Đi tìm điệu Then vút lên
Thứ 6, ngày 30 tháng 7 năm 2021 - 11:24

. TRẦN THỊ NHUNG

Măng Then. Ảnh: Nhật Minh

 

Gặp em vào một buổi chiều hè bên bờ hồ Phan Thiết. Ấn tượng đầu tiên với tôi về em có lẽ là ánh mắt ấm áp ẩn sâu bên đôi lông mày đen như vẽ, dáng hình mảnh mai ăn vận giản đơn, đặc biệt chất giọng khỏe và dứt khoát. Ở em có cái gì đó vừa hoang dã vừa gần gũi thân thương. Tôi tìm đến em với mông lung về hát Then và đàn tính; nhịp á ơi… không biết đã ướp gì mà khiến tôi mê mẩn.

Tên em là Nguyễn Thị Cánh, sinh 1993. Cánh sống trong khu di dân thuộc xã Tân Long, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang. Qua cuộc trao đổi ngắn gọn, sau đó em dành cho tôi mấy buổi tìm hiểu về cây đàn Tính và cách chơi đàn. Năm ngón tay của em như biến hóa trên dây đàn, điệu nghệ mà chuẩn xác. Từng nốt nhạc đệm cứ trầm bổng ngân lên, khi thì réo rắt như tiếng suối nỉ non, lúc lại rộn ràng như tiếng chim hót gọi mùa Xuân; nó mang một âm hưởng rất riêng, rất núi rừng.

Tôi hỏi em, ngoài thừa hưởng gốc gác vốn có của người Tày thì cơ duyên nào đã khơi dậy niềm đam mê của em với hát Then và đàn Tính? Cánh trầm ngâm một lúc rồi thẽ thọt nói như trải lòng: Năm em học lớp 7, trong một lần xem ti vi vô tình được xem chương trình hát then và đàn tính em thích lắm, tự đắc rằng - sao dân tộc mình có nhạc cụ hay như vậy mà giờ mình mới biết. Sự tò mò và thích thú đó đã khiến cho cô bé học cấp hai không ngại ngần đi hỏi khắp nơi về người dạy đàn. Rồi như một định mệnh đưa đẩy, dắt lối, em đã gặp ông Thàm Ngọc Kiến, cũng người Tày sống tại thành phố Tuyên Quang, và trở thành học trò của ông (hiện là một nghệ nhân chuyên chế tác đàn tính, và cũng là thầy dạy đàn). Thầy giỏi trò hay. Sự nhiệt thành và lòng tha thiết đã khiến tiếng đàn Tính tẩu của thầy và trò nhiều lần xuất hiện ở nhiều chương trình giao lưu trong và ngoài tỉnh.

Tôi ấn tượng mãi một lần cùng Cánh tới thăm thầy (phần vì tò mò, phần vì muốn được mục sở thị nơi nghệ nhân ở và làm việc). Vừa dựng xe ở sân, chúng tôi đã gặp ngay một không gian thanh vắng, tĩnh mịch, cửa chính khép hờ, Cánh gọi: Bác Kiến ơi! Không thấy ai trả lời. Em dắt tôi đi lên gác hai rồi chỉ ra ngoài ban công, nơi có cây xoài xum xuê lá ngả mình đỡ mấy giò lan. "Chỗ quen thuộc của thầy em đấy". Sự có mặt của chúng tôi không làm ông ngạc nhiên, ông thủng thẳng nhả cụm từ thân mật: "Cánh đến đấy hả con! Chờ bác một lát". Những dụng cụ cưa, đục, máy cắt… ngổn ngang. Ông dựng tạm cán đàn đang làm dở, trở vào rót cho hai đứa cốc nước. Tôi thực sự choáng ngợp trước căn phòng nhỏ, mà chứa không biết bao nhiêu cây đàn treo ngổn ngang quanh tường. Tất cả đều được ông làm thủ công. Sau một hồi hỏi thăm tình hình công việc, ông với một cây đàn đưa cho Cánh, nói: "Con đàn đi, lâu bác chưa được nghe con đàn!" Cánh đỡ cây đàn, đặt lên đùi làm điểm tựa, một tay nâng cán đàn, tay còn lại đặt phía thân đàn sát quả bầu búng dạo, hát một bài "Tiếng chim khảm khắc" - một bài hát then của người Tày. Trong khoảnh khắc đó tôi đã thấy niềm hoan hỷ trên gương mặt ông. Một đời chế tác đàn, song vẫn mong ngóng được nghe, được cảm nhận hồn cốt chuẩn Then Tày qua học trò của mình. Ánh mắt đùng đục nhìn xa xăm bắt đầu ngân ngấn, có lẽ tiếng đàn làm cho ông nhớ tới một kỷ niệm nào đó chăng? Cũng có thể chỉ đơn giản là tiếng đàn trong quá, lời then da diết quá.

Tình yêu nghệ thuật cứ âm ỉ dìu dắt từng bước em trên con đường học tập. Từ kiến thức thanh nhạc ở trường Văn hóa Nghệ thuật, nặng lòng với Then, em đã kết hợp rất tốt từ Then cổ sang Then mới (một loại Then có phiên bản lời kinh, biến tấu đa nhịp). Ngoài tài thẩm âm thiên phú, được biết đời cụ tổ xa xưa của Cánh cũng đã sử dụng Then và Tính. Đến đời ông bà, bố mẹ thì không còn giữ được nữa. Có thể nói em chính là hậu duệ được thừa hưởng gen di truyền từ dòng tộc. Với sự đam mê chăm chỉ tôi luyện, nhờ vậy mà em cũng không ít lần đứng lớp, truyền dạy lại cho các bạn yêu bản sắc dân tộc mình.

Thời gian người mới học và sử dụng đàn thành thạo được cũng khá lâu. Quả thật không đơn giản như suy nghĩ ban đầu của tôi. Thân đàn được làm chủ yếu từ gỗ keo. Để có âm thanh đanh và bay bổng thì không thể thiếu quả bầu, dây cước. Đàn tính gồm có ba dây: Son, rề, sỏn hoặc hai dây: Son, rề. Bây giờ người ta thường làm ba dây. Khác với guitar thì đàn tính nhẹ, cán đàn nhỏ và dài hơn. Để làm quen với cây đàn này tôi đã mất cả buổi sáng chỉ để học cách búng. Với hiểu biết mù tịt về âm nhạc như tôi thì dờ lần từng nốt nhạc cũng là cả vấn đề. Vậy còn các cụ dân tộc Tày từ xa xưa thì sao nhỉ? Chẳng phải là cũng mày mò truyền dạy từ người này cho người khác sao? Thế mới biết âm nhạc luôn tồn tại và phát triển cùng nhân loại dù ở bất kỳ thời điểm nào. Nó giúp cho con người ta yêu đời hơn, hăng say hơn trong lao động sản xuất.

Ngày nay, khi thế hệ trẻ mải hội nhập với cuộc sống hiện đại thì nhạc cụ dân tộc đã dần mai một đi rất nhiều, thậm chí có nhiều người còn mất luôn cả gốc về tiếng nói, chứ chưa nói tới giá trị món ăn tinh thần này. Thật may cho tôi đã tìm được em, cô gái học Văn hóa Nghệ thuật ra có bao nhiêu thứ hấp dẫn nghề nghiệp mời gọi ngoài kia mà em vẫn yêu Then, giữ được hồn Then của dân tộc mình, được nghe em đàn, hát; nghe em chia sẻ về cuộc sống của người làm nghệ thuật vất vả truân chuyên thế nào. Với mong muốn sẽ mang được bản sắc riêng của dân tộc ra công chúng cũng như trên thế giới. Sự trăn trở luôn canh cánh trong lòng là làm sao, làm thế nào, để khơi dậy đam mê cho các bạn trẻ? Giữ được gốc gác cũng như hồn Then vốn có của cha ông. Cánh dường như không ngần ngại, không tiếc công sức truyền dạy lại khi ai đó muốn học. Với cây đàn trên vai, cô gái nhỏ mang cả thế giới Then len lỏi vào từng ngõ ngách, bản làng, bất cứ nơi nào cô đặt chân tới. Tiếng đàn như khiến bước chân người lên nương nhẹ hơn, cho đôi lứa biết tìm về bên nhau, và tiếng đàn làm cho tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương thêm đậm đà sâu lắng hơn. Ông trời thật không phụ lòng mong mỏi cho những đóng góp của cá nhân em nói riêng và những người yêu Then, gìn giữ và phát triển Then nói chung, cuối năm 2019 UNESCO công nhận “Thực hành Then” là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Nụ cười được chan rải trên khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc của những người ươm cây đến ngày hái quả. Song song với niềm vui, còn đó nỗi niềm đau đáu đưa lại Then vào trong hơi thở cuộc sống thường ngày, để mỗi bạn trẻ đều biết và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc mình.

Một ngày nọ, gác lại mọi chuyện về cơm áo bộn bề, tôi quyết định tìm về ngôi làng sau lưng thành phố. Ngôi làng sẽ cho tôi lời giải đáp về chữ "Nhân".

Vâng, từ thành phố Tuyên Quang chạy theo hướng Bắc không xa, khoảng chừng 10 km tôi đã tới xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Điều đặc biệt là bà con nơi đây chiếm phần nhiều người di dân từ Na Hang xuống. Hệ thống nhà ở được quy hoạch gọn gàng đâu vào đấy. Nhiều nhà dân vẫn giữ nếp nhà sàn theo bản quán cũ, song đã được cách tân ít nhiều. Theo chân Cánh, tôi di chuyển sang bên ngôi nhà sàn gọn gàng thoáng đãng, sàn gỗ chắc chắn. Tôi đưa mắt tìm một hồi không thấy bếp lửa nào cả (bếp được chất củi quanh năm đỏ lửa, điều thường thấy ở bất cứ nhà sàn của đồng bào dân tộc Tày xưa) thay vào đó thì giờ là bếp ga cho thêm phần tiện ích. Phần gian bếp được tách riêng, sàn tre liếp nứa bao quanh. Có chiếc chạn bằng gỗ, vài ba túm ngô treo lủng lẳng, đôi ba con dao, rựa cài trên phên vách. Tất cả đồ vật cũng rất đơn giản, gần gũi.  Mâm cơm được bày ra tươm tất, kèm theo "khẩu hiệu" như một lời mời "Kin khẩu lố": (Ăn cơm thôi). Bà nội của Cánh hơn 80 tuổi liền hỏi tôi: "Kin lẩu lố?" Tôi cứ tròn mắt, mọi người cười, nói: Bà bảo có uống rượu không? Thì ra đàn bà dân tộc Tày ai cũng biết uống rượu. Tôi gật gật rồi ngay lập tức được một cốc kèm theo lời tiếp nối quen thuộc của mọi người trong gia đình "Kin lẩu lố". Tôi cũng lắp bắp "Kin lẩu lố".

Còn nhiều ngôn từ riêng tôi nghe không rõ nhưng vẫn ngầm hiểu mọi người đang dành cho mình sự quan tâm và mến khách. Bữa trưa xong xuôi, bên cửa sổ nhà sàn, gió đồng thổi vào lay phay những hạt mưa xuân. Cánh ôm đàn dạo một bài Then cổ bằng tiếng Tày. Tiếng đàn dìu dặt cùng hương hoa cỏ lâng lâng như ru lòng người. Nhìn em ôm đàn say sưa hát, tôi hình dung em với đàn là một, hay người ta vẫn nói với cụm từ hoa mĩ là tri âm, tri kỷ, hiểu ý và tương trợ nhau.

Trò chuyện với cô Nông Thị Mảy, mẹ ruột của em Cánh thì được biết: Cô sinh năm 1969, gốc người Bắc Mê, Hà Giang, theo chồng về Na Hang, Tuyên Quang cư trú. Năm 2005 thì cả gia đình di dân về xã Tân Long sinh sống.

Vừa nói chuyện với tôi, tay cô vừa thoăn thoắt vót vót chẻ chẻ. Những thanh cật giang bánh tẻ vừa tầm khô ngái, được cắt chặt ngay ngắn và bó từng bó. Mỗi ngày cô thức dậy từ rất sớm, sau khi chuẩn bị bữa sáng cho gia đình rồi lợn gà cám bã, ủ nồi gạo rượu xong là cô lại tay cầm dao, tay cầm cục nến với đống cật giang. Cái giá lạnh của thì cuối Xuân còn lần lựa, không làm cho người đàn bà ngũ tuần này ngần ngại. Vốn là người gốc dân tộc Tày chịu thương chịu khó, ngày tháng đầu về mảnh đất mới này gia đình cô gặp không ít những khó khăn trong việc kiếm kế sinh nhai. Hai vợ chồng cô cùng một mẹ già và bốn đứa con đang tuổi ăn tuổi học. Chồng cô là ông Nguyễn Văn Quận cũng dân tộc Tày, vì không muốn vợ vất vả, mong cho các con được ăn học tử tế mà đã lao tâm đi kiếm việc. Bằng kiến thức đồng rừng của dân tộc mình, ông nhanh chóng ổn định kinh tế gia đình bằng nghề buôn bán nhỏ.

Cô Mảy cũng cho biết, bọn con trai con gái trong làng chúng hoặc đi học có ngành có nghề, hoặc đi làm công nhân, còn lại những người phụ nữ đều ở nhà lo cơm nước cho chồng, chăn nuôi trồng trọt thêm. Thời gian rảnh rỗi họ tập chung làm tăm kiếm thêm thu nhập. Hàng ngày khi chồng và các con đi làm, người đàn bà này lại vác bó giang ngồi bên bậu cửa, vót chẻ, những động tác lặp đi lặp lại nhuần nhuyễn như chiếc máy. Khi tôi hỏi cô có thấy em Cánh hát hay và chơi đàn giỏi không? Cô cười trả lời: "không biết đâu". Nhưng tôi đồ rằng, đó là câu trả lời khiêm tốn, chứ mỗi khi nghe em đàn và hát Then là bà vui lắm. Một cô gái nhỏ bé, giản dị khiêm nhường nhưng dám ấp ủ, khát khao những điều to lớn, hơn hết là tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc mình. Thật đáng khâm phục.

Sau chuyến đi thăm ngôi làng này về tôi đã tìm được chữ "Duyên" tiếp lời giải đáp cho chữ "Nhân". Vâng, "Nhân duyên" mới tạo ra những cuộc gặp gỡ giữa con người với con người trong hàng trăm hàng ngàn vạn con người.

Ra về rồi lời Then vẫn ngân theo từng nhịp "về đây với giai điệu đàn tính ớ ơ…

Réo rắt như tiếng suối ngà­n xa

Tiếng trầm như gió ngàn thổi mãi á ơi...á ơi...!".

T.T.N

Lượt xem:151 Bản in









Các tin đã đăng:
   TỪ TÂN TRÀO HÀNH HƯƠNG VỀ QUÊ BÁC NHẠC VÀ LỜI: ĐINH TIẾN BÌNH - Đăng ngày:  21/05/2020
   Tuyên Quang thành phố của tôi. Nhạc Đinh Tiến Bình, thơ Quang Mịch - Đăng ngày:  16/01/2020
   Tân Trào nhớ Bác. Nhạc và lời Tăng Thình - Đăng ngày:  16/01/2020
   Đường về bản em. Nhạc và lời Tân Điều - Đăng ngày:  16/01/2020
   Mùa thu con về bên Bác. Nhạc: Hoàng Tiên Đình - Đăng ngày:  21/11/2019
   TÂN TRÀO NGÀY MỚI. NHẠC: TÂN ĐIỀU - Đăng ngày:  06/09/2019
   Em đến cùng anh mùa xuân. Nhạc và lời của Đinh Tiến Bình - Đăng ngày:  20/03/2019
   Hạt nắng ban mai - Đăng ngày:  27/01/2019
   Anh ơi về Tuyên Quang - Đăng ngày:  27/01/2019
   Tuyên Quang mùa xuân về. - Đăng ngày:  27/01/2019

Tổng số: 16 | Trang: 1 trên tổng số 2 trang  


Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 09/GPTTĐT-STTTT ngày 02/02/2021 của Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Tuyên Quang
Chịu trách nhiệm: Đinh Công Thủy - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang - Điện thoại: 02073 823 508
Trụ sở: Số 215, đường Tân Trào, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Điện thoại: 02073 822 392 - Email: baotantraotq@gmail.com
@ Bản quyền thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online:
22

Lượt truy cập:
702.128