Tìm về những giá trị xưa
Thứ 4, 8/6/2022 - 8:20
* Lê Thanh Huyền

 

 

Lễ tơ hồng của người Dao ở Na Hang. Ảnh: P.V

 

Lật giở từng trang sách cổ của người Dao, ông Bàn Xuân Triều, nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Tuyên Quang như đã trở lại giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Mặc dù đã mấy chục năm sống ở nơi phồn hoa phố xá, nhưng trong tôi luôn đau đáu một nỗi niềm về cội nguồn của dân tộc mình. Được Đảng cho đi học cái chữ, ông Triều đã có mấy chục năm tham gia công việc của một cán bộ Nhà nước. Sau này, khi nghỉ hưu, ông mới có điều kiện đi khắp nẻo đường trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, nơi có cộng đồng dân tộc Dao sinh sống, để sưu tầm, ghi chép lại. Trên hành trình trở về những giá trị xưa của tổ tiên, ông tìm đến bạn bè, những người nghệ nhân, thầy cúng. Họ là cả một kho tàng tri thức dân gian của người Dao đang trực tiếp gìn giữ giá trị cội nguồn dân tộc.

Từ hàng nghìn năm qua, đồng bào Dao Đỏ sống gắn bó với núi rừng, địa bàn khó khăn nhất. Đồng bào ông lấy sản xuất nông nghiệp và làm nương rẫy vẫn là nghề chính. Từ trong lao động sản xuất, người Dao sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa. Trong đó có văn hóa và tín ngưỡng, như: Tục thờ cúng thánh thần, thủy tổ Bàn Vương... Các thế hệ tổ tiên đồng bào ông đều luôn có ý thức truyền lại cho con cháu cả những mạch nguồn văn hóa tiêu biểu nhất thông qua ký tự và ngôn ngữ. Những ký tự được sáng tạo, ghi chép trong kho tàng sách cổ về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của người Dao. Chính từ những bộ sách cổ đó giúp cho các thế hệ tổ tiên, thế hệ ông nhận diện chiều sâu văn hóa của cả một tộc người.

Tổ chức lễ cưới, lập và xây dựng hạnh phúc gia đình trăm năm là việc lớn và hệ trọng của cuộc đời mỗi con người trong cộng đồng Dao đỏ của ông Bàn Xuân Triều trên khắp các bản làng miền rừng ở Tuyên Quang và một số tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam. Ông vẫn thường quan niệm rằng, dân tộc nào cũng vậy, nhưng đối với dân tộc Dao đỏ thì lại có hình thức tổ chức lễ cưới độc đáo riêng. Trước đây, con gái tộc người Dao khi đến tuổi trưởng thành, thường kết bạn với các cô gái ở bản khác. Khi mùa Xuân đến, các cô gái ở bản này sẽ sang bản khác chơi và cùng nhau ngủ lại đến hôm sau mới trở về  bản của mình. Đây cũng là dịp để các chàng trai tỏ tình với các cô gái. Họ thể hiện bằng lời hát. Những lời hát ấy mang đậm hương rừng, hương núi.

Ngay từ trẻ, ông Bàn Xuân Triều đã được sống trong một không gian văn hóa đậm giá trị truyền thống của dân tộc mình. Những khi đêm xuống, cả núi rừng như được đánh thức từ những câu hát Páo dung. Cả tuổi trẻ, ông đã theo chân các trai bản đi hát thâu đêm với những lời ca Páo dung mộc mạc, giàu hình ảnh. Thường thì các chàng trai mở đầu bằng câu hát: “Em ơi, em từ phương nào tới/Sao lại lạc lối đến quê anh/Đến với anh xin em mở lời/Để anh thỏa ước nỗi chờ mong”. Đám con gái bản hát: “Em là đồng hương cùng huyện tỉnh/Đến đây dự hội cùng chia vui/Được anh tiếp đón lòng khấp khởi/Em đến với anh cả tấm lòng/Lần đầu gặp chẳng nói nên lời/Nhờ anh dạy bảo cùng giao duyên”. Những đêm hát đối của trai làng, gái bản của tộc người Dao chúng tôi cứ thế kéo dài bất tận. Họ hát say sưa bằng sự rung cảm từ nhịp đập của trái tim tuổi trẻ. Từ sau những đêm hát tâm sự ấy, có đôi đã phải lòng nhau, khẳng định tình yêu, hứa hẹn, thưa với bố mẹ hai bên gia đình để tiến tới xây dựng hạnh phúc trăm năm.

Ông bảo, trong hôn nhân của tộc người Dao, sau khi trai gái tìm hiểu nhau xong sẽ tiến hành lễ ăn hỏi. Bên nhà trai gánh đồ lễ sang nhà gái. Thành viên trong đoàn đi bao gồm bố mẹ bên nhà trai; một người đàn ông đại diện cho họ nhà trai. Ông này phải là người biết làm thầy cúng, biết hát đối đáp; một số người giúp gánh đồ thịt, rượu, bánh, đậu phụ nhồi...

Chương trình buổi lễ ăn hỏi được bắt đầu khi đại diện nhà trai trình bày lý do, bàn thống nhất chính thức cho hai bên trai gái được phép qua lại tìm hiểu, thống nhất lập thành một hợp đồng, trong hợp đồng ghi đầy đủ diễn biến từ lễ ăn hỏi cho đến tổ chức lễ cưới. Sau lễ ăn hỏi hai bên gia đình chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho lễ cưới… Lời rằng:

Bàn Cổ khai thiên và lập địa

Tạo ra sông suối cùng muôn loài

Lưu Ba sáng tạo ca múa hát

Tạo ra loài người duy giống nòi

Sinh thành nam nữ kết nhân duyên

Muốn gặp nhau cách xa muôn dặm

Nghe đồn rằng nàng đẹp hơn người

Nét ngài nở nang má trắng hồng

Đến tuổi kết duyên người nhòm ngó

Hành mối đến hỏi so duyên số

So tuổi tử vi số hợp duyên

Thứ nhất hành mối xin lời ngỏ

Cha mẹ đồng ý gả làm dâu

Lần hai đến làm lễ dặm hỏi

Cha mẹ nói rằng theo lệ làng

Lễ vật một trăm hai mươi lạng

Riêng bạc trắng bốn mươi tám lạng

Bố mẹ hành mối trao tiền ngay

Lần ba nhà trai mang lễ vật

Định ngày đón dâu ngay trong năm

Mong nhà gái không thay lòng dạ

Thay lòng đổi dạ chuyện không thành

Một lòng nhà trai cùng thủy chung

Nhà gái thay lòng chẳng đáng xu

Nhà trai chuẩn bị lễ đón dâu

Lợn gà mọi thứ đã lo đủ

Hôm nay đến ngày lành tháng tốt

Quan làng nhà gái đến đưa dâu

Quan làng ra trước đến cô dâu

Trang phục cô dâu đẹp rạng ngời

Mọi người đến trầm trồ ngợi khen

Nhà trai sắm đủ mọi nghi lễ

Đón nàng về hạnh phúc trăm năm

Dù tóc bạc răng long lòng chung thủy

Giọt lệ rơi phải xa cha mẹ

Thương để trong lòng sao về được

Đến giờ đón dâu vào hành lễ

Cô dâu nhà gái đứng đợi chờ.

Hôm tôi và ông Bàn Xuân Triều có dịp trở về thôn 5 Thuốc Hạ, xã Tân Thành, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để tham dự lễ kết tơ hồng của con một người bạn thân thiết với ông. Đường vào thôn bây giờ khang trang, sạch sẽ và dễ đi hơn trước đây rất nhiều. Tuy nhiên, mặc dù cuộc sống khá giả hơn xưa, nhưng lễ kết tơ hồng vẫn được gia đình anh tổ chức trang trọng theo truyền thống tổ tiên. Tại nhà trai, thầy cúng trên đầu buộc một miếng vải đỏ. Thầy cúng tiến hành thỉnh mời các thánh thần, tổ tiên mà gia đình chủ nhà thờ cúng. Thời gian cúng diễn ra khoảng 3 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, lễ cúng tổ tiên phải xong trước khi cô dâu đến. Ý nghĩa của lễ cúng này là thỉnh báo tổ tiên đến để chứng giám lễ kết hôn, phù hộ độ trì cho gia đình an khang, bảo vệ lễ cưới không để xảy ra việc gì bất chắc. Quan trọng nhất là chứng giám thầy chình súi làm phép theo để kết rượu cho cô dâu chú rể.

Khi nhà gái đưa dâu gần đến nhà trai, cách nhà trai khoảng 200 - 300 mét, thì nhà gái dừng lại để chỉnh trang phục cho cô dâu. Đến lúc này, nhà trai mới bắt đầu tiến hành đi đón dâu. Đội hình nhà trai gồm có đội kèn pí lè do ông thổi kèn làm trưởng. Về đến nhà trai đã có rạp đón tiếp, mời thuốc, chè, rượu, chào hỏi, đợi đến giờ tốt hoàng đạo mới tiến hành làm thủ tục cho cô dâu bước vào cửa nhà trai. Trước khi cô dâu bước vào cửa nhà trai, đội nhạc kèn làm lễ “vầy chình cha” - “lễ quây nhà gái”. Nghi lễ này có nghĩa là nối vòng tay gắn kết tình cảm đặc biệt giữa cô dâu chú rể, hai bên họ hàng nhà trai nhà gái gắn bó keo sơn mãi mãi. Đây là nước nhận dâu, nhà trai mở đầu bằng câu hát: “Kính mời quý nhân đưa dâu đến/Kết duyên bạn đời với nhà trai/Nhập tổ tiên nối dõi tông đường”. Nhà gái ngay lập tức hát đối lại: “Không khách sáo thành tâm đưa con đến/Mong gia đình nhà trai vui lòng nhận/Hành duyên hạnh phúc trăm năm”…

Những câu hát như thế cứ thế kéo dài ra cho đến khi đón cô dâu bước vào cửa chính đối diện bàn thờ tổ tiên. Cô dâu làm thủ tục lạy tổ tiên, quay ra vái lạy bếp lò… Rồi ra đứng trước cửa chính làm thủ tục lễ kết rượu. Ông Bàn Xuân Triều cho rằng, đó là một nghi thức độc đáo, chỉ có trong lễ cưới của đồng bào Dao đỏ của ông. Đồng bào quan niệm, khi đôi trai gái làm lễ kết rượu xong thì tổ tiên đã chứng giám. Từ đây họ sẽ mãi gắn kết bên nhau, dù khó khăn đến mấy cũng phải vượt qua để xây dựng hạnh phúc vợ chồng keo sơn gắn kết. Chính từ quan niệm này mà từ xa xưa đến nay, đồng bào Dao chúng ông không bao giờ dám ly hôn bởi lời nguyền từ một tập tục riêng có này.

Đã đi qua 70 mùa Xuân, cái tuổi được xem là không còn trẻ nữa, đôi chân đã mòn trên hành trình trong cuộc đời. Nhưng trở về với bản làng của đồng bào dân tộc mình, trong lòng ông Bàn Xuân Triều lại như cháy lên ngọn lửa từ giá trị cội nguồn của dân tộc. Tuy không làm được nhiều, trước một kho tàng di sản của dân tộc mình, nhưng đôi chân của ông vẫn tiếp tục trên hành trình trở về với di sản. Và, không chỉ các thế hệ tổ tiên ông, thế hệ ông, mà lớp trẻ bây giờ còn nhiều người nặng lòng với giá trị văn hóa truyền thống. Điều đó khiến ông tin rằng, dòng chảy văn hóa của dân tộc mình vẫn còn được cháy mãi trong khát vọng bảo tồn văn hóa dân tộc Dao, trong đó có ngành Dao Đỏ trong suốt những năm qua.

L.T.H

Lượt xem:190 Bản in









Các tin đã đăng:
   Đường về bản - Đăng ngày:  22/07/2022
   Cổ tích nơi non ngàn - Đăng ngày:  25/07/2022
   Đất canh nông xưa - Đăng ngày:  20/07/2022
   Khi người lính trở về - Đăng ngày:  22/07/2022
   Dòng sông con gái - Đăng ngày:  04/07/2022
   Ngược nguồn Na Hang - Đăng ngày:  27/06/2022
   Bến đỗ bình yên - Đăng ngày:  07/07/2022
   Trai bản xuống phố - Đăng ngày:  29/06/2022
   Cô gái vùng chè - Đăng ngày:  12/07/2022
   Nỗ lực ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc - Đăng ngày:  20/06/2022

Tổng số: 726 | Trang: 1 trên tổng số 73 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
211

Lượt truy cập:
823.124