thoảng mới gặp ở vùng sâu, vùng xa thành phố. Quạt điện, phòng điều hòa đã thay thế. Quê ngoại tôi chuyển sang nghề bánh kẹo. Quạt nan lặng lẽ đi vào ký ức. Tôi không sao quên được, ngày mẹ mất. Tôi nâng lên bàn tay mẹ. Thương quá, những ngón gầy, mỏng manh như xương quạt. Đôi bàn tay đã đi qua bao gian khó cuộc đời, gây dựng niềm tin, hạnh phúc cho chúng tôi. Đôi bàn tay chắt chiu, gom góp những ngọn gió mát cho chúng tôi và cả làng quê nghèo khó ngày nào. Những ngày này nhiệt độ nhiều nơi lên ba chín, bốn mươi độ, thậm chí còn hơn nữa, tôi ngồi trong phòng điều hòa lại nhớ về đôi bàn tay mẹ, một nỗi nhớ vô hạn về quạt nan. Chắc ở thế giới bên kia, một mình mẹ tôi vẫn lặng lẽ với nghề đem mát lành cho mọi người.

L.N

Lượt xem:36 Bản in









Các tin đã đăng:
   Dì tôi - Đăng ngày:  04/01/2022
   Người chăn vịt trên đầm Cò. Truyện ngắn của Mai Thái Sơn - Đăng ngày:  04/01/2022
   Giọt nắng - Đăng ngày:  19/01/2022
   Ông lái đò sông Đáy - Đăng ngày:  20/01/2022
   Páo Dung giao duyên của người Dao ở Tuyên Quang - Đăng ngày:  10/01/2022
   Quà của ông già Nô-En - Đăng ngày:  20/01/2022
   Miền quê yên ả... - Đăng ngày:  27/12/2021
   Văn học, nghệ thuật về biên giới, biển đảo: Khơi tiếp mạch nguồn sáng tác - Đăng ngày:  25/11/2021
   Tình yêu nơi Đất Cánh đồng Chum - Đăng ngày:  25/11/2021
   Lão Sang - Đăng ngày:  25/11/2021

Tổng số: 669 | Trang: 1 trên tổng số 67 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
25

Lượt truy cập:
717.274